CHƯƠNG
3
VŨ
TRỤ BÀNH TRƯỚNG
Nếu
có một đêm trời trong, không trăng, ngước lên ngó trời
sao, những vật thể sáng nhất mà người ta nhìn thấy thường
là những hành tinh như Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh và Thổ
Tinh. Cũng còn có một con số lớn lao những vì sao, giống
như mặt trời chúng ta, nhưng cách xa chúng ta hơn nhiều. Một
số các ngôi sao cố định này quả thật có vẻ như thay đổi
vị trí của chúng rất ít so với nhau trong khi địa cầu quay
chung quanh mặt trời: chúng thực ra không phải là cố định!
Đây là vì chúng tương đối ở gần chúng ta. Khi địa cầu
quay chung quanh mặt trời, chúng ta nhìn chúng từ những vị
trí khác trên nền của những ngôi sao nằm xa hơn. Đây là
điều may mắn, bởi vì nó giúp chúng ta có thể trực tiếp
đo đạc khoảng cách giữa chúng ta và những ngôi sao này:
chúng càng ở gần, chúng càng có vẻ di chuyển. Ngôi sao gần
nhất, gọi là Proxima Centauri, được biết nằm cách chúng
ta khoảng bốn năm ánh sáng, (ánh sáng từ nó phát ra tốn
khoảng bốn năm mới tới địa cầu), hoặc vào khoảng 23
triệu triệu dặm Anh. Hầu hết những ngôi sao khác nhìn được
bằng mắt trần nằm trong khoảng vài trăm năm ánh sáng. Để
so sánh, mặt trời của chúng ta chỉ cách có 8 phút ánh sáng!
Những ngôi sao nhìn thấy được có vẻ trải rộng khắp bầu
trời ban đêm, nhưng đặc biệt tập trung vào một dải màø
chúng ta gọi là Dải Ngân Hà. Trước đây vào năm 1750, vài
nhà thiên văn học cho rằng hình dạng của Dải Ngân Hà có
thể được giải thích nếu phần lớn các ngôi sao nhìn thấy
được nằm trong một hình thể duy nhất giống cái đĩa, một
thí dụ của những gì mà hiện giờ chúng ta gọi là một
thiên hà hình xoắn ốc. Chỉ một vài thập niên sau, nhà thiên
văn học Sir William Herschel đã xác nhận quan niệm của ông
bằng cách phân loại một cách tỉ mỉ các vị trí và khoảng
cách của một con số lớn lao các ngôi sao. Mặc dù vậy, quan
niệm này chỉ được hoàn toàn chấp nhận vào đầu thế
kỷ này.
Hình
ảnh mới của chúng ta về vũ trụ mãi đến năm 1924 mới
ra đời, khi nhà thiên văn học người Mỹ là Edwin Hubble chứng
minh rằng thiên hà của chúng ta không phải là thiên hà duy
nhất. Quả thật còn có nhiều thiên hà khác, với những khoảng
không gian trống rỗng rộng lớn ở giữa chúng. Để chứng
minh điều này, ông cần phải xác định khoảng cách tới
những thiên hà này, nằm ở xa đến độ, không như những
ngôi sao ở gần, chúng quả thật có vẻ cố định. Do đó
Hubble đã phải sử dụng những phương pháp gián tiếp để
đo những khoảng cách này. Độ sáng biểu kiến của một
ngôi sao tùy thuộc vào hai yếu tố: nó phát ra bao nhiêu ánh
sáng, và nó cách chúng ta bao xa. Đối với những ngôi sao ở
gần, chúng ta có thể đo độ sáng biểu kiến của chúng và
khoảng cách của chúng, và do đó chúng ta có thể suy ra độ
sáng đích thực của chúng. Ngược loại, nếu chúng ta biết
độ sáng của các ngôi sao trong những thiên hà khác, chúng
ta có thể tính ra khoảng cách của chúng bằng cách đo độ
sáng biểu kiến của chúng. Hubble đã ghi nhận rằng một số
loại ngôi sao luôn luôn có cùng một độ sáng khi chúng đủ
gần để chúng ta đo, do đó, ông lý luận, nếu chúng ta tìm
thấy những ngôi sao như vậy trong một thiên hà khác, chúng
ta có thể giả định rằng chúng có cùng độ sáng – và
do đó đo được khoảng cách tới thiên hà đó. Nếu chúng
ta có thể làm như vậy đối với một số ngôi sao trong cùng
thiên hà, và những tính toán của chúng ta luôn luôn cho cùng
một khoảng cách, chúng ta có thể khá tin tưởng vào sự ước
tính của mình.
Theo
phương pháp này, Edwin Hubble đã tính ra những khoảng cách
tới chín thiên hà khác nhau. Chúng ta biết rằng thiên hà của
chúng ta chỉ là một trong số vài trăm ngàn triệu thiên hà
có thể nhìn thấy bằng cách sử dụng các viễn vọng kính
tối tân, mỗi thiên hà chính nó lại chứa vài trăm ngàn triệu
ngôi sao. Hình 3.1 cho thấy hình ảnh của một thiên hà xoắn
ốc tương tự như những gì chúng ta nghĩ phải giống như
thiên hà của chúng ta đối với người sống trong một thiên
hà khác. Chúng ta sống trong một thiên hà chiều ngang vào khoảng
một trăm ngàn năm ánh sáng và đang quay một cách chậm chạp;
các ngôi sao trong các cánh tay trôn ốc quay quanh trung tâm của
nó khoảng một vòng mỗi vài trăm triệu năm. Mặt trời của
chúng ta cũng chỉ là một ngôi sao bình thường, cỡ trung bình,
mầu vàng, nằm gần mép trong của một trong những cánh tay
trôn ốc. Với những khám phá này, chúng ta đã tiến được
một quãng đường dài kể từ thời Aristotle và Ptolemy, khi
chúng ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ!
Những
ngôi sao ở xa đến độ đối với chúng ta chúng có vẻ như
chỉ là những chấm sáng. Chúng ta không thể nhìn thấy cỡ
hoặc hình thể của chúng. Vậy thì làm sao chúng ta có thể
phân biệt những loại ngôi sao khác nhau? Đối với đa số
lớn lao các ngôi sao, chỉ có một đặc tính chính mà chúng
ta có thể quan sát được: màu sắc ánh sáng của chúng. Newton
đã khám phá rằng nếu ánh sáng từ mặt trời đi qua một
khối thủy tinh hình tam giác, gọi là lăng kính, nó sẽ phân
giải thành những mầu thành phần (quang phổ của nó) như
trong một cầu vồng. Bằng cách nhắm một viễn vọng kính
vào một ngôi sao riêng rẽ hoặc thiên hà, người ta có thể
quan sát một cách tương tự quang phổ của ánh sáng từ ngôi
sao hay thiên hà đó. Những ngôi sao khác nhau có quang phổ khác
nhau, nhưng độ sáng tương đối của những màu khác nhau thì
luôn luôn đúng như những gì mà người ta sẽ trông đợi
tìm thấy trong ánh sáng phát ra bởi bất cứ vật thể nóng
đỏ phát sáng nào. (Thật vậy, ánh sáng phát ra bởi bất
cứ vật thể mờ đục nào nóng đỏ phát sáng cũng có một
quang phổ đặc trưng chỉ tùy thuộc vào nhiệt độ của nó
– nhiệt phổ. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể phân
biệt nhiệt độ của ngôi sao nhờ quang phổ của nó.) Hơn
nữa, chúng ta thấy rằng một số màu đặc biệt không có
ở những quang phổ của các ngôi sao, và những màu thiếu
này có thể thay đổi giữa ngôi sao này với ngôi sao khác.
Bởi vì chúng ta biết rằng mỗi nguyên tố hóa học hấp thụ
một bộ đặc trưng các màu sắc rất đặc biệt, bằng cách
so sánh những màu sắc bị thiếu vắng trong quang phổ của
một ngôi sao, chúng ta có thể xác định các nguyên tố hóa
học nào hiện diện ở bầu khí quyển của ngôi sao đó.
Vào
thập niên 1920, khi các nhà thiên văn bắt đầu quan sát quang
phổ của các ngôi sao trong những thiên hà khác, họ khám phá
hiện tượng lạ thường nhất: có cùng những bộ đặc trưng
các màu bị thiếu vắng như đối với những ngôi sao trong
chính thiên hà của chúng ta, nhưng chúng tất cả đều được
chuyển với cùng số lượng tương đối về phía đầu đỏ
của quang phổ. Để hiểu hàm ý của sự kiện này, trước
hết chúng ta phải hiểu hiệu ứng Doppler. Như chúng ta đã
thấy, ánh sáng nhìn thấy được bao gồm những dao động,
hay sóng, trong điện từ trường. Tần số (hay số sóng mỗi
giây) của ánh sáng cực kỳ cao, từ bốn đến bảy trăm triệu
triệu sóng mỗi giây. Những tần số khác nhau của ánh sáng
khiến mắt người nhìn thấy những màu khác nhau, với những
tần số thấp nhất hiện ra ở đầu đỏ của quang phổ và
những tần số cao nhất ở đầu xanh. Bây giờ hãy tưởng
tượng một nguồn sáng cách chúng ta một khoảng cách không
đổi, như một ngôi sao, phát ra những sóng ánh sáng ở một
tần số không đổi. Hiển nhiên tần số của những sóng
mà chúng ta nhận được sẽ giống tần số mà chúng phát
ra (trọng trường của thiên hà sẽ không đủ lớn để có
một hậu quả đáng kể). Giả sử rằng bây giờ nguồn sáng
bắt đầu di chuyển về phía chúng ta. Khi nguồn sáng phát
ra đỉnh sóng kế tiếp nó sẽ ở gần chúng ta hơn, do đó
thời gian mà đỉnh sóng cần để đạt tới chúng ta sẽ ít
hơn là khi ngôi sao đứng yên. Điều này có nghĩa là thời
gian giữa hai đỉnh sóng tới chúng ta nhỏ hơn, và do đó con
số các sóng chúng ta nhận được mỗi giây (tức tần số)
cao hơn so với khi ngôi sao đứng yên. Cũng vậy, nếu nguồn
sáng di chuyển ra xa chúng ta, tần số các sóng chúng ta nhận
được sẽ thấp hơn. Do đó trong trường hợp ánh sáng, điều
này có nghĩa là những ngôi sao di chuyển ra xa chúng ta sẽ
có các quang phổ của chúng chuyển về phía đầu đỏ của
quang phổ và những ngôi sao di chuyển về phía chúng ta sẽ
có quang phổ của chúng chuyển về đầu xanh. Mối liên hệ
này giữa tần số và tốc độ, gọi là hiệu ứng Doppler,
là một kinh nghiệm hàng ngày. Hãy nghe tiếng xe chạy qua trên
đường: khi chiếc xe tiến gần tới, tiếng máy xe của nó
ở một âm vực cao (phù hợp với một tần số cao của sóng
âm thanh), và khi nó chạy qua và đi xa, âm thanh của nó ở
một âm vực thấp. Động thái của ánh sáng hoặc sóng vô
tuyến cũng tương tự như thế. Thật vậy, cảnh sát lợi
dụng hiệu ứng Doppler để đo tốc độ xe hơi bằng cách
đo tần số của các xung sóng vô tuyến dội từ chúng trở
lại.
Trong
những năm sau khi khám phá bằng chứng của ông về sự hiện
hữu của những thiên hà khác, Hubble đã bỏ ra thời gian để
phân loại khoảng cách của chúng và quan sát các quang phổ
của chúng. Vào lúc đó hầu hết mọi người đều cho rằng
các thiên hà di chuyển vòng quanh hầu như tình cờ, và do đó
người ta trông đợi tìm thấy quang phổ chuyển hướng xanh
cũng nhiều như quang phổ chuyển hướng đỏ. Do đó quả là
một điều ngạc nhiên khi thấy rằng hầu hết các thiên hà
có vẻ chuyển về phía đỏ: gần như tất cả đều di chuyển
ra xa chúng ta! Điều ngạc nhiên hơn nữa là kết luận mà
Hubble công bố vào năm 1929: ngay cả cỡ của sự chuyển hướng
về phía đỏ của một thiên hà cũng không phải là tình cờ,
mà tỉ lệ thuận với khoảng cách của thiên hà đối với
chúng ta. Hoặc, nói một cách khác, thiên hà càng ở xa, nó
càng di chuyển ra xa nhanh hơn! Và điều đó có nghĩa là vũ
trụ có thể không ở trạng thái tĩnh, như mọi người trước
đây đã tưởng, nhưng thực ra đang bành trường; khoảng cách
giữa các thiên hà khác nhau đang gia tăng thường trực.
Phát
hiện rằng vũ trụ đang bành trướng là một trong những cuộc
cách mạng trí tuệ vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Bây giờ
nghĩ lại, thật dễ dàng tự hỏi tại sao không có ai trước
kia đã nghĩ tới chuyện đó. Newton, và những người khác,
chắc hẳn đã nhận thấy rằng một vũ trụ tĩnh chẳng bao
lâu sẽ bắt đầu co rút lại dưới ảnh hưởng của trọng
lực. Nhưng thay vào đó giả sử vũ trụ đang bành trướng.
Nếu nó bành trướng một cách khá chậm chạp, lực hấp dẫn
sẽ khiến cuối cùng nó ngưng bành trướng và rồi khởi sự
co rút. Tuy nhiên, nếu nó bành trướng ở một nhịp độ lớn
hơn một nhịp độ tới hạn nào đó, hấp lực sẽ không
bao giờ đủ mạnh để chặn đứng nó lại, và vũ trụ sẽ
tiếp tục bành trướng mãi mãi. Điều này cũng hơi giống
như những gì xảy ra khi khai hỏa một hỏa tiễn từ mặt
đất lên phía trên. Nếu nó có một tốc độ tương đối
chậm, trọng lực cuối cùng sẽ hãm hỏa tiễn lại và nó
sẽ khởi sự rơi xuống. Mặt khác, nếu hỏa tiễn có một
tốc độ lớn hơn một tốc độ tới hạn* nào đó (khoảng
7 dặm mỗi giây), trọng lực sẽ không đủ mạnh để kéo
nó lại, do đó nó sẽ cứ đi xa khỏi trái đất mãi mãi.
Động thái này của vũ trụ lẽ ra đã có thể tiên đoán
từ thuyết hấp dẫn của Newton ở bất cứ lúc nào trong thế
kỷ mười chín, mười tám, hoặc ngay cả vào cuối thế kỷ
mười bảy. Vậy mà niềm tin vào một vũ trụ tĩnh vẫn mạnh
đến độ nó tồn tại cho mãi tới đầu thế kỷ hai mươi.
Ngay cả Einstein, khi hình thành thuyết tương đối tổng quát
vào năm 1915, vẫn tin chắc rằng vũ trụ phải ở trạng thái
tĩnh đến độ ông đã cải tiến lý thuyết của ông để
làm cho điều này có thể được, khi đưa một cái gọi là
hằng số vũ trụ vào các phương trình của ông. Einstein đã
đưa ra một lực "phản trọng lực" mới, không giống như
các lực khác, đã không tới từ bất cứ nguồn đặc biệt
nào, nhưng được xây dựng vào chính cấu tạo của không-thời
gian. Ông đã nói rằng không-thời gian có một khuynh hướng
nội tại để bành trướng, và điều này có thể được
thực hiện để cân bằng sự hấp dẫn của mọi vật chất
trong vũ trụ, do đó đưa tới một vũ trụ tĩnh. Chỉ có một
người, hình như vậy, muốn thừa nhận giá trị bề ngoài
của thuyết tương đối tổng quát, và trong khi Einstein và
những vật lý gia khác tìm cách tránh sự tiên đoán một vũ
trụ không ở trạng thái tĩnh, nhà vật lý kiêm toán học
gia người Nga Alexander Friedmann lại khởi sự giải thích nó.
Friedmann
đưa ra hai giả định rất đơn giản về vũ trụ: rằng vũ
trụ trông giống như nhau ở mọi hướng mà chúng ta nhìn,
và rằng điều này cũng sẽ đúng nếu chúng ta quan sát vũ
trụ từ bất cứ nơi nào khác. Từ hai ý tưởng này, Friedmann
đã chứng tỏ rằng chúng ta không nên trông mong vũ trụ ở
trạng thái tĩnh. Thật vậy, trong năm 1922, vài năm trước
cuộc khám phá của Edwin Hubble, Friedmann đã tiên đoán đúng
như những gì Hubble đã tìm thấy!
Giả
thuyết rằng vũ trụ trông như nhau ở mọi hướng thoạt tiên
có vẻ không đúng. Chẳng hạn, như chúng ta đã thấy, những
ngôi sao khác trong thiên hà của chúng ta hình thành một dải
ánh sáng rõ rệt bắc ngang bầu trời ban đêm, gọi là Dải
Ngân Hà. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những thiên hà ở xa,
có vẻ như ít nhiều chúng có cùng con số. Do đó vũ trụ
quả hình như giống nhau ở mọi hướng, với điều kiện
người ta quan sát nó trên một tầm mức lớn so với khoảng
cách giữa các thiên hà, và bỏ qua những khác biệt ở tầm
mức nhỏ. Trong một thời gian dài, điều này đủ để biện
minh cho giả định của Friedmann – như là một lượng định
gần đúng với vũ trụ thực tế. Nhưng gần đây hơn, một
tình cờ may mắn đã khám phá ra sự kiện rằng giả định
của Friedman quả thật là một sự mô tả vụ trụ của chúng
ta chính xác một cách đáng kinh ngạc.
Năm
1965, hai vật lý gia người Mỹ ở các phòng thí nghiệm Bell
Telephone ở New Jersey, Arno Penzias và Robert Wilson, đã thử nghiệm
một máy dò sóng cực ngắn rất nhạy. (Các sóng cực ngắn
cũng giống như sóng ánh sáng, nhưng với một tần số ở
mức chỉ khoảng mười ngàn triệu sóng mỗi giây.) Penzias
và Wilson đã lưu ý khi họ thấy rằng máy dò của họ thu
được nhiều nhiễu âm hơn bình thường. Nhiễu âm có vẻ
như không tới từ bất cứ phương hướng đặc biệt nào.
Đầu tiên họ đã khám phá ra phân chim trong máy dò của họ
và đã kiểm tra để tìm những trục trặc có thể có khác,
nhưng rồi loại bỏ những khả dĩ này. Họ biết rằng bất
cứ nhiễu âm nào tới từ bên trong bầu khí quyển cũng sẽ
mạnh hơn khi máy dò không hướng thẳng lên trên, bởi vì
tia sáng đi qua nhiều không khí hơn khi nhận được từ gần
chân trời so với khi tới từ ngay trên đỉnh đầu. Nhiễu
âm bất thường này giống nhau dù máy dò hướng về phía
nào, do đó nó phải tới từ bên ngoài bầu khí quyển. Nó
cũng không đổi dù ngày hay đêm và trong suốt cả năm, mặc
dù trái đất quay quanh trục của nó và quay quanh mặt trời.
Điều này chứng tỏ bức xạ phải tới từ ngoài Thái Dương
Hệ, và ngay cả từ bên ngoài thiên hà, nếu không nó sẽ
thay đổi khi chuyển động của trái đất làm máy dò chuyển
tới các hướng khác. Thật vậy, chúng ta biết rằng bức
xạ đã phải di chuyển tới chúng ta xuyên qua hầu hết vũ
trụ có thể quan sát được, và bởi vì nó hình như không
thay đổi ở mọi hướng khác nhau, vũ trụ cũng phải giống
như vậy ở mọi hướng, nếu như trên một tầm cỡ lớn.
Chúng ta bây giờ biết rằng dù chúng ta nhìn về hướng nào,
nhiễu âm cũng không thay đổi quá một phần mười ngàn –
do đó Penzias và Wilson đã tình cờ tìm được một sự xác
nhận khá chính xác giả định thứ nhất của Friedmann.
Gần
như đồng thời, hai vật lý gia người Mỹ tại trường đại
học Princeton ở gần đó, Bob Dicke và Jim Peebles, cũng đang
chú ý tới những sóng cực ngắn. Họ đang nghiên cứu một
đề xuất, được đưa ra bởi George Gamow (từng là một học
trò của Alexander Friedmann), rằng vũ trụ thuở đầu phải
rất nóng và dầy đặc, sáng trắng. Dicke và Peebles lý luận
rằng chúng ta vẫn có thể nhìn tia sáng của vũ trụ thuở
ban đầu, bởi vì ánh sáng từ những phần rất xa xôi của
nó mãi bây giờ mới tới chúng ta. Tuy nhiên, sự bành trướng
của vũ trụ có nghĩa là ánh sáng này phải chuyển đỏ nhiều
đến độ đối với chúng ta nó hiện ra như bức xạ cực
ngắn. Dicke và Peebles đang sửa soạn tìm kiếm sự bức xạ
này thì Penzias và Wilson nghe nói về công việc của họ và
biết rằng họ đã tìm được nó. Nhờ chuyện này, Penzias
và Wilson đã được tặng giải Nobel trong năm 1978 (có vẻ
hơi bất công đối với Dicke và Peebles, đấy là chưa kể
Gamow!)
Bây
giờ thoạt nhìn, bằng chứng rằng vũ trụ trông như nhau dù
chúng ta nhìn về hướng nào có vẻ ngụ ý có một cái gì
đặc biệt về vị trí của chúng ta trong vũ trụ. Đặc biệt,
có vẻ rằng nếu chúng ta thấy mọi thiên hà khác đang di
chuyển ra xa chúng ta, như vậy chúng ta phải ở trung tâm của
vũ trụ. Tuy nhiên, có một sự giải thích khác: vũ trụ có
thể cũng nhìn như nhau ở mọi hướng khi được nhìn từ
một thiên hà khác. Điều này, như chúng ta đã thấy, là giả
định thứ nhì của Friedmann. Chúng ta không có bằng chứng
khoa học để bênh vực, hay chống đối giả định này. Chúng
ta tin nó căn cứ vào sự khiêm tốn: thật là bất thường
nếu vũ trụ nhìn như nhau trong mọi hướng chung quanh chúng
ta, mà không phải chung quanh những điểm khác trong vũ trụ!
Trong mô hình của Friedmann, mọi thiên hà đang di chuyển rời
xa nhau. Tình trạng hơi giống như một quả bóng với một
số các chấm được vẽ trên đó đang được bơm lên. Khi
quả bóng phồng lên, khoảng cách giữa bất cứ hai chấm nào
cũng tăng lên, nhưng không có chấm nào có thể được nói
là trung tâm của sự trương nở. Hơn nữa hai chấm càng nằm
xa nhau, chúng di chuyển xa nhau càng nhanh. Tương tự, trong mô
hình của Friedmann tốc độ mà bất cứ hai thiên hà nào di
chuyển xa nhau cũng tỉ lệ thuận với khoảng cách giữa chúng
với nhau. Do đó nó đã tiên đoán rằng sự chuyển dịch về
phía mầu đỏ của một thiên hà phải tỉ lệ thuận với
khoảng cách của nó với chúng ta, đúng như Hubble đã tìm
thấy. Mặc dù sự thành công của mô hình của ông và sự
tiên đoán của ông về những quan sát của Hubble, công trình
của Friedmann vẫn không được nhiều người biết tới ở
Tây phương cho tới khi những mô hình tương tự được khám
phá năm 1935 bởi vật lý gia người Mỹ Howard Robertson và toán
học gia người Anh Arthur Walker, để đáp lại sự khám phá
của Hubble về sự bành trướng đồng đều của vũ trụ.
Mặc
dù Friedmann chỉ tìm thấy một mô hình, thực ra có ba loại
mô hình theo như hai giả định căn bản của ông Trong loại
thứ nhất (mà Friedmann đã tìm thấy) vũ trụ đang dãn nở
đủ chậm chạp để lực hấp dẫn giữa hai thiên hà khác
nhau khiến sự bành trướng chậm lại và cuối cùng ngừng
hẳn. Các thiên hà khi đó sẽ di chuyển về phía nhau và vũ
trụ co rút lại. Hình 3.2 cho thấy khoảng cách giữa hai thiên
hà lân cận thay đổi như thế nào khi thời gian tăng lên.
Nó bắt đầu ở số không, tăng lên một mức tối đa, và
rồi giảm tới số không một lần nữa. Trong giải đáp loại
thứ nhì, vũ trụ đang bành trướng nhanh chóng đến độ lực
hấp dẫn không thể hãm nó lại, mặc dù nó có làm chậm
lại một chút. Hình 3.3 cho thấy sự tách ly giữa các thiên
hà lân cận trong mô hình này. Nó bắt đầu từ số không
và cuối cùng các thiên hà di chuyển xa nhau với một tốc
độ đều đặn. Cuối cùng, có một loại giải đáp thứ
ba, trong đó vũ trụ bành trướng chỉ đủ nhanh để tránh
suy sụp trở lại. Trong trường hợp này sự tách ly, được
trình bày trong hình 3.4, cũng bắt đầu ở số không và gia
tăng mãi mãi. Tuy nhiên, tốc độ mà các thiên hà di chuyển
xa nhau càng ngày càng giảm đi, mặc dù nó không bao giờ đạt
tới số không.
Một
đặc tính đáng chú ý của loại mô hình thứ nhất của Friedmann
là trong đó vũ trụ không phải là vô hạn về không gian,
nhưng không gian cũng không có biên giới nào cả. Trọng lực
mạnh đến độ không gian bị uốn cong thành hình tròn trên
chính nó, khiến nó hơi giống như bề mặt của trái đất.
Nếu người ta cứ đi mãi theo một hướng nào đó trên mặt
đất, người ta sẽ không bao giờ gặp một cản trở nào
không thể vượt qua được hoặc rơi xuống rìa, nhưng cuối
cùng sẽ trở lại nơi khởi hành. Trong mô hình thứ nhất
của Friedmann, không gian giống như vậy, nhưng với ba chiều
thay vì hai chiều như bề mặt trái đất. Chiều thứ tư, thời
gian, cũng có tính cách hữu hạn, nhưng nó giống như một
dòng kẻ với hai đầu hoặc giới hạn, một khởi thủy và
một chung cuộc. Sau này chúng ta sẽ thấy rằng khi người
ta phối hợp thuyết tương đối tổng quát với nguyên tắc
bất định của cơ học lượng tử, có thể cả không gian
và thời gian sẽ hữu hạn mà không có bờ hoặc biên giới.
Quan
niệm rằng người ta có thể đi thẳng vòng quanh vũ trụ và
cuối cùng trở lại nơi người ta khởi hành là chuyện khoa
học giả tưởng hấp dẫn, nhưng nó không có ý nghĩa thực
tế, bởi vì nó có thể chứng tỏ rằng vũ trụ sẽ lại
suy sụp thành cỡ số không trước khi người ta có thể đi
vòng quanh. Bạn cần di chuyển nhanh hơn ánh sáng để cuối
cùng tới nơi mà bạn đã khởi hành trước khi vũ trụ đi
tới một chung cuộc – và điều đó không được phép!
Trong
loại mô hình thứ nhất của Friedmann, nó bành trướng và
suy sụp trở lại, không gian tự uốn cong vào phía trong, giống
như bề mặt của trái đất. Do đó nó có tầm mức giới
hạn. Trong loại mô hình thứ hai, nó bành trướng mãi mãi,
không gian uốn cong theo chiều ngược lại, như bề mặt của
một cái yên ngựa. Do đó trong trường hợp này không gian
là vô hạn. Cuối cùng, trong loại mô hình thứ ba của Friedmann,
với mức độ bành trướng chỉ ở mức cần thiết, không
gian phẳng (và do đó cũng vô hạn).
Nhưng
mô hình nào của Friedmann mô tả vũ trụ của chúng ta? Liệu
vũ trụ cuối cùng sẽ ngưng bành trướng và khởi sự co rút
hay nó sẽ bành trướng mãi mãi? Để trả lời câu hỏi này
chúng ta cần phải biết mức độ bành trướng hiện nay của
vũ trụ và mật độ trung bình hiện nay của nó. Nếu mật
độ của nó nhỏ hơn một giá trị tới hạn nào đó, xác
định bởi nhịp độ bành trướng, lực hấp dẫn sẽ quá
yếu để ngưng việc bành trướng. Nếu mật độ lớn hơn
giá trị tới hạn, trọng lực sẽ ngưng sự bành trướng
ở một thời điểm nào đó trong tương lai và khiến vũ trụ
sụp đổ trở lại.
Chúng
ta có thể xác định nhịp bành trướng hiện nay bằng cách
đo các tốc độ mà những thiên hà khác đang di chuyển ra
xa khỏi chúng ta, bằng cách dùng hiệu ứng Doppler. Điều này
có thể được thực hiện một cách rất chính xác. Tuy nhiên,
những khoảng cách tới các thiên hà không được biết rõ
lắm bởi vì chúng ta chỉ có thể đo chúng một cách gián
tiếp. Do đó tất cả những gì chúng ta biết là vũ trụ đang
bành trướng khoảng từ 5% đến 10% mỗi ngàn năm. Tuy nhiên,
sự không chắc chắn của chúng ta về mật độ trung bình
hiện nay của vũ trụ còn lớn lao hơn. Nếu chúng ta cộng
thêm các khối lượng của mọi ngôi sao mà chúng ta có thể
nhìn thấy trong thiên hà của chúng ta và những thiên hà khác,
tổng số kém khoảng một phần trăm khối lượng cần thiết
để chận đứng việc bành trướng của vũ trụ, dù đối
với sự ước lượng thấp nhất về nhịp độ bành trướng.
Tuy nhiên, thiên hà của chúng ta và các thiên hà khác phải
chứa một lượng lớn "chất tối" ("dark matter") mà chúng ta
không thể nhìn một cách trực tiếp, nhưng chúng ta biết nó
hiện diện bởi vì ảnh hưởng về lực hấp dẫn của nó
đối với các quỹ đạo của các ngôi sao trong các thiên hà.
Hơn nữa, hầu hết các thiên hà đều tụ lại thành chùm,
và chúng ta có thể lý luận tương tự là còn có sự hiện
diện của nhiều chất tối nằm xen giữa các thiên hà trong
những chùm này do các hậu quả của nó đối với sự chuyển
động của các thiên hà. Khi chúng ta cộng thêm tất cả chất
tối này, chúng ta vẫn chỉ được vào khoảng một phần mười
số lượng cần thiết để hãm sự bành trướng. Tuy nhiên,
chúng ta không thể loại trừ khả thể rằng có thể có một
hình thức vật chất nào khác, được phân bố hầu như đồng
đều trong khắp vũ trụ, mà chúng ta chưa khám phá ra được
và nó có thể nâng mật độ trung bình của vũ trụ lên tới
một giá trị tới hạn cần thiết để hãm sự bành trướng.
Do đó bằng chứng hiện nay cho thấy rằng vũ trụ sẽ có
thể bành trướng mãi mãi, nhưng tất cả những gì mà chúng
ta có thể thực sự quả quyết là ngay cả nếu vũ trụ sẽ
suy sụp trở lại, nó sẽ không xảy ra ít nhất mười ngàn
triệu năm nữa, bởi vì nó đã bành trướng trong ít nhất
thời gian dài như vậy. Điều này không nên gây lo lắng cho
chúng ta một cách quá đáng: vào lúc đó, trừ phi chúng ta
đã di cư ra ngoài Thái Dương Hệ, nhân loại khi đó đã chết
dần mòn từ lâu, bị tiêu diệt cùng với mặt trời của
chúng ta!
Mọi
giải đáp của Friedmann có đặc điểm là ở vào một lúc
nào đó trong quá khứ (giữa mười và hai mươi ngàn triệu
năm về trước) khoảng cách giữa những thiên hà lân cận
phải là số không. Vào lúc đó, lúc mà chúng ta gọi là vụ
nổ lớn, mật độ của vũ trụ và độ cong của không-thời
gian đã lớn vô hạn. Bởi vì toán học không thể thực sự
đảm đương những con số vô hạn, điều này có nghĩa là
thuyết tương đối tổng quát (mà các giải đáp của Friedmann
căn cứ vào đó) tiên đoán rằng có một điểm trong vũ trụ
nơi lý thuyết tự nó đổ vỡ. Một điểm như vậy là một
thí dụ của điều mà những nhà toán học gọi là một nhất
thể (singularity). Thật vậy, mọi lý thuyết khoa học của
chúng ta được hình thành trên sự giả định rằng không-thời
gian trơn tru và gần như phẳng, do đó những thuyết này tan
vỡ ở lúc nhất thể nổ lớn, nơi độ cong của không-thời
gian là vô tận. Điều này có nghĩa là cho dù có những biến
cố trước vụ nổ lớn, người ta không thể dùng chúng để
xác định những gì đã xảy ra sau đó, bởi vì khả năng
tiên đoán sẽ sụp đổ vào lúc nổ lớn. Do đó, nếu chúng
ta chỉ biết những gì đã xảy ra kể từ vụ nổ lớn, chúng
ta không thể xác định được những gì xảy ra trước đó.
Đối với chúng ta, những biến cố trước vụ nổ lớn có
thể không có hậu quả gì, do đó chúng không đóng vai trò
gì trong mô hình khoa học của vũ trụ. Do đó, chúng ta phải
loại chúng ra khỏi mô hình và nói rằng thời gian đã có
một khởi đầu vào lúc vụ nổ lớn.
Nhiều
người không thích ý tưởng thời gian có một khởi đầu,
có thể vì nó có vẻ như có sự can thiệp của thần linh.
(Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La-Mã, mặt khác, đã chụp lấy
mô hình nổ lớn và trong năm 1951 đã chính thức tuyên bố
nó như là phù hợp với Thánh Kinh.) Do đó có một số cố
gắng để tránh kết luận rằng đã có một vụ nổ lớn.
Đề nghị được sự ủng hộ rộng rãi nhất đã được
gọi là thuyết trạng ổn cố (steady state theory). Nó đã được
đưa ra vào năm 1948 bởi hai người tị nạn từ nước Áo
bị Quốc Xã chiếm đóng, Hermann Bondi và Thomas Gold, cùng với
một người Anh, Fred Hoyle, người đã làm việc với họ trong
việc phát triển radar trong thời chiến tranh. Ý tưởng này
cho rằng khi các thiên hà di chuyển rời xa nhau, những thiên
hà mới đã liên tục hình thành ở những khoảng cách ở
giữa, từ vật chất mới liên tục được tạo ra. Vũ trụ
do đó sẽ trông có vẻ như cũ ở mọi lúc cũng như ở mọi
điểm của không gian. Thuyết trạng thái ổn cố đòi hỏi
một sự cải tiến thuyết tương đối tổng quát để cho
phép sự tạo ra liên tục vật chất, nhưng nhịp độ chậm
chạp (khoảng một phần tử mỗi kilômét khối mỗi năm) để
cho nó không trái ngược với thực nghiệm. Lý thuyết này
đã là một lý thuyết khoa học tốt, theo cái nghĩa đã được
mô tả trong chương 1: nó giản dị và nó thực hiện những
tiên đoán rõ rệt có thể được chứng thực bởi sự quan
sát. Một trong những tiên đoán này là con số các thiên hà
hoặc những vật thể tương tự trong bất cứ khối không
gian được lựa chọn nào cũng giống nhau dù chúng ta nhìn
vào vũ trụ bất cứ lúc nào và từ nơi nào. Vào cuối thập
niên 1950 và đầu thập niên 1960, một cuộc khảo sát các
nguồn sóng vô tuyến từ ngoại tầng không gian đã được
thực hiện tại Cambridge bởi một nhóm các nhà thiên văn cầm
đầu bởi Martin Ryle (người đã làm việc với Bondi, Gold,
và Hoyle về radar trong chiến tranh). Toán Cambridge đã chứng
tỏ rằng hầu hết các nguồn sóng vô tuyến này phải nằm
bên ngoài thiên hà của chúng ta (quả thật nhiều trong số
những nguồn đó có thể được nhận diện với các thiên
hà khác) và còn chứng tỏ rằng có nhiều nguồn yếu hơn
là những nguồn mạnh. Họ đã giải thích những nguồn yếu
như là những nguồn ở xa hơn, và những nguồn mạnh hơn thì
ở gần hơn. Rồi hình như có những nguồn ít thấy hơn ở
mỗi đơn vị khối không gian đối với những nguồn ở gần
so với những nguồn ở xa. Điều này có thể có nghĩa là
chúng ta ở trung tâm của một vùng rộng lớn trong vũ trụ
trong đó các nguồn ít hơn là tại những nơi khác. Nói cách
khác, nó có thể có nghĩa rằng những nguồn trong quá khứ
đã nhiều hơn, vào lúc những sóng vô tuyến khởi đầu cuộc
hành trình đi tới chúng ta, so với bây giờ. Cách giải thích
nào cũng mâu thuẫn với những tiên đoán của thuyết trạng
thái ổn cố. Hơn nữa, sự khám phá ra bức xạ sóng cực
ngắn bởi Penzias và Wilson năm 1965 cũng cho thấy rằng vũ trụ
phải đậm đặc hơn nhiều trong quá khứ. Vì vậy, thuyết
trạng thái ổn cố phải bị loại bỏ.
Một
cố gắng khác để tránh kết luận rằng phải có một vụ
nổ lớn, và do đó một khởi điểm về thời gian, đã được
thực hiện vào năm 1963 bởi hai khoa học gia người Nga, Evgenii
Lifshitz và Isaac Khalatnikov. Họ đề xướng rằng vụ nổ lớn
có thể chỉ là một đặc điểm của các mô hình của Friedmann
mà thôi, nó chẳng qua chỉ là những dự đoán gần đúng đối
với vũ trụ thật sự. Có lẽ, trong tất cả các mô hình
gần giống như vũ trụ thực tế, chỉ có mô hình của Friedmann
là chứa đựng một nhất thể nổ lớn. Trong các mô hình
của Friedmann, các thiên hà đang di chuyển rời xa nhau – do
đó không có gì ngạc nhiên nếu vào một thời điểm nào
đó trong quá khứ tất cả chúng đều ở cùng một chỗ. Tuy
nhiên, trong vũ trụ thực tế, các thiên hà không phải chỉ
di chuyển rời xa nhau theo đường thẳng – chúng còn có những
tốc độ nhỏ theo chiều ngang. Do đó trong thực tế chúng
không cần từng tụ lại một chỗ, chỉ là rất gần nhau.
Có thể như vậy, sự bành trướng của vũ trụ hiện nay không
phải do một nhất thể nổ lớn, mà từ một giai đoạn co
rút trước đây; khi vũ trụ đã suy sụp các phần tử trong
đó có thể không đụng tất cả vào nhau, mà đã bay qua và
rồi xa nhau, tạo ra sự bành trướng của vũ trụ hiện tại.
Như vậy thì tại sao chúng ta biết được vũ trụ thực tế
này phải bắt đầu từ vụ bùng nổ lớn hay không? Những
gì Lifshitz và Khalatnikov đã làm là nghiên cứu các mô hình
của vũ trụ gần giống như những mô hình của Friedmann, nhưng
có lưu ý tới những bất thường và những tốc độ bất
kỳ của các thiên hà trong vũ trụ thật. Họ đã chứng tỏ
rằng những mô hình như vậy có thể đã bắt đầu bằng
một vụ nổ lớn, mặc dù các thiên hà không còn luôn luôn
di chuyển rời xa nhau một cách trực tiếp nữa, nhưng họ
cho rằng điều này cũng chỉ có thể xảy ra trong một số
mô hình ngoại lệ trong đó các mô hình tất cả đều di chuyển
theo đường thẳng. Họ đã lý luận rằng bởi vì các mô
hình kiểu Friedmann trong đó không có một nhất thể nổ lớn
nhiều hơn là các mô hình có một nhất thể nổ lớn, cho
nên chúng ta phải kết luận rằng trong thực tế không có
một vụ nổ lớn. Tuy nhiên, sau này họ nhận thấy rằng có
một loại mô hình kiểu Friedmann tổng quát hơn nhiều mà không
có những nhất thể, và trong đó những thiên hà đã không
phải di chuyển theo một cách đặc biệt nào. Do đó năm 1970
họ đã rút lại những lập luận của họ.
Công
trình của Lifshitz và Khalatnikov có giá trị bởi vì nó cho
thấy rằng vũ trụ có thể đã có một nhất thể, một vụ
nổ lớn, nếu thuyết tương đối tổng quát là đúng. Tuy
nhiên, nó đã không giải quyết câu hỏi quan trọng: Tuyết
tương đối tổng quát có tiên đoán rằng vũ trụ của chúng
ta phải đã có một vụ nổ lớn, một khởi đầu về thời
gian hay không? Câu trả lời cho điều này phát xuất từ một
phương pháp hoàn toàn khác được đưa ra bởi một toán học
gia kiêm vật lý gia người Anh, Roger Penrose, vào năm 1965. Sử
dụng đường lối mà hình nón ánh sáng phản ứng trong thuyết
tương đối tổng quát cùng với sự kiện rằng trọng lực
luôn luôn thu hút, ông đã chứng tỏ rằng một ngôi sao khi
suy sụp bởi chính trọng lực của nó sẽ bị giam hãm trong
một vùng có bề mặt co rút lại thành cỡ số không. Và,
bởi vì bề mặt của vùng đó co lại thành số không, thể
tích của nó cũng phải co lại. Mọi vật chất trong ngôi sao
sẽ bị ép lại thành một vùng có thể tích bằng không, do
đó mật độ của vật chất và độ cong của không-thời
gian trở nên vô hạn. Nói khác đi, người ta có một nhất
thể chứa đựng bên trong một vùng không-thời gian được
biết như là một hố đen.
Nhìn
thoáng qua, kết quả của Penrose chỉ áp dụng cho các ngôi
sao; nó không có gì để nói về câu hỏi liệu toàn thể vũ
trụ có một nhất thể nổ lớn trong quá khứ hay không. Tuy
nhiên, vào lúc Penrose đưa ra định lý của ông, tôi là một
sinh viên nghiên cứu đang khao khát tìm một vấn đề để
hoàn tất luận án tiến sĩ của tôi. Hai năm trước khi tôi
được chẩn đoán là bị mắc chứng bệnh ALS, thường được
gọi là bệnh Lou Gehrig, hay bệnh về thần kinh vận động,
và được cho biết chỉ còn sống được một hay hai năm nữa
thôi. Trong tình huống này, xem ra không cần thiết phải ra
công sửa soạn cho cái học vị tiến sĩ của tôi -- Tôi đã
không trông đợi sống lâu như thế. Nhưng hai năm đã qua đi
mà tôi không đến nỗi nào. Thật vậy, mọi chuyện khá tốt
đẹp cho tôi, và tôi đã đính hôn với một cô gái rất dễ
thương, Jane Wilde. Nhưng để đi đến chỗ kết hôn, tôi cần
phải có một việc làm, và để có được việc làm, tôi
cần phải có học vị tiến sĩ.
Năm
1965, tôi đọc về định lý của Penrose rằng bất cứ vật
thể nào bị dẫn lực làm sụp đổ cuối cùng cũng phải
hình thành một nhất thể. Tôi ý thức rất nhanh rằng nếu
người ta đảo ngược phương hướng thời gian trong định
lý của Penrose, để cho sự co rút biến thành bành trướng,
những điều kiện trong định lý của ông vẫn có giá trị,
với điều kiện vũ trụ tương đối giống môt mô hình của
Friedmann trên xích độ lớn vào lúc này. Định lý Penrose đã
chứng tỏ rằng bất cứ ngôi sao sụp đổ nào cũng phải
chấm dứt ở dạng nhất thể; lý luận thời gian đảo ngược
cho thấy rằng bất cứ vũ trụ nào bành trướng theo kiểu
Friedmann cũng phải đã bắt đầu với dạng nhất thể. Vì
những lý do kỹ thuật, định lý của Penrose đòi hỏi rằng
vũ trụ phải vô hạn về không gian. Do đó thực sự tôi có
thể sử dụng nó để chứng minh rằng chỉ có một nhất
thể nếu vũ trụ đã bành trướng đủ nhanh để tránh sụp
đổ một lần nữa (bởi vì chỉ những mô hình Friedmann đó
là vô hạn về không gian).
Trong
mấy năm sau, tôi đã phát triển kỹ thuật toán học mới
để loại bỏ điều này và những điều kiện kỹ thuật
khác từ các định lý đã chứng tỏ rằng các nhất thể
phải xảy ra. Kết quả sau cùng là một luận văn hợp tác
giữa Penrose và tôi năm 1970. Luận văn này cuối cùng đã chứng
minh được rằng đã phải có một nhất thể nổ lớn chỉ
với điều kiện rằng thuyết tương đối tổng quát là đúng
và vũ trụ chứa nhiều vật chất như chúng ta quan sát. Đã
có nhiều chống báng đối với công trình của chúng tôi,
một phần từ những người Nga bởi vì lòng tin vào thuyết
Mác Xít của họ đặt vào thuyết định mệnh khoa học, và
một phần từ những người cảm thấy rằng trọn ý tưởng
về các nhất thể không chấp nhận được và làm hại cái
đẹp của lý thuyết của Einstein. Tuy nhiên, người ta không
thể thực sự tranh cãi với một định lý toán học. Do đó
cuối cùng công trình của chúng tôi đã được chấp nhận
rộng rãi và ngày nay gần như ai cũng cho rằng vũ trụ đã
khởi sự với một nhất thể nổ lớn. Có thể điều trớ
trêu là, sau khi đã thay đổi quan điểm của tôi, hiện giờ
tôi đang cố thuyết phục các vật lý gia khác rằng quả thật
không có nhất thể vào lúc khởi đầu vũ trụ – như chúng
ta sau này sẽ thấy, nó có thể biến mất một khi các hiệu
ứng lượng tử được xét tới.
Trong
chương này chúng ta đã thấy, làm thế nào, trong chưa đầy
nửa thế kỷ, quan niệm của con người về vũ trụ, được
hình thành từ bao nhiêu ngàn năm nay, đã biến đổi. Sự khám
phá của Hubble rằng vũ trụ đang bành trướng, và nhận thức
về sự vô nghĩa của hành tinh chúng ta trong vũ trụ bao la,
mới chỉ là điểm bắt đầu. Với bằng chứng thực nghiệm
và lý thuyết chồng chất, ngày càng trở nên hiển nhiên rằng
vũ trụ phải đã có một khởi điểm về thời gian, cho tới
năm 1970 điều này cuối cùng đã được chứng minh bởi Penrose
và chính tôi, trên căn bản thuyết tương đối tổng quát
của Einstein. Bằng chứng đó cho thấy rằng thuyết tương
đối tổng quát chỉ là lý thuyết chưa hoàn chỉnh: nó không
thể cho chúng ta biết vũ trụ đã khởi đầu như thế nào,
bởi vì nó tiên đoán rằng mọi lý thuyết vật lý, kể cả
chính nó, sụp đổ vào lúc khởi đầu của vũ trụ. Tuy nhiên,
thuyết tương đối tổng quát chỉ là một lý thuyết từng
phần, do đó những gì mà các định lý nhất thể thực sự
chứng minh là đã phải có một thời điểm trong chính vũ
trụ thời khởi thủy khi vũ trụ thật nhỏ, đến độ người
ta không còn có thể bỏ qua những hiệu ứng có tầm mức
nhỏ của lý thuyết từng phần lớn lao kia của thế kỷ hai
mươi, là cơ học lượng tử. Vào đầu thập niên 1970, khi
đó, chúng tôi đã bị buộc phải chuyển cuộc nghiên cứu
của chúng tôi để tìm hiểu vũ trụ từ lý thuyết của chúng
tôi về cái cực kỳ lớn sang lý thuyết của chúng tôi về
cái cực kỳ nhỏ. Lý thuyết đó, cơ học lượng tử, sẽ
được mô tả tiếp theo đây, trước khi chúng ta quay sang những
cố gắng để kết hợp hai lý thuyết từng phần thành một
lý thuyết lượng tử hấp dẫn duy nhất.