CHƯƠNG
1
BỨC
TRANH VŨ TRỤ CỦA CHÚNG TA
Một
khoa học gia nổi tiếng (có người nói đó là Bertrand Russell)
có lần diễn thuyết trước công chúng về thiên văn học.
Ông mô tả địa cầu quay chung quanh mặt trời như thế nào,
và, mặt khác, mặt trời lại quay quanh trung tâm của một
quần thể các vì sao gọi là thiên hà như thế nào. Vào cuối
buổi diễn thuyết, một bà cụ nhỏ thó ngồi cuối phòng
đứng lên nói: "Những lời ông nói đều là tầm bậy. Thế
giới này thực ra là một cái đĩa bằng phẳng nằm trên lưng
một con rùa khổng lồ." Vị khoa học gia mỉm cười hợm hĩnh
trước khi trả lời: "Vậy thì con rùa nó đứng trên cái gì?"
"Ông rất khôn lanh, ông bạn trẻ ạ, rất khôn lanh," bà cụ
nói. "Nhưng, đây là bầy rùa cứ con nọ cõng con kia liên tiếp
như thế!"
Phần
lớn người ta sẽ cho rằng hình ảnh vũ trụ của chúng ta
như một tháp rùa vô tận nghe hơi tức cười, nhưng tại sao
chúng ta tự cho rằng mình biết rõ hơn? Chúng ta biết gì về
vũ trụ? và chúng ta biết về nó như thế nào? Vũ trụ từ
đâu mà đến, và nó sẽ đi về đâu? Vũ trụ có một khởi
thủy hay không? và nếu có thì chuyện gì xảy ra trước đó?
Bản chất thời gian là gì? Liệu nó sẽù đi tới kết cuộc
hay không? Những khai thông mới đây về vật lý học, một
phần nhờ những kỹ thuật mới kỳ diệu, đưa ra những giải
đáp cho một vài trong số những câu hỏi lâu đời này. Một
ngày nào đó những câu trả lời này có thể sẽ tỏ ra hiển
nhiên đối với chúng ta như chuyện địa cầu quay chung quanh
mặt trời – hoặc cũng có thể tức cười như một cái tháp
gồm những con rùa. Chỉ có thời gian (dù đó là gì chăng
nữa) sẽ cho biết.
Ngay
từ năm 340 trước Tây Nguyên, Aristotle, triết học gia Hy Lạp,
trong quyển sách "Luận Thiên"(On the Heaven) của ông, đã có
thể đưa ra hai luận cứ giá trị để tin rằng địa cầu
là một trái cầu tròn chứ không phải là một đĩa bằng
phẳng. Thứ nhất, ông nhận thức rằng nguyệt thực là do
địa cầu vận hành đến giữa mặt trời và mặt trăng. Bóng
địa cầu ở trên mặt trăng luôn luôn tròn là vậy, điều
này chỉ đúng nếu bản thân trái đất hình cầu. Nếu địa
cầu là một cái đĩa tròn bằng phẳng, cái bóng sẽ bị kéo
dài ra hoăïc có hình bầu dục e-lip (ellipse), trừ phi nguyệt
thực luôn luôn xẩy ra vào lúc mặt trời nằm ngay dưới trung
tâm cái đĩa tròn này. Thứ hai, nhờ những cuộc du hành, người
Hy Lạp đã biết rằng khi quan sát bầu trời từ những vùng
phía nam, sao Bắc Đẩu có vẻ thấp hơn trong bầu trời so
với khi quan sát từ những vùng gần phía bắc. (Bởi vì sao
Bắc Đẩu nằm ngay phía trên Bắc Cực, cho nên nó có vẻ
nằm ngay trên đỉnh đầu của người quan sát đứng tại
Bắc Cực, còn đối với người quan sát từ xích đạo, sao
Bắc Đẩu có vẻ nằm ngay ở chân trời).
Từ
sự khác biệt về vị trí biểu kiến của sao Bắc Đẩu tại
Ai Cập và Hy Lạp, Aristotle thậm chí còn tính phỏng chu vi
của địa cầu là 400,000 stadia (chuẩn cự). Hiện nay không
thể biết chính xác, độ dài 1 stadium (số ít của stadia)
là bao nhiêu, nhưng có lẽ là trên dưới 200 yards , như thế
thì sự phỏng tính của Aristotle gấp đôi con số được công
nhận hiện nay. Người Hy Lạp còn đưa ra một luận cứ thứ
ba là trái đất phải hình tròn, nếu không thì tại sao người
ta nhìn thấy cột buồm của một chiếc thuyền từ chân trời
đi tới và sau đó mới thấy thân thuyền?
Aristotle
nghĩ rằng địa cầu bất động và rằng mặt trời, mặt
trăng, các hành tinh và các ngôi sao di chuyển theo những quỹ
đạo hình tròn chung quanh địa cầu. Ông tin tưởng điều
này bởi vì ông cảm thấy, vì những lý do thần bí, rằng
địa cầu là trung tâm của vũ trụ, và rằng chuyển động
tròn là hoàn hảo nhất. Quan niệm này đã được phát triển
bởi Ptolemy vào thế kỷ thứ hai sau Tây Nguyên thành một mô
hình vũ trụ học đầy đủ. Địa cầu nằm ở trung tâm,
bao quanh bởi tám hình cầu mang mặt trăng, mặt trời, các
ngôi sao và năm hành tinh được biết hồi đó: Thủy tinh,
Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh và Thổ tinh. (Hình 1.1). Những hành
tinh này lại chuyển động trên những vòng tròn nhỏ hơn gắn
vào những hình cầu tương ứng để giải thích đường đi
tương đối phức tạp của chúng khi được quan sát trên bầu
trời. Hình cầu tầng ngoài cùng chứa những ngôi sao gọi
là sao cố định, chúng luôn luôn nằm ở cùng vị trí so với
nhau, nhưng cùng nhau quay trong bầu trời. Những gì bên ngoài
hình cầu ngoài cùng thì không hề được minh định, nhưng
chắc chắn nó không nằm trong cái vũ trụ có thể quan sát
được của con người.
Mô
hình của Ptolemy cung cấp một hệ thống chính xác một cách
hợp lý để tiên đoán vị trí của các thiên thể trong bầu
trời. Nhưng để tiên đoán đúng những vị trí này, Ptolemy
đã phải giả định rằng mặt trăng đi theo một quỹ đạo
mà đôi khi nó tới gần địa cầu gấp đôi những lúc khác.
Và điều đó có nghĩa rằng mặt trăng đôi khi phải nhìn
lớn gấp đôi những lúc khác! Ptolemy đã thừa nhận khuyết
điểm này, mặc dù thế, mô hình của ông vẫn được tiếp
nhận rộng rãi tuy không phải ai cũng đồng ý. Nó được
giáo hội Cơ Đốc giáo tiếp nhận như hình ảnh của vũ trụ
phù hợp với Thánh Kinh, bởi vì nó có ưu điểm lớn lao là
dành nhiều chỗ bên ngoài hình cầu các tinh tú cố định
cho thiên đường và địa ngục.
Tuy
nhiên, năm 1514, một vị giáo sĩ người Ba Lan, tên là Nicholas
Copernicus, đã đề ra một mô hình đơn giản hơn. (Ban đầu,
có lẽ sợ bị giáo hội của mình gán cho là một kẻ theo
dị giáo, Copernicus chỉ luân lưu mô hình của ông một cách
nặc danh.) Quan niệm của ông là, mặt trời nằm cố định
ở trung tâm, còn địa cầu và các hành tinh di chuyển theo
các quỹ đạo tròn quanh mặt trời. Gần một thế kỷ sau,
quan niệm của ông mới được coi trọng. Rồi hai nhà thiên
văn học – Johannes Kepler, người Đức, và Galileo Galilei, người
Ý đã khởi sự công khai ủng hộ lý thuyết của Copernicus,
mặc dù các quỹ đạo mà nó dự đoán đã không hoàn toàn
phù hợp với các quỹ đạo quan sát được. Đòn chí tử
cho lý thuyết của Aristotle và Ptolemy xảy ra vào năm 1609. Năm
ấy, Galileo dùng viễn vọng kính vừa phát minh để quan sát
bầu trời ban đêm. Khi quan sát Mộc tinh, Galileo đã phát hiện
có mấy vệ tinh nhỏ hoặc mặt trăng chuyển động quanh nó.
Điều này ngụ ý rằng không phải mọi vật đều phải quay
quanh trái đất như Aristotle và Ptolemy đã nghĩ. (Đương nhiên,
người ta vẫn có thể tin rằng địa cầu đứng yên tại
trung tâm vũ trụ, còn các vệ tinh của Mộc tinh di chuyển
theo những quỹ đạo hết sức phức tạp quanh địa cầu,
khiến có vẻ như chúng quay quanh Mộc tinh. Tuy nhiên, lý thuyết
của Copernicus đơn giản hơn nhiều.) Cùng lúc đó, Johannes
Kepler đã cải tiến lý thuyết của Copernicus, cho rằng các
hành tinh di chuyển không phải theo hình tròn mà theo hình e-lip
(một e-lip là một vòng tròn được kéo dài ra, giống như
hình bầu dục). Những tiên đoán đó ngày nay phù hợp với
những quan sát.
Đối
với Kepler, những quỹ đạo hình e-lip chỉ là một giả thuyết
tạm thời, và là một giả thuyết hơi khó chấp nhận, bởi
vì hình e-lip rõ ràng không hoàn hảo bằng hình tròn. Sau khi
hầu như tình cờ khám phá ra rằng các quỹ đạo hình e-lip
phù hợp với những quan sát, ông lại không thể thỏa hiệp
chúng với quan niệm của ông rằng các hành tinh phải quay
chung quanh mặt trời do tác dụng của các lực từ tính. Mãi
về sau, vào năm 1687, một sự giải thích mới được đưa
ra, khi Sir Isaac Newton xuất bản cuốn sách của ông nhan đề
Triết Lý Nguyên Tắc Tự Nhiên của Toán Học, có lẽ là tác
phẩm đơn độc quan trọng nhất từng được xuất bản về
khoa vật lý. Trong quyển sách này, Newton không những đưa ra
một lý thuyết về vấn đề làm thế nào các vật thể di
chuyển trong không gian và thời gian, mà còn phát triển những
bài toán phức tạp cần thiết để phân tích những chuyển
động này. Ngoài ra, Newton còn đề ra định luật vạn vật
hấp dẫn, theo đó, mọi vật thể trong vũ trụ đều thu hút
lẫn nhau bởi một lực. Lực này càng mạnh nếu khối lượng
của vật thể càng lớn và khi chúng càng nằm gần nhau. Chính
lực này đã khiến mọi vật đều rơi xuống mặt đất. (Câu
chuyện rằng Newton đã được gợi ý bởi một trái táo rơi
trúng đầu hầu như chắc chắn chỉ là huyền thoại. Chính
Newton chỉ nói rằng ý tưởng về trọng lực đã tới với
ông khi ông ngồi "trầm tư," và "tình cờ một trái táo rơi
xuống.") Newton tiếp tục chứng tỏ rằng, theo định luật
của ông, hấp lực khiến mặt trăng di chuyển theo một quỹ
đạo hình e-lip chung quanh trái đất và khiến trái đất cùng
các hành tinh quay theo các đường e-lip chung quanh mặt trời.
Mô
hình theo Copernicus loại bỏ các hình cầu của Ptolemy, và cả
quan niệm rằng vũ trụ có một biên giới tự nhiên. Bởi
vì các "ngôi sao cố định" có vẻ như đã không thay đổi
vị trí ngoại trừ chuyện quay ngang bầu trời gây ra bởi
địa cầu quay theo trục của nó, điều đã trở thành tự
nhiên khi cho rằng những ngôi sao cố định là những vật
thể gống như mặt trời của chúng ta nhưng ở xa hơn rất
nhiều.
Theo
lý thuyết hấp lực của ông, Newton nhận thấy rằng các ngôi
sao phải thu hút lẫn nhau, do đó hình như chúng không thể
bất động mãi. Thế liệu sẽ có một lúc nào đó chúng sẽ
rơi vào nhau không? Trong một bức thư năm 1691 viết cho Richard
Bentley một nhà tư tưởng hàng đầu khác vào thời đó
Newton lý luận rằng điều này quả thực sẽ xảy ra nếu
chỉ có một con số hữu hạn các ngôi sao, được phân bố
trong một khoảng không gian hữu hạn. Nhưng mặt khác, ông
lý luận rằng nếu có một con số vô hạn các vì sao được
phân bố tương đối đồng đều trong không gian vô hạn, thì
điều này sẽ không xẩy ra, bởi vì khi đó sẽ không có trung
tâm điểm nào để chúng rơi xuống.
Luận
cứ này là một loại cạm bẫy mà bạn có thể gặp phải
khi nói về cái vô hạn. Trong một vũ trụ vô hạn, mọi điểm
đều có thể coi như trung tâm, bởi vì mọi điểm đều có
một con số vô hạn các ngôi sao ở mọi phía của nó. Phương
pháp chính xác, rất lâu sau mới được nhận thức, là xem
xét tình trạng hữu hạn, trong đó các ngôi sao đều rơi vào
nhau, và rồi tự hỏi mọi chuyện sẽ thay đổi như thế nào
nếu người ta thêm vào các ngôi sao được phân bố tương
đối đồng đều bên ngoài vùng này. Theo định luật của
Newton, những ngôi sao cộng thêm đó tính trung bình sẽ không
làm thay đổi gì đối với những ngôi sao nguyên thủy, khiến
những ngôi sao này vẫn rơi vào nhau nhanh như cũ. Chúng ta có
thể thêm bao nhiêu ngôi sao tùy ý, nhưng chúng vẫn luôn luôn
rơi vào nhau. Hiện chúng ta biết rằng không thể có một mô
hình vũ trụ ở trong trạng thái tĩnh mãi mãi trong đó trọng
lực luôn luôn thu hút.
Điều
lý thú khi nhớ lại bầu không khí chung của tư trưởng trước
thế kỷ 20, là không ai từng cho rằng vũ trụ đang bành trướng
hoặc đang co rút. Người ta thường chấp nhận rằng vũ trụ
hoặc tồn tại mãi mãi trong một trạng thái không thay đổi,
hoặc đã được tạo ra trong quá khứ vào một thời điểm
nhất định, gần giống như chúng ta thấy ngày nay. Điều
này một phần có thể do khuynh hướng của con người muốn
tin vào những chân lý vĩnh hằng, cũng như sự dễ dãi mà
người ta tìm thấy trong ý nghĩ rằng dù họ có thể già đi
và chết, vũ trụ vẫn tồn tại mãi mãi và không thay đổi.
Ngay
cả những người ý thức rằng lý thuyết hấp dẫn của Newton
cho thấy vũ trụ không thể ở trạng thái tĩnh, họ cũng không
suy nghĩ để cho rằng vũ trụ có thể đang bành trướng. Ngược
lại, họ cố cải tiến lý thuyết bằng cách cho rằng lực
hấp dẫn trở thành lực đẩy khi ở những khoảng cách rất
lớn. Điều này đã không ảnh hưởng đáng kể tới những
tiên đoán của họ về chuyển động của các hành tinh, nhưng
nó cho phép một sự phân bố vô hạn những ngôi sao để duy
trì sự cân bằng – với những lực hấp dẫn giữa những
ngôi sao nằm gần nhau được cân bằng bởi những lực đẩy
từ những ngôi sao nằm xa hơn. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta
tin rằng một sự cân bằng như vậy cũng không ổn định:
nếu các ngôi sao ở một khu vực nào đó hơi nhích lại gần
nhau thêm một tí, hấp lực giữa chúng với nhau sẽ mạnh
hơn và vượt trộiù các lực đẩy, do đó các ngôi sao sẽ
tiếp tục rơi về phía nhau. Mặt khác, nếu các ngôi sao hơi
xa lìa nhau thêm một tí, các lực đẩy sẽ chiếm ưu thế
và thúc đẩy chúng lìa nhau càng xa thêm.
Một
phản bác khác đối với thuyết vũ trụ tĩnh vô hạn thường
được gán cho triết gia Đức Heinrich Olbers, người đã viết
về lý thuyết của ông vào năm 1823. Thật vậy, nhiều người
cùng thời với Newton đã nêu lên vấn đề này và bài viết
của Olbers không phải là tài liệu đầu tiên chứa đựng
những luận cứ đáng tin chống lại nó. Tuy nhiên, đây là
bài viết đầu tiên được nhiều người chú ý. Điều khó
khăn là trong một vũ trụ ở trạng thái tĩnh và vô hạn,
gần như mọi luồng thị tuyến đều tận cùng ở bề mặt
một ngôi sao. Như vậy, người ta có thể trông đợi cả bầu
trời sẽ sáng như mặt trời, ngay cả vào ban đêm. Luận cứ
phản bác của Olbers cho rằng ánh sáng chiếu từ các ngôi
sao ở xa sẽ bị yếu đi bởi sự hấp thụ của vật chất
nằm chen ở giữa. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra, vật chất
nằm giữa này cuối cùng sẽ bị nóng lên cho tới khi phát
sáng như các ngôi sao. Cách duy nhất để tránh kết luận rằng
cả bầu trời ban đêm phải sáng như mặt trời là giả định
rằng các ngôi sao chẳng phải chiếu sáng vĩnh viễn như thế,
mà đã được bật sáng ở một thời điểm xác định nào
đó trong quá khứ. Trong tình huống này, vật chất hấp thụ
nhiệt có thể chưa được hâm nóng, hoặc giả ánh sáng từ
các ngôi sao ở xa có thể chưa đạt tới chúng ta. Và điều
đó đưa chúng ta tới câu hỏi là cái gì có thể làm cho các
ngôi sao bật sáng lúc đầu.
Đương
nhiên, vấn đề khởi thủy của vũ trụ đã được thảo
luận trước chuyện này rất lâu. Theo một số các học thuyết
vũ trụ thời kỳ đầu và truyền thống của người Do Thái
/ Cơ Đốc giáo / Hồi giáo, vũ trụ đã bắt đầu vào một
thời điểm xác định, và cách đây không xa lắm trong quá
khứ. Một luận cứ cho một sự khởi đầu như vậy là cảm
nghĩ rằng cần phải có "Nguyên Nhân Thứ Nhất" để giải
thích sự hiện hữu của vũ trụ. (Bên trong vũ trụ, bạn
luôn luôn giải thích một biến cố như là gây ra bởi một
biến cố trước đó, nhưng sự hiện hữu của chính vũ trụ,
chỉ có thể được giải thích bằng cách này nếu nó có
một khởi thủy nào đó.) Một luận cứ khác đã được đưa
ra bởi Thánh Augustine trong tác phẩm "Thành Phố của Thượng
Đế." Ông vạch ra rằng nền văn minh đang tiến bộ và chúng
ta nhớ ai đã làm công trình này hoặc phát triển kỹ thuật
kia. Như vậy, con người, và cũng có thể là vũ trụ, không
thể nào đã có mặt từ lâu như thế. Thánh Augustine đã chấp
nhận một thời điểm khoảng 5,000 năm trước Tây Nguyên cho
việc Sáng Tạo vũ trụ theo cuốn Kinh Cựu Ước. (Cần lưu
ý rằng đây không phải là lúc kết thúc thời kỳ băng hà
mới nhất, khoảng trước Tây Nguyên 10,000 năm, đó là lúc
các nhà khảo cổ cho ta biết rằng nền văn minh đã thực
sự bắt đầu.)
Mặt
khác, Aristotle và hầu hết các triết gia Hy Lạp khác không
thích tư tưởng sáng thế, bởi vì nó mang quá nhiều mùi vị
sự can thiệp thần quyền. Cho nên họ tin rằng, nhân loại
và thế giới chung quanh đã và sẽ tiếp tục tồn tại vĩnh
viễn. Người xưa đã xem xét luận cứ về sự tiến bộ như
mô tả ở trên, và trả lời bằng cách nói rằng đã có những
trận lụt có tính cách định kỳ hoặc những tai nạn khác
đã liên tiếp đưa nhân loại trở lại thời văn minh sơ khai.
Năm
1781, triết gia Immanuel Kant trong tác phẩm vĩ đại (và rất
khó hiểu) Phê Phán về Thuần Lý, đã khảo sát cặn kẽ vấn
đề liệu vũ trụ có một khởi thủy về thời gian hay không
và liệu nó có bị giới hạn về không gian hay không. Ông
gọi những câu hỏi này là những mâu thuẫn của thuần lý
bởi vì ông cảm thấy rằng có những luận cứ đáng tin như
nhau để tin vào mệnh đề, rằng vũ trụ có một khởi thủy,
và phản đề, rằng vũ trụ đã hiện hữu từ vĩnh cửu.
Luận cứ của ông cho mệnh đề là, nếu vũ trụ không có
một mở đầu, thì sẽ có một thời gian vô hạn trước bất
cứ biến cố nào, điều ông coi là phi lý. Luận cứ cho phản
đề là, nếu vũ trụ có một mở đầu, sẽ có một thời
kỳ vô hạn về thời gian trước đó, vậy thì tại sao vũ
trụ lại phải bắt đầu vào một thời khắc đặc định
nào đó? Thật ra, lý luận của ông cho cả đề và phản đề
đều giống nhau. Chúng đều đặt căn bản trên giả thiết
hiểu ngầm của ông, rằng thời gian là vô tận trở về trước,
dù vũ trụ đã hiện hữu vô tận hay không. Như chúng ta sẽ
thấy, ý niệm về thời gian không có ý nghĩa trước khi vũ
trụ khởi đầu. Đây là điểm được nêu lên đầu tiên
bởi Thánh Augustine. Khi được hỏi: Thượng đế đã làm gì
trước khi sáng tạo ra vũ trụ? Augustine đã không trả lời:
Ngài đang sửa soạn Địa Ngục cho những ai hỏi những câu
hỏi như vậy. Thay vào đó ông nói rằng thời gian là một
tính chất của vũ trụ mà Thượng Đế đã sáng tạo, và
rằng thời gian đã không hiện hữu trước khởi thủy của
vũ trụ.
Khi
phần đông người ta tin vào một vũ trụ bản chất tĩnh và
bất biến, vấn đề nó có khởi đầu hay không, thực sự
là một vấn đề siêu hình hoặc có tính cách thần học.
Người ta có thể giải thích những gì đã được quan sát
một cách khá đồng đều về lý thuyết cho rằng vũ trụ
đã tồn tại vĩnh viễn hoặc về lý thuyết cho rằng nó đã
được khởi động ở một thời điểm hữu hạn nào đó
theo một cách sao cho nó có vẻ như đã tồn tại vĩnh viễn.
Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực hiện cuộc quan sát
quan trọng cho thấy dù bạn nhìn từ đâu, những thiên hà
ở xa cũng di chuyển nhanh xa lìa chúng ta. Nói cách khác, vũ
trụ đang bành trướng. Điều này có nghĩa là vào thời xa
xưa, các vật thể sẽ nằm gần nhau hơn. Thật vậy, hình
như có một thời điểm, khoảng 10 đến 20 ngàn triệu năm
về trước, chúng tất cả đều ở đúng một chỗ và, do
đó, mật độ vũ trụ lớn vô hạn. Phát hiện này rốt cuộc
đưa vấn đề khởi thủy của vũ trụ vào lãnh vực khoa học.
Những
quan sát của Hubble gợi ý rằng có một lúc, gọi là bùng
nổ lớn (big bang), vũ trụ vô cùng nhỏ và dầy đặc vô cùng.
Dưới những điều kiện này, mọi định luật khoa học, và
do đó mọi khả năng tiên đoán tương lai, đều sụp đổ.
Nếu có những biến cố xảy ra trước thời khắc này, chúng
không thể ảnh hưởng tới những gì xảy ra trong hiện tại.
Chúng ta có thể không lý đến sự hiện hữu của chúng, bởi
vì chúng không có những hậu quả có thể quan sát được.
Người ta có thể nói rằng thời gian có một khởi đầu ở
vụ nổ lớn, theo một ý nghĩa rằng thời gian trước đó
giản dị không định nghĩa được. Cần phải nhấn mạnh
rằng sự khởi đầu này của thời gian rất khác biệt với
những gì đã được quan niệm trước kia. Trong một vũ trụ
bất biến, một khởi điểm của thời gian là cái được
đặt ra bởi một đấng nào đó bên ngoài vũ trụ; không cần
có một khởi đầu về vật lý. Người ta có thể tưởng
tượng rằng Thượng Đế đã tạo ra vũ trụ ở bất cứ
thời điểm nào đó trong quá khứ. Mặt khác, nếu vũ trụ
đang bành trướng, có thể có những lý do vật lý là tại
sao phải có một khởi đầu. Người ta vẫn có thể tưởng
tượng rằng Thượng Đế đã tạo ra vũ trụ trong cái khoảnh
khắc của vụ nổ lớn, hoặc giả thậm chí sau đó, để
nó giống như đã xảy ra một vụ nổ lớn, nhưng sẽ vô nghĩa
khi giả định rằng vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ
lớn. Một vũ trụ đang bành trướng không loại trừ một
đấng sáng tạo, nhưng nó quả thật đặt ra những giới hạn
về chuyện khi nào đấng sáng tạo đã thực hiện công việc
của mình!
Để
nói về bản chất của vũ trụ và thảo luận các vấn đề
như liệu nó có một khởi đầu hoặc chung cuộc hay không,
bạn cần thấu hiểu một lý thuyết khoa học là gì. Tôi sẽ
dùng quan điểm đơn giản cho rằng một lý thuyết chỉ là
một mô hình của vũ trụ hoặc một phần có giới hạn của
nó, và là một bộ những quy luật liên kết các số lượng
trong mô hình với những quan sát mà chúng ta thực hiện. Nó
chỉ tồn tại trong đầu chúng ta và không có bất cứ thực
tế nào khác (bất kể điều đó có ý nghĩa gì). Một lý
thuyết là một lý thuyết tốt nếu nó thỏa mãn hai đòi hỏi:
Nó phải mô tả chính xác một số lớn các quan sát trên căn
bản một mô hình chỉ chứa một ít các yếu tố độc đoán,
và nó phải đưa ra những tiên đoán rõ rệt về những kết
quả của những cuộc quan sát trong tương lai. Ví dụ, lý thuyết
của Aristotle cho rằng mọi vật đều được cấu tạo bởi
bốn nguyên tố, đất, không khí, lửa và nước, đủ giản
dị để được chấp nhận, nhưng nó đã không đưa ra bất
cứ tiên đoán nào rõ rệt. Mặt khác, thuyết hấp lực của
Newton được đặt căn bản trên một mô hình còn đơn giản
hơn nữa, trong đó các vật thể hút lẫn nhau với một lực
tỉ lệ thuận với một số lượng gọi là khối lượng của
chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa
chúng với nhau. Vậy mà nó tiên đoán các chuyển động của
mặt trời, mặt trăng, và các hành tinh với một độ chính
xác cao.
Bất
cứ lý thuyết vật lý nào cũng luôn luôn có tính cách tạm
thời, theo ý nghĩa rằng nó chỉ là một giả thuyết: bạn
không bao giờ có thể chứng minh nó. Bất kể bao nhiêu lần
kết quả của những cuộc thí nghiệm phù hợp với một lý
thuyết nào đó, bạn không bao giờ có thể quả quyết kết
quả lần sau không mâu thuẫn với lý thuyết đó. Mặt khác,
bạn có thể chứng minh một lý thuyết sai lầm bằng cách
chỉ cần tìm ra một lần quan sát duy nhất không phù hợp
với những tiên đoán của lý thuyết đó. Như triết gia khoa
học Karl Popper đã nhấn mạnh, đặc trưng của lý thuyết
tốt là, nó đưa ra một số các tiên đoán mà trên nguyên
tắc có thể bị bác bỏ hoặc ghi nhận là sai lầm bằng cách
quan sát. Chừng nào những thực nghiệm mới được ghi nhận
phù hợp với những tiên đoán thì lý thuyết còn tồn tại,
và sự tin tưởng của chúng ta đặt vào nó tăng lên; nhưng
nếu có một ghi nhận mới không phù hợp, chúng ta phải bỏ
hoặc tu chính lý thuyết này. Ít nhất đó là điều được
dự trù sẽ xảy ra, nhưng bạn luôn luôn có thể nghi ngờ
khả năng của người thi hành việc quan sát.
Trên
thực tế, điều thường xảy ra là một lý thuyết mới thực
ra là một sự nới rộng của lý thuyết trước. Chẳng hạn,
những cuộc quan sát chính xác về Thủy Tinh cho thấy một
sai biệt nhỏ giữa chuyển động của nó và những tiên đoán
của thuyết hấp dẫn của Newton. Thuyết tương đối tổng
quát của Einstein đã tiên đoán một chuyển động hơi khác
so với thuyết của Newton. Sự kiện rằng những tiên đoán
của Einstein phù hợp với những gì được thấy, trong khi
những tiên đoán của Newton thì không, đã là một trong những
sự xác nhận quan trọng của lý thuyết mới. Tuy nhiên, phần
lớn chúng ta vẫn còn sử dụng lý thuyết của Newton cho mọi
mục tiêu thực tiễn bởi vì sự khác biệt giữa các tiên
đoán của nó và những tiên đoán của thuyết tương đối
tổng quát rất nhỏ trong những hoàn cảnh mà chúng ta thường
gặp. (Lý thuyết của Newton cũng có những ưu điểm lớn là
giản dị hơn nhiều so với lý thuyết của Einstein!)
Mục
đích chung cuộc của khoa học là cung cấp một lý thuyết
đơn nhất để mô tả toàn thể vũ trụ. Tuy nhiên, phương
pháp mà phần lớn các nhà khoa học thực sự theo đuổi là
phân chia vấn đề thành hai phần. Đầu tiên, có những định
luật cho chúng ta biết vũ trụ thay đổi theo thời gian như
thế nào (Nếu chúng ta biết vũ trụ ra sao ở bất cứ thời
điểm nào, những định luật vật lý này sẽ cho ta biết
vũ trụ sẽ ra sao ở bất cứ thời điểm nào sau này). Thứ
hai, có vấn đề tình trạng sơ khai của vũ trụ. Một số
người cảm thấy rằng khoa học chỉ nên lưu tâm tới phần
thứ nhất, họ coi vấn đề trạng thái ban sơ là một vấn
đề siêu hình hoặc thuộc về tôn giáo. Họ sẽ nói rằng
Thượng Đế toàn năng có thể khai mở vũ trụ bất cứ cách
nào tùy ý. Có thể như vậy, nhưng trong trường hợp đó,
Thượng Đế cũng có thể phát triển vũ trụ theo một cách
hoàn toàn độc đoán. Tuy nhiên, xem ra Thượng Đế đã chọn
cách cho vũ trụ tiến hóa theo một đường lối rất bình
thường theo một số định luật. Cho nên, cũng hợp lý không
kém khi giả định rằng cũng có những định luật chi phối
tình trạng ban sơ.
Hóa
ra rất khó phác họa một lý thuyết để mô tả hết vũ trụ.
Thay vào đó, chúng ta chia vấn đề ra thành nhiều mảnh nhỏ,
và phát minh ra một số lý thuyết từng phần. Mỗi một bộ
phận lý thuyết này mô tả và dự đoán một phạm vi quan
sát có giới hạn, không để ý tới các hiệu ứng của các
lượng khác, hoặc trình bày chúng bằng những loạt con số
đơn giản. Có thể phương pháp này hoàn toàn sai. Nếu mọi
vật trong vũ trụ đều tùy thuộc vào mọi điều khác về
căn bản, có lẽ không thể nào tới gần được một giải
đáp đầy đủ bằng cách xem xét những phần riêng rẽ của
vấn đề. Mặc dù như vậy, chắc chắn đây là phương pháp
giúp chúng ta tiến bộ trong quá khứ. Thí dụ cổ điển vẫn
là thuyết hấp lực của Newton, nó cho chúng ta biết rằng
lực hấp dẫn giữa hai vật thể chỉ tùy thuộc vào một
con số gắn liền với mỗi vật thể, đó là khối lượng
của nó, mà không tùy thuộc vào cái gì làm thành những vật
thể đó. Như vậy, người ta không cần có một lý thuyết
về kết cấu và thành phần của mặt trời và các hành tinh
để tính toán các quỹ đạo của chúng.
Các
khoa học gia ngày nay mô tả vũ trụ theo hai lý thuyết từng
phần cơ bản – thuyết tương đối tổng quát và cơ học
lượng tử. Chúng là những thành quả vĩ đại trong tiền
bán thế kỷ 20. Thuyết tương đối tổng quát mô tả trọng
lực và cơ cấu vĩ mô của vũ trụ, nghĩa là, cơ cấu trên
một tầm mức từ vài dặm cho đến lớn cỡ 1 triệu triệu
triệu triệu (số 1 với 24 con số 0 theo sau) dặm, là tầm
cỡ có thể quan sát của vũ trụ. Mặt khác, cơ học lượng
tử xử lý các hiện tượng ở tầm cỡ cực kỳ nhỏ, chẳng
hạn một phần triệu của một phần triệu của một inch.
Tuy nhiên, đáng tiếc là, hai lý thuyết này được biết không
phù hợp với nhau – chúng không thể đồng thời đều đúng.
Một trong số những cố gắng chủ yếu của vật lý học
ngày nay, và chủ đề chính của quyển sách này, là tìm kiếm
một lý thuyết mới có thể hợp nhất cả hai – một thuyết
hấp dẫn lượng tử. Chúng ta chưa có một lý thuyết như
vậy, và có thể còn lâu chúng ta mới có, nhưng chúng ta quả
đã biết nhiều trong số các tính chất mà nó phải có. Và
chúng ta sẽ thấy, ở những chương sau, rằng chúng ta đã
biết khá nhiều những tiên đoán mà một thuyết hấp lục
lượng tử phải có.
Bây
giờ, nếu bạn tin rằng vũ trụ không phải tùy hứng, mà
bị chi phối bởi những định luật nhất định, cuối cùng
bạn phải kết hợp những lý thuyết từng phần này thành
một lý thuyết thống nhất hoàn toàn để mô tả mọi thứ
trong vũ trụ. Nhưng có một mâu thuẫn căn bản trong việc
tìm kiếm một lý thuyết thống nhất hoàn toàn như vậy. Quan
niệm về những lý thuyết khoa học được phác họa ở trên
giả định rằng chúng ta là những sinh vật có lý trí được
tự do quan sát vũ trụ như chúng ta muốn và rút ra những suy
luận hợp lý từ những gì chúng ta thấy. Trong một phương
án như vậy, chúng ta có lý khi cho rằng có thể tiến tới
gần hơn bao giờ hết những định luật chi phối vũ trụ.
Nhưng, nếu quả thật có một lý thuyết thống nhất hoàn
toàn, thì chắc hẳn nó cũng sẽ quyết định tới hành động
của chúng ta. Và do đó chính lý thuyết sẽ quyết định kết
quả cuộc tìm kiếm của chúng ta dành cho nó! Và tại sao nó
sẽ phải định rằng chúng ta đã đạt tới những kết luận
đúng rút từ bằng chứng? Liệu nó cũng có thể quyết định
rằng chúng ta rút ra những kết luận sai lầm hay không? Hoặc
không có kết luận nào cả?
Câu
trả lời duy nhất mà tôi mà có thể đưa ra cho vấn đề
này được căn cứ trên nguyên tắc tuyển chọn tự nhiên
của Darwin. Tư tưởng này cho rằng trong bất cứ quần thể
sinh vật tự sanh sản nào, sẽ có những biến đổi trong vật
liệu và chỉ thị di truyền chứa trong những cá thể khác
nhau. Những khác biệt này sẽ có nghĩa vài cá thể có thể
có khả năng hơn những cá thể khác trong việc rút ra những
kết luận đúng đắn về thế giới chung quanh và hành động
sao cho thích hợp. Những cá thể này có nhiều khả năng hơn
để tồn tại, sanh sản và do đó mô thức về hành vi và
tư tưởng của chúng sẽ trở nên vượt trội. Điều chắc
chắn đúng trong quá khứ là những cái chúng ta gọi là trí
thông minh và khám phá khoa học đã đưa tới lợi thế để
sinh tồn. Điều không hiển nhiên như vậy là trường hợp
những khám phá khoa học của chúng ta rất có thể hủy diệt
toàn thể chúng ta, và dù chúng không hủy diệt, một lý thuyết
thống nhất hoàn toàn có thể không thay đổi nhiều cơ may
tồn tại của chúng ta. Tuy nhiên, giả thử vũ trụ đã tiến
hóa theo một đường lối bình thường, chúng ta có thể trông
đợi những khả năng lý luận mà sự tuyển chọn tự nhiên
đã cho chúng ta sẽ có giá trị trong cuộc tìm kiếm một lý
thuyết thống nhất hoàn toàn, và nhờ đó không đưa chúng
ta tới những kết luận sai lầm.
Bởi
vì những lý thuyết từng phần mà chúng ta đã có cũng đủ
để đưa ra những tiên đoán đúng cho mọi tình huống, ngoại
trừ những tình huống cực đoan nhất, cho nên cuộc tìm kiếm
lý thuyết chung cuộc về vũ trụ có vẻ khó biện minh đối
với những lý do thực tiễn. (Tuy nhiên, cũng nên ghi nhận
rằng những luận điểm tương tự có thể đã được sử
dụng để chống lại cả thuyết tương đối lẫn cơ học
lượng tử, trong khi những lý thuyết này đã cho chúng ta cả
năng lượng hạt nhân lẫn cuộc cách mạng vi điện tử !)
Cho nên, khám phá về một lý thuyết thống nhất hoàn toàn
có thể không trợ giúp gì cho sự sống còn của chủng loại
chúng ta. Thậm chí nó cũng không ảnh hưởng tới lối sống
của chúng ta. Nhưng kể từ buổi đầu của nền văn minh,
con người ta đã không an phận nhìn các sự việc xảy ra như
không liên hệ với nhau và không lý giải được. Họ khao
khát một sự hiểu biết cái trật tự tiềm ẩn trong thế
giới. Ngày nay chúng ta vẫn khao khát muốn biết tại sao chúng
ta ở đây và chúng ta từ đâu mà đến. Ý nguyện sâu kín
muốn hiểu biết của nhân loại đủ chánh đáng để chúng
ta tiếp tục cuộc tìm kiếm. Và mục tiêu của chúng ta không
ngoài việc mô tả toàn diện cái vũ trụ mà chúng ta đang
sống bên trong.