Chương
II
Ý
NGHĨA HỒNG DANH PHÁP HOA
I
- NGUYỆN HƯƠNG
Tích
môn là những gì chúng ta nhìn thấy, nắm bắt, suy nghiệm
được và Bổn môn thuộc phần sâu kín trong lòng người.
Đối với hành giả Pháp Hoa, niềm tin sâu xa tự đáy lòng,
hướng trọn về Tam bảo rất cần thiết cho việc học đạo,
hành đạo. Xây dựng trên niềm tin kiên cố, bài nguyện hương
mở đầu cho nghi thức thọ trì Bổn môn Pháp Hoa kinh.
Thật
sự tôi không biết làm thơ, nhưng bỗng dưng một ngày đẹp
trời, nắng ấm, bài tâm hương tuôn trào. Thiết nghĩ đó
là kết tinh của lòng thành trên 40 năm miệt mài thọ trì
kinh Pháp Hoa và đến thời điểm hữu duyên hình thành bài
nguyện hương như vậy. Tôi xin giới thiệu phần tâm hương
của Bổn môn Pháp Hoa mà tôi cảm nhận được để chia sẻ
an lạc, giải thoát với những pháp lữ đồng hành có cùng
độ cảm và nhân duyên với Pháp Hoa.
“Đốt
nén tâm hương trước Phật đài,
Ngũ
phần dâng trọn Đức Như Lai,
Cầu
xin nhân loại lên bờ giác,
Hạnh
phúc bình an khắp muôn loài.
Đốt
nén tâm hương cúng Phật Đà,
Lòng
thành gởi tận chốn bao la,
Cầu
xin Tam bảo thường gia hộ,
Đạo
pháp hoằng thông đến mọi nhà.
Đốt
nén tâm hương ở Ta bà,
Nhớ
lời di huấn Đức Thích Ca,
Cầu
xin Bồ tát Tùng địa xuất,
Thầm
giúp cho người tụng Pháp Hoa".
Bài
nguyện hương ngắn, đơn giản có 3 đoạn, 12 câu, nhưng mở
ra cánh cửa cho chúng ta vào đạo. Không qua được cửa này,
chúng ta hoàn toàn tuyệt phần đối với thế giới Bổn môn.
Mở
đầu, chúng ta đốt hương và nói lên tâm nguyện của mình.
Người Nhật rất kỹ về việc dùng hương. Họ không đốt
nhiều hương như chúng ta và cũng không dùng gỗ tạp để
làm nhang, vì đốt lên làm cho nước mắt, nước mũi dàn dụa,
ngộp thở, không thể nào thanh tịnh nổi. Nhang của họ rất
nhỏ, chỉ lớn bằng chân nhang của ta và không dài quá hai
tấc, họ thường chọn các danh hương là trầm hay ít nhất
cũng là bạch đàn.
Tuy
nhiên, dù hương thơm quý đến đâu, cũng chỉ là hương trần,
không có khả năng bay ngược gió, làm sao đi vào pháp giới,
đến với Phật và làm lợi cho chúng sanh được.
Hương
thơm bên ngoài, cùng với thân thể tắm rửa sạch sẽ, thuộc
duyên phụ, kết hợp với hương lòng, tức tâm thành của
chúng ta. Tâm tốt, hành động tốt, mới là phần chính yếu
đưa chúng ta đến với Phật được.
Đến
trước bàn thờ Phật, nghe mùi hương thơm nhẹ nhàng phảng
phất và bằng lòng thành cao độ, chúng ta quỳ xuống bạch
Phật:
“Đốt
nén tâm hương trước Phật đài. Ngũ phần dâng trọn Đức
Như Lai. Cầu xin nhân loại lên bờ giác. Hạnh phúc bình an
khắp muôn loài”.
Đây
là pháp tu từ ngoài lần vào tâm. Phần lớn khởi đầu, chúng
ta nhìn thấy tượng Phật hay vị sa môn giải thoát hoặc cảm
một câu kinh, bài kệ nào đó mà phát tâm đến với đạo.
Riêng tôi, luôn luôn đặt tượng Phật trước mặt, để hình
ảnh đẹp của Ngài thường xuyên thâm nhập vào tâm trí.
Khi tham thiền, lễ bái, hình ảnh Phật là đối tượng gần
gũi tôi nhất. Từ cách sống đem Phật bên ngoài vào lòng
như vậy, khi gặp nghịch cảnh thì Phật xuất hiện liền,
xoá mất hình ảnh xấu, khiến tôi không khởi bực tức mà
còn phát triển tâm từ.
Nhờ
Phật thường xuyên hiện hữu trước mặt, làm sống dậy
trong lòng, bất chợt một hôm quỳ trước tượng Phật, tôi
cảm nghĩ đây là tượng Phật ngồi đài sen, gọi là Phật
đài, không phải Phật thiệt. Tuy nhiên, qua làn khói hương
nhẹ nhàng, bằng độ cảm từ từ dâng lên, Phật cốt tan
biến lúc nào không hay, để hiện ra cho tôi một Đức Phật
thực khả kính. Lúc ấy, tôi chỉ còn một niềm tin trọn
vẹn đối trước Đức Phật đầy đủ ngũ phần Pháp thân.
Từ giây phút đó, cánh cửa của thế giới tôn giáo mới
bắt đầu thực sự mở ra.
Đức
Phật đã Niết bàn hơn 25 thế kỷ, nhưng Pháp thân Ngài vẫn
thường trú vĩnh hằng, nghĩa là sự nghiệp của Ngài để
lại cho chúng ta kết tinh trong năm phần chính. Trước nhất,
Đức Phật tiêu biểu cho đấng trọn lành, không phạm chút
lỗi lầm. Ngày nay, nhân loại nhắc đến, vẫn tôn vinh Ngài
là bậc đức hạnh vẹn toàn; tức Pháp thân giới đức của
Ngài vẫn sống mãi trên cuộc đời này. Từ nền tảng con
người giới đức hoàn toàn, tâm đức Phật luôn thanh thản
trước mọi hoàn cảnh thuận nghịch, xấu tốt, khen chê. Định
lực của Pháp thân Ngài uy nghi sừng sững trước mọi tác
động của phàm phu.
Tâm
hồn định tĩnh, giới đức vẹn toàn, phát xuất từ nguồn
tuệ giác siêu tuyệt của Đức Phật. Tuệ Pháp thân hay những
lời chỉ giáo của Ngài để lại trong tam tạng giáo điển
vẫn là kim chỉ nam soi đường dẫn bước cho những người
hướng thượng trên khắp năm châu. Mặc dù thành tựu mọi
việc khó khăn trên đường hành đạo, nhưng không việc nào
hay điều gì có khả năng ràng buộc, làm vướng bận thân
tâm Ngài, không còn vấn đề gì tồn đọng trong tâm trí,
tiêu biểu cho giải thoát và giải thoát tri kiến Pháp thân.
Đức
Phật vắng bóng trên cuộc đời, chúng ta nhớ nghĩ đến Ngài,
tức nhớ đến ngũ phần Pháp thân kể trên. Để đi theo con
đường Phật vạch ra tương ưng với ngũ phần Pháp thân,
chúng ta phải sử dụng năm phần tâm hương dâng cúng.
Trước
tiên, làm sao đốt cho được nén tâm hương để cúng Như
Lai mới quan trọng, không phải đọc suông cho sướng tai. Trong
cuộc đời tu hành, tôi đã từng thể nghiệm pháp tu này,
thâm nhập được thế giới Bổn môn, nên gợi ý cho quý vị
tự đốt hương lòng, đừng tưởng đọc nguyện hương cho
Phật nghe, thương ta.
Nén
tâm hương là gì và đốt bằng cách nào, dùng gì để đốt
? Chúng ta cần giải quyết những vấn đề mở đầu này mới
có thể thọ trì Bổn môn. Nếu không tìm ra nguyên liệu và
không biết cách đốt, có nói suông năm này qua năm khác cũng
vô ích. Ví dụ ai cũng biết sức mạnh của hạt nguyên tử
thật kinh khủng, nhưng hạt nguyên tử là gì và làm thế nào
để khai thác nó thành sức mạnh to lớn mới quan trọng. Nếu
chỉ giảng giải hoài trên lý thuyết thì nguyên tử cũng chỉ
là tên gọi như bao nhiêu tên khác, chẳng ăn thua gì.
Đức
Phật đã thành Vô thượng Đẳng giác vì Ngài biết rõ tâm
hương là gì và biết cách đốt tâm hương. Ngài dạy chúng
ta, còn phần thực chứng, mỗi người phải tự khám phá chúng
ta là gì. Có phải là tứ đại ngũ uẩn hay không ?
Đức
Phật khẳng định tứ đại ngũ uẩn không phải là TA, đốt
nó vô ích, vì từ vô lượng kiếp chúng ta đã đốt nó bao
nhiêu lần rồi. Chúng ta phải thay đổi ngũ uẩn như người
thay áo thôi. Từ đó, người tu phải tìm cho ra con người
thật trôi lăn trong sanh tử, đã mặc muôn ngàn chiếc áo khác
nhau trong các loài. Tìm được con người thật tức chơn tâm
hay Phật tánh hoặc Pháp thân, mà ở đây tôi dùng danh từ
tâm hương.
Đọc
bốn câu nguyện này nhằm nhắc lại ý Phật dạy trong kinh,
giúp chúng ta nhận chân được tâm hương quan trọng và phải
đốt được tâm hương. Đốt hương trong lư dễ, nhưng đốt
tâm cho thành hương không đơn giản.
Bước
đầu chúng ta mượn hình thức lư hương và đèn trí tuệ,
cùng nương theo bốn câu nguyện như là điểm tựa nhấc chúng
ta từ cuộc sống thực tế ngũ uẩn lên cuộc sống tinh thần.
Trên tinh thần đó, quỳ trước Phật, dâng nén hương châm
từ bản thể, tức bản tâm thanh tịnh, chúng ta nghe được
tiếng lòng phát lên chân tình. Bấy giờ đọc ra tiếng hay
không đọc, nhưng có công năng tách con người tâm linh ra khỏi
con người vật chất, vui buồn vinh nhục của trần gian đều
bị cắt đứt, đưa chúng ta về thể Không.
Ngược
lại, miệng đọc, tâm nghĩ lung tung, chắc chắn muôn đời
ở lại với sanh tử khổ đau. Chúng ta tu muốn đến thế
giới Phật, tất yếu phải từ bỏ thế giới phàm phu, trải
qua năm lần bảy lượt cương quyết thoát ly khỏi trói buộc
hạn chế của ngũ uẩn thân.
Đốt
hương bên ngoài xong, quỳ xuống phải đốt cho được tâm
hương là lòng thành của chúng ta. Không có lòng thành thì
hình thức trở thành vô ích. Ngược lại, tuy vật bên ngoài
dâng cúng đơn sơ mấy, nhưng chứa đựng tràn đầy lòng thành,
Phật vẫn chứng.
Thật
vậy, các vị Tổ sư đắc đạo sống cuộc đời đạm bạc,
không cúng phẩm vật đắt tiền như chúng ta. Tuy nhiên, chắc
chắn lòng thành của các Ngài cao hơn chúng ta nhiều vì đã
cống hiến cả cuộc đời tu hành theo chánh pháp Như Lai. Hoặc
câu chuyện bà già cắt búi tóc đem bán để mua dầu cúng
Phật. Về vật chất, những ngọn đèn của các vương tôn
công tử trị giá gấp bội lần ngọn đèn dầu chỉ đáng
một xu của bà lão. Nhưng trong tim đèn nhỏ xíu ấy tỏa rực
ánh sáng niềm tin tuyệt đối và lòng chí thành của bà lão
đến độ Đề Bà vận thần thông thổi không tắt được.
Vì
đốt hương lòng, chúng ta cần dùng lửa tam muội, tức chánh
định, nghĩa là khi chiêm ngưỡng Phật, Ngài tỏa sức thu
hút mạnh, tác động tâm ta hoàn toàn lắng yên đến mức
không còn biết đến hiện hữu của chính mình. Ta vẫn quỳ
đó, nhưng trong tâm không còn bất cứ vọng niệm nào. Lòng
thành và tâm bình ổn của chúng ta hòa vào nhau, phát ra tia
lửa, khiến cho hương lòng chúng ta bốc lên, tỏa khói, làm
ấm lòng ta và xông ngát hương thơm cho muôn loài. Nói cách
khác, việc quan trọng phải tu thế nào cho đạt hiệu quả,
có được tam muội chân hỏa sưởi ấm lòng mình và kế đến
giúp cho trí tuệ bừng sáng. Chúng sanh nương theo đó phát
tâm bồ đề, xa lìa phiền não, không phải đọc suông là
xong việc.
Màn
ngũ uẩn ngăn che ta và Phật bị lửa chánh định thiêu hủy
và biến đổi năm phần : sắc, thọ, tưởng, hành, thức của
ngũ uẩn thành năm phần tâm hương.
Bằng
lòng thành thông với Phật, chúng ta dâng cúng tâm hương và
Phật cho lại chúng ta phần Pháp thân. Cả hai đều ở bản
thể thanh tịnh, không có trên cuộc đời.
Trước
tiên, tu đúng chánh pháp, nghiệp chướng trần lao bị tiêu
hủy, tạo cho chúng ta thân mới là thân giới đức. Chúng
ta giữ trọn 5 giới hoặc 250 giới, 380 giới hay Bồ tát giới
và thể hiện thành việc làm lợi ích chúng sanh, khiến người
quý mến, tôn trọng. Chúng ta cảm hóa người bằng đức hạnh
và đem thành quả này dâng cúng cho Phật. Ngài nhận việc
làm tốt của ta, không phải nhận phẩm vật. Phật Niết bàn
có tự thọ dụng thân, không sống bằng thức ăn vật chất
nữa.
Tuy
dâng cúng tất cả cho Phật, nhưng hiểu cho cùng, chúng ta làm
cho chính chúng ta, vì tu hành càng cúng Phật, căn lành chúng
ta càng lớn thêm, đạo hạnh càng cao hơn. Thành tựu giới
đức là tạo được một phần tâm hương hay giới hương.
Kế
đến, chúng ta tu tạo định hương. Định hương tiêu biểu
cho tâm bình ổn, nhờ phá bỏ được thọ uẩn. Trong cuộc
sống, chúng ta luôn bị chi phối bởi khổ thọ, lạc thọ.
Cái gì làm chúng ta cảm nhận sung sướng và sống với nó
là lạc thọ, cái không vừa ý, dày vò ta mãi là khổ thọ.
Hết vui đến buồn, cứ như vậy, khổ vui bao vây hành hạ
tâm hồn chúng ta không ngừng nghỉ. Muốn bình ổn, chúng ta
phải từ bỏ cả hai, không nhận cái vui buồn của cuộc đời
tặng cho ta.
Đốt
cháy cảm thọ hay an trú xả thọ rồi, chúng ta thâm nhập
bể Không của Bát nhã, ai làm gì mặc họ. Tâm hồn hoàn toàn
yên tĩnh, việc đời không còn tác động. Người cầu nguyện
thực khác với người cầu nguyện giả ở điểm đó. Cầu
nguyện giả nên liếc qua liếc lại và tiếng khấn phát xuất
từ lòng tham lam ích kỷ. Trái lại, từ tâm hương cầu nguyện,
họ chỉ quỳ yên lặng. Và trong yên lặng đó, chúng ta thấy
cả một sức sống mãnh liệt toát ra. Tâm của người cầu
nguyện hoàn toàn định tĩnh, phiền não nhiễm ô không quấy
rầy, không có gì trên cuộc đời có sức thu hút cám dỗ,
mới có tư cách cúng dường, thông được với Phật và nhận
được Phật lực hộ niệm.
Khi
thành tựu được định hương, cảm thọ đã dứt, không còn
nghĩ tưởng đủ thứ như trước, nên tưởng uẩn cũng theo
đó chấm dứt. Nhờ hết sạch vọng tưởng điên đảo, chuyên
tu Thiền quán, chúng ta phát huệ. Lúc ấy, những gì phát xuất
từ tâm bừng sáng đều là Pháp Hoa hay Tối thượng viên giáo,
không loại bỏ gì, tất cả đều là nhân của Vô thượng
Bồ đề. Tâm bừng sáng, thâm nhập được những gì Phật
muốn truyền trao và nắm bắt được yêu cầu của thế gian,
tùy theo đó giúp đỡ, khai ngộ cho người. Hiểu biết sáng
suốt, dứt trừ phiền não cho mình và làm lợi ích cho người,
kết thành huệ hương dâng cúng Phật.
Phật
tại thế thuyết pháp làm trời người an lạc thế nào thì
ngày nay ta cũng làm như vậy để cúng dường Phật. Trên tinh
thần ấy, tôi rất vui khi hướng dẫn quý vị tu thanh tịnh
; nhưng quý vị không thanh tịnh, tôi tự thấy mình có lỗi
với Phật.
Có
được giới định huệ hương sẽ dẫn chúng ta đến giải
thoát và giải thoát tri kiến hương. Trước khi tu, chúng ta
muốn và nghĩ đủ thứ. Đến lúc vào chùa, chạm phải thực
tế lại khác, việc không giống như chúng ta tưởng, nên dễ
trở thành bực bội, chán nản, gây gổ. Đó là tâm của người
mới phát tâm đầy tham vọng.
Trải
thời gian dài thọ trì kinh điển, như pháp tu hành, nhận ra
người và việc hiện hữu đều có lý do, muốn khác không
được. Muốn hoàn toàn là tham vọng. Tâm bình ổn thấy được
thực tế, những gì tồn tại đều có ý nghĩa. Hết duyên
thì có muốn cũng không được, còn duyên thì muốn xóa cũng
không nổi.
Với
huệ sáng suốt, dưới mắt Thiền sư, những tồn tại trên
nhân gian không có gì không phải đạo, không gì không đẹp.
Các Ngài sống trong trần lao mà hoàn toàn giải thoát; khác
với kẻ ở chốn giải thoát thiền môn mà vẫn đầy ắp
tranh chấp, triền phược.
Nếu
chúng ta thực sự giải thoát, mọi gương mặt đỏ, đen, trắng,
vàng đều không chướng ngại. Đó là một thực thể tiêu
biểu cho nghiệp của chúng sanh. Nhờ nó mà chúng ta thấy chân
lý, hiểu chân lý và đến gần chân lý. Và cũng nhờ đó
mà chúng ta rèn luyện ý chí của người xuất gia cầu đạo.
Tu
đúng pháp, chứng được quả giải thoát, không ai dám làm
phiền chúng ta. Người còn gây khó khăn được là biết chúng
ta còn nghiệp, thầm cảm ơn họ giúp ta phát giác ra nghiệp
và tiếp tục sám hối. Chẳng những giải thoát được những
khó khăn, bức ngặt của cuộc đời, chúng ta còn nhẹ nhàng
thanh thản với mọi thành quả tạo được; khác với người
thế gian càng thành công thì càng bị công việc bao vây phiền
toái hơn.
Chúng
ta xếp những thành quả đạt được cho vào quá khứ, không
nhớ tiếc cái đã qua, không mơ mộng điều chưa đến. Chỉ
có một niệm hiện tiền, một lòng thẳng tiến, giải quyết
việc trước mắt cho tốt đẹp, không còn gì khắc khoải,
thắc mắc trong lòng.
Thức
uẩn hay tri kiến thế gian biến mất để Phật huệ sanh, tạo
thành giải thoát tri kiến. Ai đến với hành giả cũng được
an vui. Điển hình như Xá Lợi Phất, một đại luận sư biết
nhiều, nói giỏi, nhưng không ai khổ tâm hơn Ngài. Bất chợt
gặp Ngài Mã Thắng đi khất thực, không nói. Trong yên lặng
của con người chứng đắc Pháp thân giải thoát tri kiến,
đã tác động cho Xá Lợi Phật giải thoát, tất cả thao thức
ngàn đời tự rơi rụng.
Trong
năm phần tâm hương, hôm nay chúng ta dâng cúng Phật được
một phần, ngày mai cúng thêm được hai phần. Cứ như vậy,
y theo pháp tiến tu để cúng Phật thì trên bước đường
tu, mỗi ngày đạo đức chúng ta cao hơn, tâm hồn giải thoát
hơn, hiểu biết sâu rộng thêm. Những thành quả chúng ta đạt
được tương ưng với năm phần Pháp thân Phật mới có thể
dâng cúng được. Trái lại, ở trong cung điện xông ngát hương
trầm, nhưng không có năm tâm hương, Phật cũng không đến
được. Trên tinh thần ấy, kinh Pháp Hoa dạy bất cứ chỗ
nào có lòng thành, có đạo đức, trí tuệ, chỗ đó có Phật,
dù là ngã tư đường hay đồng trống hoặc điện đường.
Như
vậy, cúng hương nhằm nhắc nhở chúng ta phải trang bị năm
phần : giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.
Ngày nào chúng ta cũng quỳ đọc bạch Phật, hứa cúng, nhưng
không cúng vì có năm phần hương đâu mà cúng. Chúng ta đã
phạm tội nói láo nặng.
Tôi
rút gọn nguyện hương thành tâm hương, tức là bằng tâm
thành tương ưng với Pháp thân Phật, chỗ nào cũng cúng được,
vì không đâu không có Pháp thân.
Từ
năm phần tâm chúng ta kết hợp với năm phần Pháp thân Phật,
hình thành một thế giới tín ngưỡng, lúc đó mới khả dĩ
nói bằng tâm, hay thốt lên : “Đốt nén tâm hương trước
Phật đài. Ngũ phần dâng trọn Đức Như Lai”. Tất cả những
gì tôi hiểu biết, tu hành đạt được kết quả tốt, tôi
xin dâng cho Phật.
Khi
lòng thành và năm phần tâm của chúng ta tự nhiên hội nhập
với Pháp thân Phật, chúng ta có yêu cầu : “Cầu xin nhân
loại lên bờ giác. Hạnh phúc bình an khắp muôn loài”.
Thiết
nghĩ cúng cho Phật, nhưng chúng sanh phải được hưởng, phải
phát tâm, mới đi đúng lộ trình Bồ tát đạo, thực hiện
đúng nguyện của Như Lai. Ý này thường được kinh diễn
tả : Thành tựu chúng sanh là cúng dường Phật.
Hành
động cúng Phật, lòng chí thành và việc làm tốt của chúng
ta dâng cúng Như Lai, nhưng thực Như Lai có dùng đâu. Cúng
Như Lai xong, tất cả thành quả này quay về cho nhân loại.
Năm phần hương : giới, định, huệ, giải thoát và giải
thoát tri kiến ở trong yên lặng, đốt từ bản thể, cúng
Như Lai mười phương. Và bản tâm thanh tịnh cuộn theo làn
hương, âm thầm lặng lẽ đi vào lòng người, giúp họ xa
rời vọng tưởng điên đảo, phát tâm bồ đề. Từ đó,
thấy được việc nào đáng làm và không nên làm, nên đều
thành tựu tốt đẹp, tứ sanh lục đạo nương theo được
bình an. Trái lại, nếu không làm được như vậy, chúng ta
đã phạm tội phá pháp.
Khi
chưa thành tựu năm phần Pháp thân, chúng ta khó giáo hoá được
chúng sanh, vì càng xây dựng nó càng chống trái. Nhưng trang
nghiêm được thân tâm bằng năm phần Pháp thân, việc làm,
lời nói của chúng ta đều là chân lý. Hành giả vào đời,
mỗi người đi một hướng để đưa tất cả chúng sanh lên
bờ giác. Đó là mục tiêu trước nhất. Nhờ tâm tiếp cận
Pháp thân Phật, chúng ta được an vui, giải thoát, nên cũng
ước mơ cho người thân kẻ oán đều tiếp thu ánh sáng trí
tuệ Phật và cảm nhận sự an lành trong pháp giống như chúng
ta.
Đoạn
niệm hương này tuy ngắn, nhưng quan trọng. Không làm đúng
như vậy, không nhấc ngũ uẩn thân thành tâm hương đi vào
thế giới Phật để cầu nguyện, thì tụng trăm ngàn lần
cũng vô ích.
Thâm
nhập dâng cúng năm phần tâm hương cho Phật, tâm trí chúng
ta luôn sống dậy Phật, pháp, Thánh Hiền. Từ đó, tạo thành
thế giới Thật Báo của Phật trong tâm tưởng, nên dù cuộc
sống có hẩm hiu, chúng ta vẫn cảm thấy an lành. Đó là giai
đoạn hai, thế giới của tâm, của niềm tin hiện ra.
“Đốt
nén tâm hương cúng Phật Đà. Lòng thành gửi tận chốn bao
la”.
Tâm
hương chúng ta gởi theo mây khói, đi xa hơn nữa, tới mười
phương bao la, không cùng tận, chỗ nào có Phật, lòng chúng
ta sẽ đến đó cúng. Ý này được diễn tả trong kinh Hoa
Nghiêm : “Nhất thân phục hiện sát trần thân, nhất nhất
biến lễ sát trần Phật”.
Chúng
ta có nhân duyên căn lành, đời này bị kẹt trong xác thân
ngũ uẩn nên thường bị vướng mắc với hiểu biết giới
hạn của sáu giác quan. Tuy nhiên, nhờ có lòng thành cao, niềm
tin lớn, chúng ta phá tung được vỏ ngũ uẩn, sáu giác quan
của thân không còn tác dụng nữa.
Người
nào có sống với cảnh giới Thiền định dễ nhận ra điều
này. Chúng ta lìa ngũ uẩn vì lòng để vào thế giới Phật,
nên mười phương Phật hiện ra. Nói cách khác, từ con người
ngũ uẩn của chúng ta biến thành niềm tin, thành tâm hương
thâm nhập pháp giới, đi khăép mười phương. Tùy lòng thành
của chúng ta muốn đến đâu cũng được, vì đi bằng tâm
niệm, không phải dùng xác phàm. Đây là loại hình thế giới
tu chứng do tâm thành tột đỉnh mà tạo được.
Trên
bước đường tu, thâm nhập được thế giới bao la, tức
giới đàn vô tướng, có được những kỳ diệu, như một
Phật tử đến nói với tôi rằng : “Con đã thấy Thầy mười
mấy năm trước”, mặc dù trên thực tế thì đây là lần
đầu gặp tôi. Điều này gợi cho tôi hiểu vô tướng giới
đàn có khả năng mang tâm đại bi đi cùng khắp. Ta không có
ý nghĩ đến với họ, nhưng ai có nhân duyên thì tự nhiên
nhận được tương ưng.
Ngài
Thiên Thai giải thích ý này bằng ví dụ nước không lên trăng,
trăng không xuống nước, nhưng trong nước có trăng. Cảm ứng
đạo giao ở trong vô hình, chúng ta không thể thấy bằng mắt
và khó giải thích được, nhưng có thực. Giống như âm thanh
và hình ảnh đưa vào thể điện, không thấy, nhưng truyền
đi khắp mọi nơi.
Cũng
vậy, người tu Bổn môn ngồi yên, tham thiền, tụng kinh, chuyển
làn sóng điện vào vô tướng giới đàn và từ đây truyền
xuống tâm thức của tất cả người có nhân duyên căn lành.
Họ tiếp thu được và nghĩ đến ta, phát tâm bồ đề, thoát
được khổ ách. Thành tựu được pháp này chứng tỏ chúng
ta đã sử dụng được tâm hương ở giai đoạn hai.
Tuy
lòng thành của chúng ta gởi tận chốn bao la, nhưng có định
hướng rõ rệt, thể hiện qua lời : Cầu xin Tam bảo thường
gia hộ. Tam bảo : Phật, pháp, Tăng là ba nơi mà chúng ta gởi
tâm tới, không bao giờ lạc hướng.
Phật
bảo hay hiểu biết sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta
hướng tâm gởi lòng thành đến đó, đến bất cứ người
nào sáng suốt, giác ngộ hay lòng mong cầu của chúng ta là
mong cầu Vô thượng Bồ đề. Kế đến, màn vô minh che kín
cuộc sống con người, chẳng ai biết bên kia cửa tử, chúng
ta sẽ ra sao, chỉ trừ các bậc lục thông La hán. Vì vậy,
tôi thường suy nghĩ về quả vị A la hán cho chúng ta biết
được ngày giờ mãn duyên ở cuộc đời này, biết được
người đến với chúng ta vì yêu cầu nào, giúp ích hay ám
hại chúng ta. Nói chung, hàng đệ tử Phật thực tâm tu hành,
ít nhất đều hướng đến quả vị lục thông La hán, từ
bỏ tất cả toan tính của thế nhân, biết tất cả việc
xảy ra cho ta và người, nghĩa là biết chân lý hay là pháp.
Sau cùng, chúng ta nguyện đến với bậc chân tu thật học
Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác để cùng làm pháp lữ tu hành.
Khi
tham quan thế giới Phật, sống thân cận với Tam Bảo, chúng
ta ước mơ Đức Phật ứng hiện trên cuộc đời, Bồ tát
xuất hiện cứu khổ ban vui cho người, vì sức của chúng
ta có giới hạn, khả năng yếu kém, thân phận hẩm hiu, thì
làm gì được. Vì vậy, chúng ta khởi ý niệm mong cầu “Đạo
pháp hoằng thông đến mọi nhà”.
Nhà
ở đây phải hiểu là nhà ngũ uẩn, tức từng con người,
từng tâm hồn. Mong sao ai cũng tin Phật, không tin tà ma.
Tin tà ma là tin gian dối sẽ giàu có. Tin Phật là tin nhân
quả, nên phải sống đời sống chân chính. Tin Tam Bảo là
tin trí tuệ sáng suốt, tin chân lý và tin người làm tốt,
chắc chắn thế giới này sẽ an lành.
Ở
giai đoạn hai, tu hành cầu nguyện, từ tâm đi vào thế giới
bao la của Phật và sang giai đoạn ba, từ bao la trở về thực
tế Ta bà. Trước ở thế giới Phật lý tưởng, thấy Phật,
nghe pháp, đẹp tuyệt vời bao nhiêu, thì nay trở lại Ta bà,
thấy thực tế kinh dị bấy nhiêu.
Tuy
nhiên, dù có phũ phàng đến đâu, chúng ta bình tâm lại, mở
mắt huệ ra mà quan sát thực tế, xét coi con người thực
của mình là gì, tiền bạc có bao nhiêu, đạo đức và hiểu
biết đến đâu. Thiên hạ cần gạo, chúng ta đáp lại bằng
gạo, hỏi kỹ thuật phải trả lời kỹ thuật, hoặc nhờ
che chở trước thế lực ác, chúng ta sẵn sàng bảo vệ họ.
Như vậy, trở lại Ta bà tu, phải thấy rõ tâm địa từng
người mà đối xử. Mỗi người có hoàn cảnh sống và tu
khác nhau, phải giải quyết được tất cả yêu cầu cho người.
Đối
trước vấn đề quá khó như vậy, trong khi thân phận nghèo
hèn, khổ nhục của chúng ta sống trong sanh tử khổ đau, làm
sao giải quyết đây ? Nếu thực lòng tu, mặc dù còn
nhiều phiền muộn khổ đau bao vây bức bách chúng ta hoặc
còn bận rộn nhiều việc, chúng ta cũng quyết chí dành một
niệm tâm, một niệm thức tỉnh nhỏ bé nào đó, phát tâm
Bồ đề tu hành. Những việc lớn lao chúng ta không làm nổi,
chỉ cố gắng nuôi dưỡng một niệm, tự dặn lòng rằng
Ta bà là như thế, ai có xấu với ta thế nào đi nữa, chúng
ta cũng đừng tệ với họ. Nó Ta bà, nhưng chúng ta phải giữ
tâm hương để làm sợi chỉ vàng nối tiếp ta xuyên suốt
với thế giới Phật. Ngược lại, nó Ta bà, ta cũng Ta
bà lại, chúng ta đã đánh mất dây liên hệ với Phật, đành
phải ở luôn thế giới phàm phu này với họ ! Còn gì kinh
khủng hơn nhỉ !
Trước
thực tế Ta bà như vậy, chúng ta không gửi tâm hương đi
thế giới khác nữa, phải đốt nén tâm hương ở Ta bà. Nhắc
đến Ta bà, chúng ta nhớ ngay đến đấng giáo chủ cõi này
là Đức Thích Ca, vị Thầy duy nhất mà chúng ta cần nương
theo tu hành.
Kinh
Pháp Hoa, phẩm Như Lai thọ lượng đã khẳng định rằng Đức
Phật không chết, Ngài vẫn thường trụ ở Ta Bà thuyết pháp,
che chở chúng ta, nhưng chỉ người nào có tâm ý ngay thật,
diệu hòa, mới thấy Phật. Chúng ta đi khắp mười phương
cũng không thấy Phật nào khác ngoài Đức Thích Ca, vì Ngài
xác định rằng ở chỗ khác, Ngài có tên khác, mang loại
hình khác. Vì vậy chúng ta đến đâu đều có Đức Thích
Ca hiện hữu bên cạnh, nên thốt lên : “Nhớ lời di huấn
Đức Thích Ca. Cầu xin Bồ tát Tùng địa xuất. Thầm giúp
cho người tụng Pháp Hoa.”
Đức
Phật dạy rằng Bồ tát mười phương đến Ta bà trợ hóa
rồi cũng về bổn địa của các Ngài. Duy có Bồ tát Tùng
địa dũng xuất giữ tạng bí Như Lai, phát nguyện giữ gìn
người thọ trì kinh Pháp Hoa sau Phật diệt độ ở Ta bà.
Tôi
cảm nhận sâu sắc lực gia bị vô hình của Đức Từ Phụ
Thích Ca Mâu Ni và Bồ tát Tùng địa dũng xuất luôn mật tá
cho tôi trên bước đường tu, giúp tôi luôn sống trong an lành,
thành tựu được Phật sự, mặc dù không tài giỏi, không
khoẻ mạnh. Nhờ lực vô hình sắp xếp cho tôi làm đạo,
khiến người lớn che chở tôi, người nhỏ thì tận tình
với tôi. Những điều thật tốt, không tính toán được,
do người không quen biết giúp đỡ bất ngờ trong cuộc sống
tu hành, chúng ta thường gọi nôm na là gặp quý nhân. Khi chúng
ta gặp tai nạn, khó khăn, họ giúp không cần trả ơn và chúng
ta tìm họ cũng không được. Trong đời tôi từng gặp không
biết bao ân nhân mà tôi muốn trả ơn không được. Đối
với tôi, đó là Phật gia bị cho Bồ tát Tùng địa dũng xuất
đến giúp tôi vượt khó khăn, nguy hiểm một cách nhẹ nhàng.
Được
các Ngài mật tá rồi, chúng ta tiến tu thanh thản. Tuy nhiên,
vì nhìn thấy người khác tu Pháp Hoa không đúng pháp, bị
nhiều tai nạn, khổ đau, chúng ta khởi tâm từ bi, nhờ Bồ
tát Tùng địa dũng xuất thầm giúp cho họ cũng được may
mắn như hành giả.
Đọc
câu kệ cuối cùng này, có người chỉ trích rằng tôi ích
kỷ vì chỉ xin Bồ tát giúp cho người tu Pháp Hoa.
Theo
tôi, chúng ta tu hành cần phải kiến lập đạo tràng hay chuyên
môn hóa pháp môn tu mới có kết quả. Ở Nhật, họ rất chú
trọng vấn đề này. Họ có nhiều tông phái, mỗi tông tu
khác nhau, người tu Thiền phải vào Thiền đường, không thể
tu chung với người chuyên trì chú hay niệm Phật được. Chúng
ta không chống nhau, vì tất cả pháp đều tốt, nhưng cách
hành trì mỗi pháp khác nhau, nên tu chung sẽ thành chỏi nhau,
chín người mười ý sao tu được.
Người
tu Pháp Hoa mới có độ cảm và liên hệ với Bồ tát Tùng
địa dũng xuất vì các Ngài chỉ hiện hữu trong thời Pháp
Hoa và phát nguyện hoằng truyền, hộ trì người trì kinh Pháp
Hoa mà thôi.
Chúng
ta cầu nguyện Bồ tát Tùng địa dũng xuất, trong đó có bốn
vị thượng thủ : Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh,
An Lập Hạnh. Bốn vị này tiêu biểu cho bốn đức. Chúng
ta phải thành tựu một trong bốn đức giống các Ngài, tức
đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, mới có thể
bước vào thế giới Pháp Hoa mầu nhiệm.
Bồ
tát Tùng địa dũng xuất phát nguyện hành đạo mãi mãi ở
Ta bà, người trì kinh Pháp Hoa cũng có nguyện như vậy. Chúng
ta sống trên cuộc đời thể hiện được một trong bốn hạnh
của các Ngài và Bồ tát ẩn mật giúp đỡ chúng ta. Đó là
sợi dây liên hệ giữa ta và các Ngài. Đọc đến đây, chúng
ta tự cảm trong thế giới vô hình có hàng hàng lớp
lớp Bồ tát gia bị đến, chúng ta rất yên lòng. Các Ngài
thầm giúp, không ai thấy, nhưng ta cảm nhận được sự trợ
lực ấy, mới dám phát nguyện ở lại đây, không sợ.
Tóm
lại, ba đoạn ngắn của bài kệ nguyện hương phát xuất
từ tâm thành, tạo mối liên hệ mật thiết giữa ta, Phật,
Bồ tát hữu hình, vô hình và chúng sanh ; không phải là lời
rên rỉ van xin mà không được gì.
Từ
khởi tu của phần tâm hương giúp chúng ta phát bồ đề tâm,
thâm nhập đạo tràng, tiến tu giải thoát và mang an lạc đến
cho người. Từ thế giới hiện tượng này, chúng ta tiến
sang thế giới Thật báo của chư Phật mười phương, nghe
được pháp âm Phật và thấy Phật nhiều hơn. Bấy giờ,
mọi người, mọi vật được ảnh hiện qua lăng kính tâm
của chúng ta. Tùy tâm mà tạo ra xấu đẹp, vui khổ. Vì vậy
người tu không dại gì thấy xấu để khổ. Lúc nhỏ, tánh
tôi dễ bực, nên tôi tập nhắm mắt nhìn vật để thấy
thế giới đẹp bằng tâm bồ đề. Thấy bằng tâm tham vọng,
đẹp không nổi.
Sau
cùng, tâm hương đưa chúng ta đến thế giới Thường Tịch
Quang, nhìn nhau dưới dạng Bồ tát Tùng địa dũng xuất thân
màu hoàng kim, tiêu biểu cho ý Phật dạy tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh.
Tôi
nhận được cốt lõi này, ứng dụng trong cuộc sống tu hành,
chỉ tiếp xúc với ông Phật bên trong của người, với tâm
bồ đề của họ, không giao thiệp với nghiệp ác bên ngoài,
thì người xấu ác cũng trở thành tốt với tôi.
Mong
rằng Tăng Ni Phật tử sử dụng được tinh ba của ba lời
nguyện này trong cuộc sống tu hành để tâm hương của mỗi
người chúng ta ở Ta bà mỗi ngày tỏa rộng lan xa cho cuộc
đời này mãi mãi thơm ngát hương giới đức, hương từ bi,
hương trí tuệ.
II
- TÁN THÁN PHẬT
Xây
dựng xong phần tâm hương đúng pháp, chúng ta mới thiết kế
đạo tràng để thâm nhập pháp giới. Vì vậy, lúc nguyện
hương, lực tập trung cao, tạo nên pháp giới thanh tịnh, chúng
ta tiến tu, thực hành thêm được pháp khác. Hiểu như vậy,
chúng ta nhận ra có lúc tụng kinh không thanh tịnh, không kết
quả vì bố trí đạo tràng chưa đúng pháp. Chúng ta chỉ nói
bằng lời, chưa thực nói bằng tấm lòng.
Nguyện
hương, dâng lời tâm nguyện xong, giữa ta và chư Phật, Bồ
tát thông nhau. Lúc ấy, không còn tượng Phật và ta bằng
xương thịt, nhưng hiện hữu con người tâm linh của chúng
ta thông qua Báo thân Phật viên mãn phước đức, trí tuệ
ở thế giới Thật báo trang nghiêm.
Thấy
Phật bằng năm phần tâm hương, chúng ta mới phát ra lời
khen ngợi công đức của Phật gọi là tán Phật. Trong 10 hạnh
nguyện của Phổ Hiền Bồ tát, có pháp tu thứ nhì là xưng
tán Như Lai.
Chúng
ta khen ngợi công đức của Phật và lạy Phật, hai phần này
phải liên hệ hỗ tương mật thiết với nhau. Nhiều người
phạm sai lầm khi tu hai pháp này tách rời ra. Không kết hợp
được pháp lạy Phật và ca ngợi Phật thì công đức khó
sanh. Thấy người lạy cũng bắt chước mà không hiểu tại
sao lạy. Trên bước đường tu, phải tìm thấy đức hạnh
của Phật, khiến chúng ta có độ cảm và bấy giờ đảnh
lễ Phật bằng tất cả lòng thành, bằng niềm cung kính tuyệt
đối, công đức mới sanh.
Từ
xưa có nhiều bài tán Phật bằng chữ Hán rất hay, nhưng nay
tôi thấy nhiều người không biết chữ Hán, nên đọc suông,
không cảm được, quả là uổng công. Thiết nghĩ người Nhật
có kệ tụng tiếng Nhật, Trung Hoa có kệ tụng của họ. Tại
sao chúng ta không sử dụng bài tán thán Phật bằng chữ Quốc
ngữ cho dễ hiểu.
Khởi
niệm như vậy và đến một ngày hữu duyên, do độ cảm Phật
trong 40 năm tu hành, tự đáy lòng tôi phát ra bài kệ ca ngợi
công đức Phật :
Tâm
Thế Tôn mảy trần không bợn
Thân
của Ngài vô tận phước lành
Từ
bi cứu khổ độ sanh
Chúng
con đảnh lễ chí thành quy y.
Nhìn
Phật hay nhìn thân tâm Ngài để chúng ta bắt chước cách
sống bên ngoài và đời sống nội tâm của Phật. Kiểm điểm
diễn biến tâm linh và hành động của chúng ta, so với Phật,
từ đó tự điều chỉnh thân dần dần cho giống Phật.
Tâm
của Phật thanh tịnh, một chút xíu phiền não bằng hạt bụi
cũng không dính vô được. Riêng chúng ta thường làm ít hay
không làm được gì, nhưng lại thích khoe khoang, kể công.
Nay quan sát thấy Phật hoàn toàn khác hẳn. Ngài trải vô lượng
kiếp tu hành, thành Vô thượng Đẳng giác, hiện thân mười
phương giáo hoá chúng sanh, nhiều không thể tính kể. Trong
pháp giới, không riêng loài người, mà cả bốn loài đều
xem Ngài là đấng cha lành. Với vị trí cao tột như vậy,
Đức Phật vẫn hoàn toàn thanh thản, lắng yên. Công đức
Ngài tu tập từ quá khứ đến tận vị lai không bao giờ dứt.
Tuy nhiên, tâm Ngài hoàn toàn trong suốt, giải thoát, lòng không
vướng bận chút gì với những thành quả ấy. Từ so sánh
đó, chúng ta xấu hổ, ăn năn, sửa mình lần, xoá bỏ những
gì tồn tại trong lòng để tâm được thanh tịnh giống Phật.
Thân
của Phật trang nghiêm bằng phước đức, trí tuệ thật lớn
lao, vun chứa không biết bao công đức lành. Thật vậy, quan
sát Báo thân Phật, nhận ra điều này rõ ràng. Mọi người
làm gì cũng tự nguyện hồi hướng phước báo đến Ngài.
Thực tế, xây chùa thờ Phật hay hoạt động Phật sự, nghĩa
là nhắc đến Ngài, nhân danh Ngài để làm thì hằng tâm hằng
sản dư thừa, ai cũng hết lòng. Trong khi chúng ta mang sổ đi
xin tiền, họ có cho cũng khó chịu.
Chúng
ta so sánh thân vô tận phước lành của Phật với thân phận
nghèo đói hẩm hiu của mình để ăn năn, tu hành. Đọc với
tâm niệm đó mới thực tu.
“Từ
bi cứu khổ độ sanh. Chúng con đảnh lễ chí thành quy y”.
Khi
chúng ta quy y với Phật, phải có lý do. Chúng ta không nương
theo người nào, nhưng đối với Phật thì sẵn lòng dâng cả
thân mạng, không tiếc, không sợ. Thân tâm Phật đầy đủ
những điều thiện mỹ. Tuy nhiên, kết lại, lấy lòng từ
bi là chính. Phật chỉ sống với tâm từ bi, nên Ngài yên
lặng, nhưng ai nghĩ đến Ngài đều được an vui giải thoát.
Chúng
ta cũng đem so sánh lòng từ bi của mình với lòng từ bi của
Phật. Lòng từ bi của chúng ta có chăng cũng chỉ giới hạn,
cũng chỉ thương được người tốt với ta, không thể thương
được người đánh chửi mình. Người muốn xin tiền ta, họ
phải nói điều đau khổ cùng tột để chúng ta động lòng
từ bi mới cho. Như vậy, lòng thương của chúng ta trốn sâu
trong lòng. Trái lại, lòng từ bi của Phật đầy ắp, tràn
cả bên ngoài, thể hiện từ ánh mắt đến dáng đi, lời
nói, cử chỉ, không chỗ nào trên thân Ngài không hiện từ
bi. Nhờ so sánh vậy, lần hồi tu theo Phật, chúng ta mới hiện
được lời nói của từ bi, nét mặt của từ bi, việc làm
của từ bi.
Mở
cuộc hành trình từ Ta bà đi lần vào thế giới Thật báo
và thế giới Thường tịch quang, chúng ta thấy rõ lòng từ
bi của Phật đạt đỉnh cao và cụ thể hoá bằng việc làm
giáo hóa tất cả chúng sanh, không bỏ sót một loài nào. Cảm
đức độ Ngài cao xa vời vợi mà thành kính rớt nước mắt,
cúi đầu thốt lên : “Chúng con đảnh lễ chí thành quy y”.
Đó
là phương cách tu theo giáo tông, đem hình ảnh Phật và giáo
lý vào lòng để từ từ lòng chúng ta thanh tịnh giống Phật,
cho đến hiện thân bên ngoài và hành động giống Phật.
Thấy
Phật, nghĩ Phật như vậy, chúng ta lạy Phật mới không cảm
thấy mệt mỏi, nóng bức. Riêng tôi, trời nóng, tôi lạy
Phật không đổ mồ hôi và thấy được công đức hiện ra.
Tuy nhiên, điều này không đơn giản, không phải lúc nào chúng
ta lạy cũng dễ dàng có độ cảm và gặt hái được công
đức.
Cảm
nhận sâu sắc phước đức vô lượng của Phật, chúng ta
mới đảnh lễ xin theo Ngài. Bước đầu tu hành theo Phật,
tôi thấy khó vô cùng. Đức Phật từ thế giới Thường tịch
quang hiện thân lại thế giới này và Ngài từ Ta bà trở
về đó. Ngài qua lại hai thế giới ấy thật quá dễ dàng.
Riêng chúng ta từ đây muốn về thế giới Phật quá khó khăn.
Chúng ta xin theo Phật về thế giới của Ngài, nhưng xin là
một lẽ, có đi được hay không là việc khác. Phải có thân
tâm như Phật mới vào ra thế giới Ngài dễ dàng. Chưa giống
Phật, dù có nói hoài, chúng ta vẫn cứ ở đây trơ trơ, chẳng
đi đến đâu. Làm thế nào để đến được với Phật, đó
là tiền đề cho chúng ta suy nghĩ trên suốt lộ trình Bồ
tát đạo vậy.
III
- ĐẢNH LỄ PHẬT
C húng
ta tán thán Phật có độ cảm rồi, bắt đầu lạy Phật.
Pháp tu lạy Phật giúp thân tâm thanh tịnh, rất cần cho chúng
ta ở đời sau. Thật vậy, hàng thượng căn thượng trí vào
đạo bằng cửa pháp, cửa tâm. Người thấp hơn một nấc,
nghe Phật nói thí dụ hay điều tương ưng với họ, liền
liễu ngộ, tự điều chỉnh tâm ý thành thanh tịnh.
Hạng
người thứ ba không có khả năng chứng ngộ lời Phật dạy,
cần lạy Phật, sám hối để tiêu nghiệp, thấy đạo. Từ
thuở nhỏ xuất gia, tôi siêng năng hành trì pháp lễ Phật,
nhận được nhiều lợi lạc. Vì nghiệp chướng của chúng
ta sâu nặng, thì thân cận người làm họ khó chịu, nghi ngờ,
như vậy nghiệp ác ta càng dễ sanh. Chúng ta cố gắng lo cho
họ, họ cũng không cần.
Theo
tôi, chúng ta không cần chiều họ, vì vô ích, nên để tâm
hướng đến Phật, Bồ tát thì tốt hơn. Các Ngài có tâm
đại bi, thương chúng sanh vô điều kiện, người trần gian
không thể có tâm đó. Những vị chân tu đắc đạo đã vượt
ngoài tám tướng sai biệt, đầy đủ khả năng lăn xả vào
đời để cứu độ người nhiều nghiệp chướng.
Chúng
ta lạy Phật, Bồ tát, hướng tâm đến các Ngài cầu gia bị,
tâm cũng tự thanh tịnh lần. Kinh nghiệm tôi trên bước đường
tu, lúc nhỏ thường bệnh hoạn, ốm yếu, người nhìn thấy
nghi ngờ tôi ho lao.
Tuy
nhiên, tôi hết lòng lạy Phật, gần Phật, Ngài không chê.
Nói đúng hơn, lòng tôi thích nghĩ đến Phật hơn là nhớ
đến người trần thế, nên cũng không muốn gần họ. Lúc
đó, tuy mang thân nghiệp, nhưng tâm thông được với Phật,
tôi có cảm giác hơn người thế tục, vì bỏ xác này, tôi
còn biết đường đi về với Phật. Nhờ không quan tâm đến
chúng sanh, lo tu cho chính mình, trải qua thời gian dài, độ
cảm tâm với Phật cao, phiền não thế gian không tác hại.
Từ đó, nghiệp tiêu, tâm hoan hỷ sanh, tướng hảo hiện.
Bước
đầu lạy Phật, mệt đẫm mồ hôi là biết nghiệp ta nặng.
Dần dần, nghiệp tiêu, hôi dơ cũng mất, không còn đổ mồ
hôi. Và tiến hơn nữa, không cảm thấy mệt mỏi, nhưng thấy
vui. Cho đến không lạy Phật, có cảm giác như thiếu hụt,
mất mát. Điều này chứng tỏ nghiệp ác giảm, căn lành tăng
trưởng.
Đạt
được thành quả ấy, người xem thường chúng ta bắt đầu
để ý, tìm hiểu về ta. Tuy nhiên, khi căn lành sanh, phải
cố gắng nuôi dưỡng nó. Nếu không, căn lành sẽ ốm bịnh,
chúng ta trở thành nhất xiển đề, không tu được. Thực
tế cho thấy nhiều người tinh tấn một thời gian, sau lại
trở nên ác xấu, vì họ đã để cho căn lành chết mất.
Mỗi
ngày siêng năng lạy Phật, tụng kinh và suy nghĩ lời Phật
dạy, ứng dụng trong cuộc sống, căn lành sẽ lớn dần theo
thành quả tu hành của chúng ta, tác động cho người sanh thiện
cảm với ta.
Trên
bước đường tu, đến đây, nhiều người thường dễ bị
hư. Bước đầu, không được ai ngó ngàng, dễ tu, nhưng hảo
tướng sanh thì ở đâu cũng mời thỉnh. Chúng ta phải quán
sát căn lành của mình có đủ sức thuyết phục bạn ác hay
không ? Nếu căn lành ta nhỏ, mà nghiệp của người thì lớn,
họ sẽ dập chúng ta chết, ví như cây mới lên, phải coi
chừng nhổ cỏ dại. Chúng ta tiếp xúc với người, lòng vẫn
an nhiên, mới nên tiếp tục giúp họ, để căn lành của họ
và ta cùng tăng trưởng. Nhưng căn lành của ta không ngăn chận
được nghiệp ác của người, thì coi chừng ta bị họ độ
ngược lại.
Bước
đầu tu phải dè dặt. Chỉ giúp đỡ người đến mức độ
nào mà ta có thể kiểm soát được. Vì vậy, căn lành còn
nhỏ, chỉ nên chơi với người tốt. Vượt quá sức, chúng
ta bị hại, tức phạm sai lầm rồi, người xem thường chà
đạp, chắc chắn chúng ta khó tiến tu. Chỉ còn cách lạy
Phật, sám hối, hướng về Phật, Bồ tát để tu lại. Tất
nhiên là phải cực khổ hơn giai đoạn một ta bắt đầu phát
tâm tu. Âm thầm nỗ lực sám hối đến khi người không thấy
ta xấu, mới trở lại tu chung với đại chúng được.
Chúng
ta tán thán Phật, tạo được độ cảm tâm rồi, đầu tiên
lạy Tam bảo vì Phật dạy muốn tu phải quy y Tam bảo, dù
xuất gia hay tại gia. Ở đây chúng ta hướng về mười phương
Tam Bảo quy y :
“Nam
mô quy thập phương tận hư không giới nhất thiết chư Phật.
Nam
mô quy y thập phương tận hư không giới nhất thiết tôn pháp.
Nam
mô quy y thập phương tận hư không giới nhất thiết Hiền
Thánh Tăng”.
Thực
tế chúng ta tu dễ cảm điều này. Ở thế giới Ta bà toàn
là chuyện phiền muộn, dễ chán, nên không để tâm. Bắt
đầu tu hành, phải gá tâm ở Tịnh độ mười phương. Chỗ
nào có Tịnh độ, chúng ta theo. Chỗ nào Ta bà, chúng ta rời
bỏ. Mang tâm niệm tầm đạo, tầm tri thức mười phương,
nghĩa là đặt niềm tin ở thế giới an lành.
“Nam
mô quy y thập phương tận hư không giới nhất thiết chư Phật”.
Khởi
điểm chúng ta tình nguyện đi theo Phật ứng hoá thân trên
cuộc đời. Thấy Phật ứng hóa thân chỗ nào, hiện trong
các loài, mang các thân hình thuyết pháp, chúng ta thấy biết
được, cũng đến bằng tất cả lòng mình, dù Phật ở chân
trời góc biển nào. Vì vậy, quy y Phật không có ý nghĩ
ở chùa, nhưng bất cứ chỗ nào có Phật, chúng ta cũng tới,
không nề gian nguy khổ cực.
Chúng
ta tới với Phật bằng thân hay tâm. Tuy nhiên, vì sanh vào
lúc không có Phật trên cuộc đời, nên chỉ có thể đến
với Phật bằng tâm hay thức. Đứng yên, hướng tâm về nơi
xa xăm, bằng lòng thành đó, chúng ta quy y với Phật, mới
thấy được Ngài. Có bao nhiêu Phật trong mười phương, chúng
ta có bấy nhiêu tâm thức để lễ. Tôi lễ Phật theo cách
này nên thường quên hết tất cả việc bên ngoài. Quan trọng
là giữa tâm thức tôi nở bung pháp giới và Phật xuất hiện
trong đó để tôi đảnh lễ. Bằng thần thức lễ Phật, nghĩa
là mỗi ngày đọc kinh, biết được việc làm của mười
phương Phật, thần thức tiếp thu đưa vào A lại da thức.
Bất giác một hôm, chúng ta ngủ quên, thì A lại da mở cửa
cho Phật đó hiện ra.
Sơ
tâm tu phải luôn sống với Phật, hướng về chân lý và để
tâm đến tam thừa tứ quả giải thoát Tăng. Đừng hướng
đến nghiệp Tăng, ác Tăng, họ sẽ truyền cho chúng ta phiền
não, nghiệp chướng trần lao.
Quy
y thập phương Hiền Thánh Tăng gồm Hiền Thánh Tăng của nhị
thừa và Bồ tát thừa. Hiền vị của nhị thừa là người
đắc từ sơ quả đến tam quả và hàng A la hán là Thánh vị.
Tam Hiền của Bồ tát thừa thuộc hàng thập trụ, thập hạnh,
thập hồi hướng. Hàng Thánh vị của Bồ tát thừa từ sơ
địa đến thập địa.
Khi
xướng lên câu :
“Nam
mô quy y thập phương tận hư không giới nhất thiết Hiền
Thánh Tăng”, chúng ta cảm nhận rằng nhờ nương theo Hiền
Thánh Tăng và dùng giải thoát tri kiến hương, thấy được
đồng lúc mười phương Phật.
Tận
hư không giới mười phương có bao nhiêu Đức Phật hiện
ra, ta đều đảnh lễ. Trên lộ trình tu tập, tùy mức độ
hành trì mà thấy tận hư không giới mỗi ngày một khác.
Dưới tầm mắt của A la hán, thấy được 75 ức Phật độ.
Qua
tận hư không giới của Bồ tát cộng thêm 76 ức Phật độ
và đến tam kỳ quả mãn, phần tận hư không giới cộng thêm
77 ức Phật độ. Đó là mức độ thấy được tất cả pháp
giới.
Hàng
tam thừa tu lễ cho đủ túc số này. Nhưng đặc biệt là theo
Viên thừa, chỉ lạy Hồng danh thông được tất cả pháp.
Vì vậy, Ngài Bất Không Tam tạng tán thán pháp Hồng danh sám
hối là pháp cao tột.
Nhờ
nương với Tam bảo mười phương, lạy ứng hóa thân Phật,
Bồ tát và học giáo nghĩa của các Ngài lưu lại, tâm chúng
ta từ từ an lành, trí tuệ sáng ra. Từ đó, nhìn ngược lại
mới nhận ra Tam bảo của Pháp Hoa hay Phật thừa vượt lên
sanh diệt, thường hằng, miên viễn, chúng ta sung sướng niệm
:
“Nam
mô Tối thượng thừa Viên giáo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.”
Bước
đầu niệm Phật, pháp, Tăng, nhưng nay tu Pháp Hoa niệm ngược
lại, pháp trở thành chính, Phật là phụ, vì kinh Pháp Hoa
là mẹ sanh ra các Đức Phật. Chư Phật đều do tu hành chánh
pháp, mới thành Phật, nên pháp là chân lý có trước, Phật
ra đời sau. Dù Phật nào cũng phải an trụ chân lý, rời bỏ
chân lý không còn là Phật nữa.
Vì
vậy, trước tiên chúng ta quy y pháp là Tối thượng thừa
Viên giáo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, chỉ cho chân lý, khác với
pháp phương tiện. Pháp đó cao tột dung thông được tất
cả pháp. Trên tinh thần hành trì được pháp viên dung vô
ngại, hành giả đến với người tu các pháp khác như tham
thiền, trì chú, niệm Phật, Khất sĩ, Nam tông... , chúng ta
được họ chấp nhận và trở thành người xuất sắc nhất.
Trái lại, nếu đến với người mà bị đánh đuổi, thì
không phải là Pháp Hoa.
Tu
Pháp Hoa phải kết hợp được Diệu pháp và Liên hoa, nghĩa
là bên trong đầy đủ chân thật pháp bất biến và bên ngoài
tùy duyên làm lợi ích cuộc đời. Ai cần, ta sẵn lòng giúp;
xong việc, ta là ta. Ta không là của ai, nhưng là của tất
cả.
Khi
nhận ra được Pháp Hoa là mẹ của các Đức Phật, chúng
ta quyết tâm tu theo diệu pháp, tìm thấy được trong phẩm
Như Lai thọ lượng, Đức Phật khẳng định Ngài thành Phật
từ vô lượng kiếp trước. Kinh diễn tả bằng con số ngũ
bách ức trần điểm, không phải mới thành. Đức Phật đã
thành Vô thượng chánh đẳng giác từ lâu xa đó là Báo thân
Lô Xá Na. Từ Phật Báo thân viên mãn Lô Xá Na mới hiện ra
trăm ngàn muôn ức ứng hóa thân để giáo hóa chúng sanh. Phật
Thích Ca là một hiện thân trong loài người.
Nhờ
có sự hiện hữu của Phật Thích Ca trên cuộc đời, chúng
ta nương theo hình bóng của Ngài mà tìm được Đức Phật
cửu viễn Lô Xá Na kết hợp bằng phước đức, trí tuệ
đầy đủ.
Chính
vì cốt lõi bên trong của Phật Thích Ca là Báo thân viên mãn,
nên hiện đời mang sanh thân như mọi người, nhưng Đức Phật
Thích Ca tiêu biểu cho mẫu người hành Viên giáo, dung được
và tổng hợp được tất cả, không vướng mắc pháp nào.
Ngài hiện hữu sáng ngời trên cuộc đời, từ trẻ già, giàu
nghèo, khôn dại, đều tôn Ngài là bậc Thầy, là đấng cha
lành. Tâm Phật hàm chứa pháp tối thượng viên dung vô ngại
và hiện ra bên ngoài 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và cuộc
sống cao thượng thể hiện đầy đủ Diệu Pháp Liên Hoa.
Thấy
được Đức Phật là bậc sáng suốt nhất, cao cả nhất,
phước đức nhất, dung thông tất cả, chúng ta sung sướng
đảnh lễ :
“Nam
mô Cửu viễn thật thành đại ân giáo chủ Bổn sư Thích
Ca Mâu Ni Phật”.
Đó
là Đức Phật bất sanh bất diệt thành Phật từ lâu xa, không
phải mới thành. Cả một công phu hành Bồ tát đạo trong
quá khứ, không đơn giản, nhờ vậy đời này Ngài hiện thân
lại, thông minh xuất chúng, văn võ song toàn, mới 12 tuổi
mà giỏi đến độ không thầy nào có khả năng dạy được.
Ngài
thành Phật từ ngũ bách ức trần kiếp ở trong thế giới
Thường Tịch Quang, không ai có thể xâm phạm. Vì thương nhân
gian, Đức Phật phải mang thân ngũ ấm Thích Ca Mâu Ni để
dìu dắt chúng ta trở về với cuộc sống vĩnh hằng an lạc
như Ngài.
Cảm
nhận sâu sắc lòng từ vô hạn của Phật như vậy, chúng
ta mang cùng tâm trạng với Xá Lợi Phất ở hội Pháp Hoa,
rơi lệ bạch Phật rằng tu hành theo ngoại đạo thiệt khổ
sở, nhưng khổ rồi vẫn hoàn khổ. May nhờ Phật mở lối
đưa đường, trong chớp mắt đạt quả vị A la hán. Ơn lớn
của Thế Tôn, dù có dùng đầu đội, vai mang trong vô số
kiếp, cũng không đền đáp được.
Chúng
ta dùng tâm kiên cố ấy mà đảnh lễ quy y với Đức Phật
cửu viễn có tâm kim cang bất hoại và thầm cám ơn Ngài đã
khai mở chân lý.
Sau
đó chúng ta lạy :
Nam
mô Pháp Hoa Kinh chứng tín thị hiện Đa Bảo Như Lai, tiêu
biểu cho Tăng bảo của Pháp Hoa.
Trước
chúng ta lạy Hiền Thánh Tăng là người thay Phật giáo hóa
chúng sanh. Nay Tăng của Bổn môn Pháp Hoa chỉ cho Đức Đa
Bảo Như Lai là vị Phật quá khứ hiện thân lại nghe Phật
Thích Ca thuyết pháp mới có chân lý, vì chân lý chỉ phô
bày khi người nói và người nghe đồng đẳng, thông nhau.
Phật
Thích Ca nói không lời và Đa Bảo nghe không tiếng. Hai tâm
của Đa Bảo và Thích Ca thống nhất thành một, thể
hiện Tam Bảo của Pháp Hoa có một. Thật vậy, mặc dù chia
Tam Bảo thành ba là : Pháp tiêu biểu bằng Diệu pháp, Phật
tiêu biểu bằng Đức cửu viễn thật thành Thích Ca Mâu Ni
và Tăng là Đa Bảo. Nhưng ba phần này hợp thành một, vì
Đức Thích Ca thành Phật do ngộ pháp và Ngài từ chân lý
hiện thân trên cuộc đời vận dụng pháp, nói pháp cho người.
Ai nghe, tu hành, ngộ được bản nguyên, trở về chân lý.
Trên
tinh thần ấy, lạy kinh Pháp Hoa, lạy Phật cửu viễn thật
thành Bổn sư Thích Ca Mâu Ni và Đa Bảo, nhằm mở ra cho chúng
ta hiểu biết như vậy và đánh thức Phật tâm bên trong của
chúng ta. Vì vậy, tu bên ngoài nhưng không tỉnh thức bên trong
chỉ là nấu cát muốn thành cơm. Chúng ta thấy nhiều người
càng tu càng dữ, càng khờ, vì phạm sai lầm này.
Với
cách tu đánh thức bên trong bằng cách đem Phật, Pháp, Tăng
vào lòng, lâu ngày ba điều quý báu này tự hiện ra trong cuộc
sống chúng ta. Bổn môn Pháp Hoa diễn tả rằng tâm họ là
Thiền, thân làm giống Phật, lời nói là pháp.
Đức
Phật sanh tiền thuyết pháp làm an vui cho người, chúng ta từng
bước cũng làm như vậy mới đắc đạo. Tâm là Thiền, chỉ
cho tâm yên tĩnh đến mức độ trần duyên không khuấy động
được.
Tâm
thanh tịnh, trong suốt, hòa hợp, không chống trái, tiêu biểu
qua hình ảnh Tăng già. Trên bước đường tu, lần lần phát
triển yên tĩnh, sáng suốt ngay trong lòng, mặc cho cuộc đời
làm gì cũng được, đừng để tâm ta giao động. Tu như vậy,
nên khi bị ai làm phiền, tôi sợ và phục họ. Trái lại,
bị khuấy phá, tôi không khởi niệm tức giận, tôi sung sướng
vì tự biết mình gần được Phật.
Người
được bản tâm thanh tịnh rồi, việc làm và lời nói của
họ đều là chân lý. Người chưa đắc đạo, dù có nói chân
lý cũng thành tà pháp. Điều này dễ nhận ra trên thực tế,
chúng ta thấy người tốt, họ nói gì cũng tốt. Người không
có đạo đức, dù có trau chuốt lời hoa mỹ, cũng chẳng ai
tin được.
Quan
trọng ở hành động và tâm của chúng ta. Chính vì vậy, có
khi Thầy rầy mắng chúng ta, nhưng đó là lời đạo đức,
người nịnh mà chúng ta vẫn thấy đó là lời phi đạo đức.
Thuở nhỏ, học với Hòa thượng Trí Tịnh, tôi luôn nhớ
Ngài dạy rằng nghe người khen phải tự xét lại mình, nên
từ chối lời khen hay cố gắng vươn lên cho được như vậy.
Chúng
ta nương theo Tam bảo, thấy Phật Đa Bảo từ quá khứ hiện
thân trong suốt, Phật Thích Ca là đấng vô thượng năng nhơn
và lời Phật nói nhằm khai thị nhất thừa. Chúng ta cũng
đánh thức cái trong suốt, đánh thức phần vô thượng năng
nhơn, điều chỉnh lời nói và cuộc sống của chúng ta.
Trên
căn bản đó, chúng ta càng thu ngắn khoảng cách giữa thế
giới xa xăm của chư Phật và thế giới này gần lại bao
nhiêu, thì càng dễ tiếp cận chân lý bấy nhiêu. Thu ngắn
bằng cách nào ? Theo tôi, khi phát nguyện đồng hạnh với
Bồ tát nào, sẽ được vị ấy gia hộ. Trở về thực tế,
được một hạnh Bồ tát nào, sẽ có Bồ tát hữu hình hay
một số người tốt đến hợp tác, giúp đỡ và thương quý
chúng ta. Làm được như vậy, chúng ta kéo Tịnh độ gần
lại Ta bà, vì mang qua đây được một Bồ tát là đẩy được
một ác ma. Khi tu, ác ma còn đến quấy nhiễu, tự biết chúng
ta còn cách xa đạo, chưa phải người trì kinh Diệu Pháp.
Theo
tinh thần Pháp Hoa, Tịnh độ và Ta bà chỉ là hai mặt của
một bàn tay. Khởi một niệm ác là Ta bà, một niệm thiện
là Tịnh độ. Tịnh độ của Pháp Hoa nằm trong tâm của chúng
ta.
Tóm
lại, đi trên lộ trình tu hành, quy y theo Bổn môn Pháp Hoa,
Đức Đạo sư dẫn chúng ta nhập môn qua cửa Tam Bảo mười
phương, mở ra chân trời an lạc. Có được hành trang quý
báu ấy, chúng ta tiến lên thâm nhập thế giới Pháp Hoa, kính
lễ Đức Phật hằng hữu miên viễn, bất sanh bất diệt và
Đức Đa Bảo Như Lai.
Mong
rằng Tăng Ni Phật tử luôn nhiếp tâm an trụ trong diệu pháp,
thân luôn hiện hữu tươi đẹp lợi ích cuộc đời, ngõ hầu
báo đáp công ơn muôn một của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu
Ni Phật.
A -
LỄ PHẬT QUÁ KHỨ
Tu
Pháp Hoa không đặt nặng vấn đề văn tự, ngữ ngôn, nhưng
chú trọng đến thọ trì cốt lõi của pháp để tiến tu có
kết quả. Nghi thức thọ trì Bổn môn Pháp Hoa gồm năm
phần : Nguyện hương, lễ Phật, sám hối, phát nguyện và
hồi hướng.
Trước
tiên, chúng ta đảnh lễ Phật trong kinh Pháp Hoa nhằm mục
tiêu trồng căn lành với các Ngài. Điều này cần thiết,
vì Phật dạy rằng không có căn lành, không thể thọ
trì Pháp Hoa. Muốn trồng căn lành phải thực hiện pháp lễ
bái cung kính các Đức Phật, mang hình ảnh thánh thiện của
Ngài vào tâm.
Tiến
sang giai đoạn hai, ngoài việc kính lễ Phật, chúng ta cần
tìm nghĩa lý sâu xa của kinh, xem Phật suy nghĩ như thế nào
để hướng tư tưởng theo đó. Đây là pháp trồng căn lành
ở Phật huệ.
Thực
hành hai pháp này lâu ngày, thân tướng trở thành dễ thương
và nhận thức sáng suốt giống Phật, tức nuôi lớn căn lành
của chúng ta. Trên nền tảng đó mới có tư cách thọ trì
Pháp Hoa.
Sau
cùng, chúng ta muốn đi theo lộ trình Pháp Hoa, tất yếu phải
tu Bồ tát hạnh, vì Pháp Hoa là pháp tu của Bồ tát, làm việc
cứu nhân độ thế, lợi ích cho người.
Trong
ba pháp tu trồng căn lành này, bước đầu từ thuở nhỏ,
ngày nào tôi cũng lạy Phật, ít nhất 200 lạy. Tự nguyện
lạy với tất cả tâm hoan hỷ và lòng thành kính, không phải
bị bắt buộc. Trong khi các chú tiểu khác đi ngủ sau thời
công phu khuya, tôi tiếp tục lễ Phật. Nhờ vậy, tinh thần
thư thái, sáng suốt, nên lễ xong, tôi lại đọc kinh sách,
dễ dàng nhận ra được ý Phật dạy.
Người
có căn lành và sống với căn lành, tự nhiên tâm tánh khác
với người mang nghiệp ác. Người ác thường có tâm niệm
tranh chấp, muốn hưởng thụ, nhưng không chịu làm việc.
Trái lại, người có căn lành, tu Bồ tát pháp, phát tâm bồ
đề, bản thân họ không cần gì, chỉ thích làm lợi cho người.
Riêng
tôi, nhờ siêng năng lạy Phật, thọ trì lý kinh, phát
triển căn lành thêm sâu dày, tác động cho tôi vui thích công
quả. Bất cứ tu ở chùa nào, tôi cũng tự mình tìm kiếm
việc làm, không nề hà việc khó, việc khổ, không đợi sai
biểu, bắt buộc mới làm.
Trong
phần lễ Phật, tôi trích ra danh hiệu Phật, Bồ tát trong
kinh Pháp Hoa. Chúng ta lễ lạy để liên hệ với các Ngài,
học kinh nghiệm hành đạo của bậc tiền bối, ứng dụng
vào cuộc sống hiện tại cho được lợi lạc.
Mở
đầu, chúng ta quy y đảnh lễ Tam bảo mười phương và Tam
bảo theo tinh thần Pháp Hoa, hành giả đảnh lễ ba đời mười
phương các Đức Phật, hiện thân trên cuộc đời giáo hóa
chúng sanh. Với pháp tu này, ba đời mười phương Phật được
thu lại trong một niệm tâm của chúng ta, nhưng khi mở ra,
không đâu không đến được.
Riêng
tôi, 20 năm trước, chuyên thọ trì Hồng danh Pháp Hoa, nhận
được an lành và niềm hoan hỷ vô cùng tận. Tôi cảm thấy
giữa Phật và tôi có mối liên hệ gần gũi thân thương.
Thiết nghĩ nhiều đời tôi đã từng thân cận, cúng dường
các Ngài, nên đời này nhắc đến tên, thấy quen liền. Không
có độ cảm này, tức không có nhân duyên với Phật, với
kinh Pháp Hoa, tu hành khó kết quả.
Nghe
danh hiệu Phật, nhận ra liên hệ thân quen và gợi nhớ xa
thêm các Ngài đã từng làm những việc thánh thiện gì. Nhớ
lại công hạnh Phật quá khứ, tất nhiên cũng nhớ đến quá
khứ của ta mà cảm thấy xấu hổ, vì ta như thế nào mới
ra nông nỗi như thế này. Lạy Phật, so sánh như vậy, chắc
chắn chúng ta hết lòng ăn năn, sửa đổi, tu hành.
Lễ
Phật ba đời mười phương là cách lễ của người tu Đại
thừa. Lễ Phật quá khứ là học kinh nghiệm tu đạt kết
quả hoàn hảo của bậc tiền bối. Lễ Phật hiện tại là
cầu thiện tri thức giúp đỡ và lễ Phật vị lai là tranh
thủ người chống đối trở về với chúng ta.
Như
vậy, đảnh lễ ba đời mười phương Phật, chúng ta muốn
tạo một thế giới hay một xã hội mà mọi người đều
là Phật. Vì chúng ta đang sống trong thế giới đầy nghiệp
chướng và phiền não, tràn ngập tranh giành, thù hận, sát
hại nhau. Từ thế giới khổ đau này, chúng ta phát tâm bồ
đề, tu hành, lần lần thăng hoa đời sống tâm linh, phát
triển Phật huệ, thấy được dòng hiện hữu liên tục của
Phật quá khứ, nối tiếp đến Phật hiện tại và Phật vị
lai.
Kinh
Pháp Hoa nêu 10 vị Phật quá khứ. Nhìn về Phật quá khứ,
tức nhìn những tấm gương sáng trong lịch sử. Đức Phật
nhắc cho chúng ta nhân hạnh tu hành của các vị Phật quá
khứ như Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, Phật Oai Âm Vương,
v.v..., để chúng ta nương theo đó mà tự rèn luyện, sửa
mình.
Theo
kinh nghiệm tu của riêng tôi, vị Phật nào tôi cảm thấy
gần gũi nhất thì lúc có sự cố gì trong cuộc sống tu hành,
tôi nhớ ngay đến vị Phật đó và thấy công hạnh các Ngài
hiện ra. Trên bước đường tu, chúng ta không cảm đức, không
thấy nhân địa tu hành của Phật, chỉ lạy suông, không thể
có kết quả.
Kính
lễ chư Phật quá khứ không còn hiện hữu trên cuộc đời,
nghĩa là trân trọng cả một sự nghiệp trí tuệ của các
Ngài để lại, làm gương sáng cho chúng ta noi theo.
1 -
ĐẢNH LỄ PHẬT OAI ÂM VƯƠNG
Mở
đầu là Phật Oai Âm Vương. Theo Thiền tông, Oai Âm Vương
là vị đầu tiên ngộ pháp thành Phật. Ở thời kỳ trước
Ngài, không có Phật. (Oai Âm Vương Phật tiền, dĩ pháp ấn
tâm ).
Đối
với hành giả Pháp Hoa, lạy Phật Oai Âm Vương là lạy hai
muôn ức Phật, tạo cho ta độ cảm đảnh lễ Đức Phật
khởi thủy. Đức Phật quá khứ này dẫn đến hiện tại
và mãi trong tương lai vẫn hiện hữu không mất. Điển hình
như tiền thân của Phật Thích Ca là Thường Bất Khinh đã
từng hành đạo Bồ tát trong thời tượng pháp của Phật
Oai Âm Vương. Nhờ có đối tượng là các Tỳ kheo tăng thượng
mạn đánh chửi, ném đá, Ngài chứng ngộ pháp, nghe được
200 muôn ức bài kệ Pháp Hoa của Phật Oai Âm Vương thuyết,
lậu tâm được thanh tịnh, thấy thật tướng các pháp. Lúc
trước, Thường Bất Khinh nói, họ đánh chửi, không nghe.
Sau khi ngộ chân lý, thấy cái đáng nói, đáng làm, thì hàng
tăng thượng mạn quay lại cầu học.
Oai
Âm Vương nghĩa là lời nói có quyền uy cao nhất. Pháp của
Oai Âm Vương tiêu biểu cho chân lý thể hiện dưới dạng
quyền uy tuyệt đối, tức lời nói phải đúng chân lý, làm
lợi ích cho người an vui, giải thoát.
Chúng
ta lạy Phật Oai Âm Vương hay học theo hiểu biết tuyệt đối
của Ngài, từ đó phát ra lời nói xác thực, có giá trị.
Lạy Phật Oai Âm Vương , cũng khiến tôi nhớ đến lời dạy
của Hòa thượng Trí Tịnh nhắc nhở “ Biết là nói được.
Và còn phải biết thêm có nên nói hay không và nói ở đâu,
nói với ai, lúc nào”. Nói không đúng lúc, không đúng đối
tượng hoặc bắt chước lặp y lời người lớn, đều có
thể chuốc họa vào thân.
Tôi
lạy Phật Oai Âm Vương hình dung hiểu biết tuyệt vời, lời
nói có uy lực tuyệt đối của Ngài mà nhớ đến thân phận
mình cố gắng phát huy tự thân. Với phương cách lạy Phật,
quán tưởng và thể nghiệm trong cuộc sống tu hành như vậy,
tôi được Phật lực gia bị, lần hồi từng bước, lời
nói cũng có giá trị, được một số người tôn trọng, nghe
theo.
2 -
ĐẢNH LỄ PHẬT NHẬT NGUYỆT ĐĂNG MINH
Tuy
nhiên, để cho việc thấy đúng và lời nói có giá trị, kinh
Pháp Hoa giới thiệu chúng ta học thêm với Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh.
Khi
lạy Ngài, chúng ta nhớ đến phẩm Tựa trong kinh Pháp Hoa,
theo đó nghi thức nói pháp chân thật của các Đức Phật
đều giống nhau. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi từ vô lượng kiếp
trước mang tên là Diệu Quang đã thấy Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh hiện thần biến tướng trước khi nói kinh Pháp
Hoa.
Lạy
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là lạy hai vạn Phật đồng tên
và đồng họ Phả Loa Đọa. Đức Phật này đã có trước
khi Phật Thích Ca ra đời. Lạy Ngài để mong được ánh quang
của Ngài soi rọi đến ta, để thu ngắn thời gian hành đạo
và tiếp nhận được pháp chân thật.
Nhờ
pháp tu này mà chỉ trong 49 ngày, Nhật Liên Thánh nhân thấy
được các Đức Phật quá khứ, nghe được pháp âm và được
xưng tụng như Thượng Hạnh Bồ tát.
Hai
vạn Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tuần tự ra đời, mang cùng
tên, nhằm chỉ chân lý hằng hữu, tức bất cứ Phật nào
cũng phải giống nhau ở điểm Nhật, Nguyệt, Đăng, Minh.
Minh
là ánh sáng. Nhật là mặt trời. Nguyệt là mặt trăng, Đăng
là đèn. Nghĩa là Phật có ánh sáng trí tuệ, biết và làm
được tất cả ; nhưng tùy thời, tùy chỗ, sử dụng trí
tuệ khác nhau, nên phân ra có ánh sáng mặt trời, mặt trăng
và đèn.
Nhật,
nguyệt, đăng, tiêu biểu cho ba thân Phật. Một Phật nhưng
hình dung thành ba thân. Nói cách khác, một ngưòi muốn làm
được việc phải có ba điều kiện hay hằng hữu dưới ba
dạng khác nhau; có lúc như mặt trời, lúc là mặt trăng hay
ngọn đèn.
Mặt
trời chỉ cho Pháp thân Phật muôn đời không thay đổi. Trí
tuệ tuyệt vời của Pháp thân Phật ví như ánh sáng mặt
trời cực mạnh, cao nhất, nắm bắt chân lý và vận dụng
chân lý tự tại.
Theo
tinh thần này, trong thời Pháp Hoa, Đức Phật thuyết chân
lý. 5.000 Tỳ kheo tăng thượng mạn bỏ đi, không nghe. Đức
Phật khẳng định họ là cỏ rác, ra đi càng tốt.
Các
thời pháp trước, Phật không nói thẳng như vậy. Vì lòng
từ bi, muốn cho mọi người đến gần chân lý, Ngài phải
sử dụng ánh sáng mát dịu hơn, không nóng gắt như ánh mặt
trời. Ngài vỗ về, khuyến khích chúng ta tu, giáo hóa bằng
cách lấy Ngài làm thí dụ để chúng ta noi theo tu hành.
Ai
bắt chước thực hành theo, được Phật khen ngợi, không theo
thì thôi. Ngài không nói thẳng lỗi, nhằm tránh chạm tự
ái. Đức Phật đối với chúng ta tràn đầy lòng khoan dung
y như bà mẹ hiện đối với đứa con ngu dại.
Ánh
sáng mặt trăng trong đêm dài sanh tử thỉnh thoảng lóe lên.
Nơi nào có nước, dù nước đục hay trong, đều có trăng
hiện vào. Cũng vậy, người nào có tâm hồn dịu hòa, ngay
thật đều thấy Phật. Phật này là Phật Báo thân giáo hóa
chúng sanh.
Tuy
nhiên, ở thế gian tìm được người ngay thật, dịu hòa,
không dễ. Ngoài ra, còn đỏi hỏi tâm hồn chúng ta lắng yên
hoàn toàn, mới tiếp nhận được Báo thân Phật soi sáng.
Tâm vừa ngay thật, dịu hòa, vừa yên tĩnh. Điều này quá
khó đối với chúng sanh đầy nghiệp chướng ở Ta bà, nên
chúng ta không thể nào hiểu và thấy được Báo thân Phật.
Từ
đó, Ngài muốn giáo hóa chúng ta, phải ứng hiện mang thân
tứ đại, ngũ uẩn giống như ta. Phật hiện sanh thân, dùng
ngôn ngữ và thân người để giáo hóa, rồi Niết bàn, được
tiêu biểu bằng cây đèn.
Nhờ
ngọn đèn của Phật rọi đường, tức nương theo kho tàng
giáo lý của Ngài để lại, chúng ta thoát ra khỏi đường
hầm sanh tử. Như vậy, ánh sáng giác ngộ hay trí tuệ của
Phật phân làm ba thứ : giáo hóa chúng sanh trên tâm bình đẳng,
trên Bồ tát hạnh và ứng hiện tùy loại hình.
Chúng
ta lạy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, liên tưởng đến Pháp
thân, Báo thân và Ứng thân Phật, cũng tự luyện cho mình
có ba thân hay ba tâm : bình đẳng, đại bi và hằng thuận.
Càng
lạy, càng nuôi lớn ba tâm này, chứng tỏ chúng ta đang cảm
hạnh Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh và nhận được lực Phật
gia bị. Nếu không sanh trưởng được ba tâm này, tức không
phát huy được Pháp thân, Báo thân của chính mình, coi như
lạy vô ích.
3 -
ĐẢNH LỄ PHẬT NHIÊN ĐĂNG
Cuối
thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh có Phật Nhiên Đăng. Nhiên
Đăng nghĩa là mồi đèn. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh có đủ
ba thân giáo hóa chúng sanh, nhưng Phật Nhiên Đăng mang tính
thừa kế chư Phật mà kinh diễn tả là Phật sau cùng.
Trước
kia, Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh làm được tất cả, khi là
mặt trời, lúc làm mặt trăng hay làm ngọn đèn. Đến thời
Phật Nhiên Đăng, không thể được như vậy. Phải lùi xuống
một nấc, chỉ làm nhiệm vụ mồi đèn, làm công tác gạch
nối giữa người trước và người sau để gợi niềm tin
cho họ tiến lên.
Lạy
Phật Nhiên Đăng, tôi quán tưởng Ngài châm ngọn đèn trí
tuệ cho Phật Thích Ca và mồi ánh sáng cho ngọn đèn tâm của
chúng ta bừng sáng, bắc nhịp cầu nối liền thế giới tối
tăm của người có căn lành với thế giới rực sáng của
chư Phật.
4 -
ĐẢNH LỄ PHẬT ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG
Kế
đến, chúng ta kính lễ Đức Phật Đại Thông Trí Thắng,
một vị có trí năng siêu việt. Trong phẩm Hóa thành dụ cho
biết khi chưa tu, Ngài đã là Chuyển luân Thánh vương cai trị
khắp thiên hạ thái bình. Lúc nhận ra đạo giải thoát cao
quý cùng tột, Ngài liền xuất gia, giao ngôi lại cho 16 vương
tử.
Đặc
biệt, Ngài thành Phật rồi mà vẫn yên lặng trong 10 tiểu
kiếp, chưa thuyết pháp. Đó là điều mà tôi tâm đắc khi
học hạnh của Phật Đại Thông Trí Thắng. Ngài yên lặng,
không nói, nhưng tác động trong khắp mười phương. Các Đại
Phạm Thiên vương kéo đến cúng dường thượng diệu và thỉnh
Phật thuyết pháp.
Các
vị trời cao nhất cùng với 16 vương tử tiêu biểu cho tầng
lớp trí thức lãnh đạo thiên thượng và nhân gian đến thỉnh
Phật giảng dạy thì còn ai dám chống đối, chê bai.
Bốn
phương, tám hướng Đại Phạm Thiên vương và 16 vương tử
cầu thỉnh, nói lên lòng khát ngưỡng giáo pháp cao độ. Chính
lúc đó mới đúng thời tiết nhân duyên để Phật thuyết
pháp.
Thuyết
pháp sớm, không đúng thời, họ tiếp nhận hời hợt, pháp
không tác động vào tâm, không tẩy được trần nghiệp, nên
phước không sanh mà nghiệp tăng trưởng, không thể tu được.
Lạy
Phật Đại Thông Trí Thắng, chúng ta lập chí tu hành sao cho
đạt được quả đức và dùng đức cảm hóa chúng sanh. Không
vội vàng dạy người khi bản thân còn nhiều lỗi lầm, sai
trái.
5-
ĐẢNH LỄ PHẬT KHÔNG VƯƠNG
Lạy
Phật Không Vương gợi nhắc đến phẩm Thọ học, vô học
nhơn ký trong kinh Pháp Hoa, hiểu được thế nào là Bồ tát
đạo.
Tất
cả trời người đều xem A Nan là vương tử mới xuất gia,
tu hành và mắc nạn Ma Đăng già. Nhưng Phật Thích Ca cho biết
với sự bảo chứng của Phật Không Vương, A Nan là một đại
Bồ tát lưu nghiệp để hóa độ chúng sanh. Ngài tu hành trong
sự hộ niệm của Phật Không Vương, tạo được muôn ngàn
công đức ở tất cả Phật độ. Ngài phát nguyện đời đời
kiếp kiếp hộ trì tạng pháp Như Lai. Kinh điển còn tồn
tại cho chúng ta nương theo tu hành đều do công đức của
Ngài A Nan, một vị Bồ tát lớn thị hiện nghiệp thân.
<