Chương
I
Ý
NGHĨA BỔN MÔN PHÁP HOA
Đức
Phật giảng nói nhiều vô số, thường được tiêu biểu bằng
con số 84.000 pháp môn tu. Tuy nhiên, trước khi Niết bàn, Đức
Phật lại phủ nhận tất cả. Ngài khẳng định rằng chưa
từng nói một lời. Đứng trước hai lời dạy hoàn toàn trái
ngược này, người tu hành phải biết tổng hợp cả hai vấn
đề mà Phật đưa ra để thấy được điều gì là chân lý
và điều nào cần phủ nhận, ngõ hầu tìm được pháp thích
hợp với mình, vận dụng lợi lạc trong cuộc sống.
Trên
căn bản tìm pháp tương ưng để tu, nếu hành trì đúng sẽ
đạt đến cứu cánh Phật quả ; ngược lại, tu sai pháp chỉ
chuốc lấy khổ đau. Đức Phật thường ví pháp như thuyền
bè đưa chúng ta qua sông mê bể khổ, đừng dại dột đội
thuyền mà đi.
Riêng
tôi, thuở nhỏ cũng phạm lỗi lầm này. Vì hết lòng thương
đạo, tôi luôn luôn tâm niệm phải bảo vệ đạo pháp. Thực
ra, lớp người trẻ thường có ý niệm sống chết cho đạo,
để bảo vệ đạo pháp trường tồn. Tuy nhiên, về sau trưởng
thành, nhờ thọ trì chánh pháp và được minh sư khai ngộ,
tôi mới nhận ra ý niệm đó mặc dù tốt, nhưng hoàn toàn
sai lầm. Nếu tôi mang bệnh cố chấp, chắc chắn không thể
tiến tu được như ngày nay.
Thật
vậy, khi chúng ta khư khư giữ ý nghĩ bảo vệ đạo pháp,
ai động đến cái chúng ta muốn bảo vệ thì tham sân nổi
dậy liền. Không biết đạo pháp chúng ta bảo vệ được
đến đâu, nhưng trước mắt thấy rõ chúng ta đã đi ngược
lại lời Phật dạy. Từ ý niệm tốt ban đầu khởi lên,
nay trở thành sân hận, bực tức, nói lời thô tục, thậm
chí muốn hại người nào chống lại ý kiến của ta, nghĩa
là chúng ta đã phát sinh ý niệm đối kháng và muốn tiêu
diệt người khác ý mình. Đó chính là ác tâm đã sanh ra chỉ
vì muốn bảo vệ đạo pháp. Ai có ý trái lại, chúng ta sẵn
sàng ăn thua. Nếu sức yếu, không chống nổi, nhưng có người
khác hại được họ, chúng ta vô cùng sung sướng. Như vậy,
chỉ tu sai một chút, nhận lầm giặc là con, khổ sẽ chồng
chất thêm khổ và cửa địa ngục mở ra chào đón chúng ta.
Thiết nghĩ, Đức Phật e ngại chúng ta rơi vô bệnh cố chấp
này mà Ngài phủ nhận trong kinh Văn Thù rằng suốt 49 năm,
Phật chưa nói một lời.
Khi
rời Việt Nam sang Nhật, nhờ Thiền sư khai ngộ, tôi nhận
được ý niệm hoàn toàn khác hẳn trước kia, Phật bảo vệ,
che chở chúng ta, không phải chúng ta bảo vệ Phật pháp. Thật
sự, chư Phật, Bồ tát, Hộ pháp Long thiên mới bảo vệ được
đạo pháp. Chúng ta chưa thoát khỏi sự chi phối của đói
khát, nóng lạnh, nói cho cùng, không tự bảo vệ nổi bản
thân mình, nói chi đến khả năng bảo vệ đạo pháp.
Riêng
tôi, tự cảm thấy mình nhỏ bé trước vũ trụ bao la và trở
về thực tế cuộc sống, còn biết bao quy luật chi phối liên
hệ hỗ tương chằng chịt giữa ta và người, giữa ta và
xã hội, giữa quốc gia này với quốc gia khác, cho đến sự
hiện hữu cộng tồn giữa các loài sống chung trên trái đất
này. Quả thật có vô số vấn đề tồn tại nằm ngoài tầm
hiểu biết và vượt khỏi khả năng hành động của chúng
ta.
Tuy
nhiên, sống trong biển sanh tử không chút an toàn này, tôi
vẫn cảm nhận hoàn toàn an lạc trong pháp Phật. Từ đó,
một lòng lo tu hành, thẳng tiến trên con đường giải thoát
mà Đức Phật vạch ra. Mỗi ngày, an trụ trong pháp Như Lai,
kinh Duy Ma gọi là ăn cơm Hương Tích, tâm hồn cảm thấy thanh
thản, đạo đức, trí tuệ của chúng ta lớn dần. Đến
một ngày nào, dìu dắt được người tiến tu đạo hạnh,
tự biết mình đã trưởng thành trên đường đạo.
Chúng
ta ý thức sâu sắc rằng pháp Phật rất nhiều và không cố
định, không nên chấp chặt pháp nào, nhưng cũng không rời
bỏ pháp. Cộng cả hai để tìm được pháp tu vượt sông
mê bể khổ, đến cứu cánh Niết bàn. Trách nhiệm ở chúng
ta phải tự tìm. Đức Phật đưa ra ý này hay ý khác nhằm
giúp chúng ta tìm được pháp tương ưng, Ngài không làm thế
cho ta được.
Đầu
tiên, tôi tìm trong văn tự ngữ ngôn của 84.000 pháp môn tu
là các phương thuốc chữa bịnh cho chúng ta. Tìm xong, tôi
đưa vị thuốc Phật vào biển khổ trần lao cho tác động.
Tôi nhận ra được ý Phật dạy rằng Ngài không nói lời
gì và trở lại thực tế, có pháp tu riêng cho mỗi người
khác nhau.
Pháp
tôi hành trì là Bổn môn Pháp Hoa, biến dạng từ thọ trì
28 phẩm kinh Pháp Hoa và Hồng danh Pháp Hoa. Từng giai đoạn
tu, tôi thấy pháp khác. Quả đúng như Phật dạy không có
pháp cố định nào dẫn đến Vô thượng Đẳng giác.
Tiến
tu, chúng ta nhận được các pháp khác nhau, vì mỗi lần có
thay đổi pháp, đưa đến kết quả nhận thức và cuộc đời
của chúng ta cũng thay đổi theo, tiến từ xấu đến tốt.
Trên bước đường tu, khởi đầu không ai biết đến chúng
ta, lần lần tu càng lâu, đạo đức và tri thức càng thăng
hoa, được người quý mến kính trọng, chứng tỏ chúng ta
đã đi đúng con đường giải thoát. Ngược lại, có người
mới xuất gia, tự cho mình là thầy thiên hạ, xem ai cũng là
“con” mình, để rồi hưởng hết phước, phải đọa.
Bổn
môn Pháp Hoa được hoàn thành năm 1990, nhưng có thể những
năm sau, tôi thăng tiến trên đường đạo sẽ gặt hái những
nhận thức khác cao hơn. Tuy nhiên, cũng có thể tôi đánh mất
những gì tu tạo được, nếu bị tụt hậu. Lên hay xuống,
tốt hay xấu, hãy để cho thời gian trả lời.
Đối
với tôi, mới tu thì xem giáo lý là khuôn vàng thước ngọc,
không thể thay đổi. Trên đường tu, với thời gian, tri thức
phát triển, nhận ra được pháp Phật và kiến thức loài
người từng bước đổi khác theo thời đại. Từ đó, pháp
Phật cũng có giá trị tùy người, tùy chỗ, tùy lúc, không
bao giờ có tác dụng giống nhau. Nếu rời bỏ pháp Như Lai,
chỉ lấy nhận thức của con người, chúng ta đã lạc đường,
không còn là đệ tử Phật. Tuy nhiên, người chấp Phật pháp,
mà không phù hợp thực tế, cũng rớt vô bịnh giáo điều
như Tổ thường quở : Y kinh giải nghĩa, Phật oan tam thế.
Người tu lấy pháp Phật rọi vô nhận thức thế gian để
thấy rõ yêu cầu của chúng sanh, đưa ra giải đáp đúng đắn
cho họ. Từng thời kỳ, vào biển khổ tiếp xúc với chúng
sanh mới thấy được chân lý.
Trong
quá trình hành đạo, bước đầu, tôi thọ trì 28 phẩm, sau
đó, tôi hành trì pháp sám hối Hồng danh Pháp Hoa và đến
Bổn môn Pháp Hoa. Trên đường tu học, có thể nghiệm pháp
thì tri kiến thay đổi theo thời gian, nghĩa là tôi đã kết
hợp Phật pháp và nhận thức con người.
Riêng
Tăng Ni Phật tử, mỗi người phải có sở đắc riêng. Tôi
mong quý vị làm thế nào đạt kết quả tốt. Đức Phật
không muốn tôi lệ thuộc Ngài và tôi cũng không muốn quý
vị bị ràng buộc vì tôi, chỉ mong mọi người tự phát triển,
làm lợi ích cho đời.
Có
người nghi ngờ rằng Bổn môn Pháp Hoa quá ngắn, chỉ có
7 phẩm so với bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm có từ trước, không
biết tụng ít vậy có phước không, có linh nghiệm hay có
đầy đủ ý nghĩa chăng ? Trái lại, cũng có người nhận
xét Bổn môn ngắn gọn, dễ tụng, không chiếm nhiều thì
giờ và có thể thuộc lòng, ở đâu cũng suy nghĩ, đọc thầm
được.
Đối
với tôi, nhiều ít, khó dễ, không quan trọng, vấn đề chính
yếu làm thế nào đạt hiệu quả trong công phu tu tập. Giá
trị hiệu quả được đặt trên năm tiêu chuẩn để chúng
ta tiến tu.
Trước
tiên, thọ trì bộ kinh nào của Phật, không riêng gì kinh Pháp
Hoa, chúng ta phải cảm thấy an vui. Nương tựa bộ kinh đó,
chúng ta sống bình yên. Nói rộng hơn, bước đầu tu, phải
tìm chùa, nơi đó chúng ta cảm thấy tâm hồn thanh thản ;
sống chung với vị minh sư, nhận được giải thoát và tìm
kinh nào thọ trì cảm thấy an vui. Không phải chùa nào cũng
tới, thầy nào cũng theo và kinh nào cũng thọ trì. Vì căn
lành chúng ta chỉ phát được là nhờ thích hợp với chùa,
với pháp tu và vị đạo sư hướng dẫn.
Kế
đến, căn cứ theo phẩm Dược Vương Bồ tát bổn sự, Đức
Phật dạy người tụng kinh Pháp Hoa phải được lợi ích
: muốn sanh Tịnh độ hay sanh cõi Trời sẽ được như ý,
muốn có của báu sẽ có, người bịnh sẽ được khoẻ mạnh...
Tâm yên, thân khỏe là hiệu quả của việc thọ trì được
kinh. Khi chưa tu, không ai kết bạn với ta. Tu được chánh
pháp, bạn tốt thì tốt hơn, người chưa tốt trở thành
tốt và người thù nghịch phải thương ta. Sở dĩ được
như vậy vì trước khi tu, nghiệp chướng trần lao dán chặt
vào tâm và thể hiện ra cuộc sống của chúng ta. Người nhìn
thấy ta là thấy khối nghiệp ác, khiến họ phải sợ, tránh.
Nay nhờ pháp Như Lai tẩy sạch chướng nghiệp nhơ bẩn, đem
Phật vào tâm. Lúc đó, người thấy ta qua màn kính lọc là
Phật, pháp, tự nhiên họ phải cảm tình. Vì vậy, trì kinh
mà buồn giận, ốm đau, người thân từ bỏ thì không nên
tiếp tục.
Ngoài
ra, người trì kinh xem quyền lợi vật chất thế gian như mộng
huyễn bào ảnh, không thực còn mãi, nên không để tâm. Mặc
dù không quan tâm đến vật chất, họ không thiếu thốn thứ
gì của thế gian, vì đã sử dụng được kho báu Như Lai,
một thánh tài vô tận. Trên căn bản phước báu vô lượng
như vậy, hành giả Pháp Hoa có đủ tất cả những gì từ
cõi người cho đến cõi trời. Sau cùng, người tu Pháp Hoa
mỗi ngày tăng trưởng Phật huệ, đạt đến hiểu biết chính
xác hơn. Ai tu theo kinh Pháp Hoa có được năm hoặc ít nhất
một hiệu quả như trên mới nên tiếp tục.
Trước
khi thọ trì Bổn môn, tôi đã từng thọ trì bộ kinh Pháp
Hoa 28 phẩm bằng tất cả lòng thành và cũng đã đạt nhiều
kết quả tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng. Thọ trì lâu
ngày, cảm tình của tôi với kinh Pháp Hoa càng sâu đậm hơn.
Tôi quan sát xem các bậc tiền bối tu thế nào và kết quả
ra sao để rút kinh nghiệm ứng dụng trong cuộc sống bản
thân, thấy được pháp nào lợi ích, tôi mang ra giảng dạy
và gần đây tôi hình thành Bổn môn Pháp Hoa.
Bổn
môn Pháp Hoa là pháp hành trì của chính tôi, tôi không phiên
dịch từ bất cứ bộ kinh nào. Vì là pháp tu, tuy ít, nhưng
mang tính tổng hợp, nên phải hiểu rộng là dung hóa tất
cả pháp Phật. Về phần văn kinh, tôi đã tham khảo 3 dịch
bản kinh Pháp Hoa của Trung Quốc, 10 bản dịch của Nhật Bản,
một bản của Triều Tiên, một bản tiếng Anh, một bản tiếng
Pháp và Phạn bản. Tôi chỉ rút những ý quan trọng thiết
yếu và đúc kết lại thành Bổn môn Pháp Hoa. Về phần luận
giải kinh Pháp Hoa của các danh Tăng để lại, tôi chọn hai
tác phẩm quan trọng nhất làm đối tượng nghiên cứu tu hành,
đó là Pháp Hoa tam đại bộ của Trí Giả Đại sư và Tuyển
tập dị văn của Nhật Liên Thánh nhân.
Theo
tôi, hai vị Thánh Tăng này có nhận thức đặc sắc về kinh
Pháp Hoa. Các Ngài là biểu tượng kiểu mẫu mà tôi nương
theo thâm nhập vào tạng bí yếu Như Lai. Tôi xin giới thiệu
đôi nét về hai vị này để quý vị có khái niệm sơ về
ý nghĩa Tích môn và Bổn môn của các bậc cao đức tiền
bối đã chủ xướng.
Ngài
Trí Giả được giới trí thức tôn kính là Tích môn đại
sư vì Ngài có thể giảng kinh rộng đến độ không thể nào
nắm cho hết được. Ngài là danh Tăng đời Tùy của Trung
Quốc, có sức thuyết phục đến độ vua Trần phải ra lịnh
triều đình ngưng họp để nghe Ngài giảng kinh Pháp Hoa. Suốt
3 tháng, Ngài chỉ giảng một chữ Diệu, cho đến suốt 8 năm
ở Kim Lăng chỉ giảng ý nghĩa của 5 chữ: Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh. Điều này chứng minh Ngài đã triển khai về mặt
Tích môn hay giáo nghĩa một cách sâu xa vô cùng. Cả một nhận
thức gặt hái trong quá trình tu hành của Ngài được đúc
kết thành bộ Pháp Hoa huyền nghĩa, làm nền tảng cho người
muốn nghiên cứu tu hành theo Pháp Hoa.
Tinh
thần Tích môn và Bổn môn do Trí Giả phát hiện và giảng
dạy trước tiên. Ngài chia kinh Pháp Hoa làm hai phần: Tích
môn từ phẩm 1 đến 14 và phẩm 15 đến 28 thuộc Bổn môn.
Ngài
Trí Giả theo hướng tu từ Tích môn sang Bổn môn, hay từ sự
kiện lịch sử có thật tiến vào thế giới tâm linh ; nói
khác, đi theo Đức Phật Thích Ca trên cuộc đời để tìm
về Pháp thân Ngài. Tu theo chiều hướng thuận như vậy dễ
hiểu.
Ngài
Nhật Liên thì chủ trương trái lại, bắt đầu từ cội gốc
Bổn môn đi ngược về hiện thực, nghĩa là chú trọng đến
Phật thường trú Pháp thân, theo Phật vĩnh hằng đó tu mới
hiểu rõ được Phật sanh thân ứng hiện trên cuộc đời.
Mặc
dù đề xướng pháp tu hoàn toàn trái ngược, cả hai vị đều
nhấn mạnh đến phần ứng dụng kinh Pháp Hoa trong cuộc sống.
Trí Giả dạy thọ trì kinh Pháp Hoa từ phẩm 1 đến phẩm
28. Nhật Liên đứng lập trường Bổn môn dạy thọ trì ngược
lại, từ phẩm 28 đến phẩm 1. Ngài Nhật Liên cho rằng cách
tu của Trí Giả ở lập trường Tích môn hoàn toàn đúng cho
chúng đương cơ ở thời Phật tại thế được trực tiếp
nghe Phật thuyết pháp. Đối với người hậu thế hay chúng
ta, Nhật Liên chủ trương tu theo Bổn môn Pháp Hoa. Ngài dạy
tụng ngược từ phẩm 28 trở về phẩm 1, không tụng bằng
ngôn ngữ văn tự, nhưng tụng bằng Phật ngữ của thường
trú Pháp thân và theo Ngài, Đức Phật vẫn đang hiện hữu
ở ngay đây với chúng ta. Đó cũng là vấn đề đặt ra cho
hành giả Pháp Hoa sau Phật Niết bàn.
5 chữ
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do Trí Giả triển khai, được đệ
tử là Quán Đảnh đúc kết lại thành 10 tập. Khi luận giải
đó được truyền sang Nhật Bản ở thế kỷ XII, tức cách
500 năm sau, 5 chữ này lại được Nhật Liên đổi thành pháp
tu Ngũ tự đề mục. Nhật Liên không giảng rộng như Trí
Giả, nhưng đề xướng thọ trì 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh như thế nào cho có hiệu quả, sanh được 5 phước và
thấy được toàn bộ những gì Phật thuyết, thấy đủ nhân
hạnh quả đức của chư Phật mười phương.
Sang
Nhật Bản tu học, được biết về pháp hành trì Ngũ tự
đề mục của Nhật Liên, thoạt đầu tôi cũng cảm thấy
lo âu giống như các Phật tử Việt Nam ; vì nghĩ rằng nếu
chỉ tụng quá ít như vậy, làm sao đủ được bộ kinh Pháp
Hoa và không đầy đủ thì không thể có được công đức.
Bất ngờ tôi gặp một danh Tăng Nhật cảnh giác tôi rằng
: “Nếu Thầy tu theo Pháp Hoa, nhưng chấp kinh Pháp Hoa thì
cũng sẽ trở thành phá kinh Pháp Hoa”. Lời nhắc nhở
ấy là đề mục khiến tôi tỏ ngộ. Nếu nắm bắt được
cốt tủy kinh và theo đó hành trì có kết quả, chúng ta mới
hưởng được tinh túy của kinh Pháp Hoa mà người xưa diễn
tả là “Vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng”, dùng đó để
tươi nhuận cuộc sống, mới tiêu biểu cho Bổn môn Pháp Hoa.
Thế
nào là tu kinh Pháp Hoa và chấp kinh Pháp Hoa ? Người tôn trọng
tuyệt đối kinh Pháp Hoa và siêng năng đọc tụng, cứ
nghĩ rằng như vậy là tu Pháp Hoa, nhưng càng tu họ càng phiền
muộn, dữ tợn, nghèo khổ, khó tánh. Người này chẳng những
chấp Pháp Hoa mà còn rơi vào hạng phá pháp, làm cho người
kinh sợ, không dám tu theo. Họ đã làm ngược lại những điều
Phật dạy rằng tu Pháp Hoa phải thọ trì được yếu chỉ
kinh và thể hiện thành cuộc sống có 5 phước báu.
Đức
Phật khẳng định người có một niệm tâm hoan hỷ với
kinh Pháp Hoa, được công đức lớn hơn người bố thí, nhẫn
nhục trong vô số kiếp. Chúng ta cần lưu ý điều này, đừng
ôm đồm nhiều quá, để rồi bị kẹt trong pháp tu, đánh
mất niệm tâm sẽ trở thành điên đảo vọng tưởng. Như
vậy, không còn dính líu gì đến Phật, mà cứ ngỡ mình đang
thọ trì Pháp Hoa.
Chắc
chắn không thể nói 28 phẩm kinh Pháp Hoa là Pháp Hoa. Thật
vậy, khi Phật tu hành đạo Bồ tát, thọ trì đến 200 muôn
ức bài kệ Pháp Hoa. Ngày nay, chúng ta tìm được mấy bài
kệ trong 28 phẩm kinh. Chúng ta không thể nào tìm đủ 200 muôn
ức bài kệ. Vậy làm cách nào để có đủ kinh cho chúng ta
tu ? Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du ký diễn tả ý nghĩa
thiếu kinh qua hình ảnh Ngài Đường Huyền Trang thỉnh kinh
làm rớt xuống sông một số và một số khác bị dính trên
đá. Chúng ta tu hành muốn có đủ kinh phải lặn trong biển
mà tìm, phải đục trong đá mới thấy ; nói cách khác, muốn
tìm cốt lõi kinh, phải đi vào trần lao. Ý này được Phật
dạy trong kinh Pháp Hoa qua câu : Nhứt thiết thế gian tư sanh
sự nghiệp, nghĩa là có vào sanh tử, sống trong biển khổ,
mới phát hiện được 200 muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa là
cái gì.
Theo
Phật, tất cả sinh hoạt của các loài hữu tình, vô tình
đều là Pháp Hoa, không có gì không phải Pháp Hoa mới là
Pháp Hoa. Có như vậy, Pháp Hoa mới tiêu biểu cho Tối thượng
thừa viên giáo. Vì viên nghĩa là tròn đủ, nên phải bao hàm
tất cả ; nếu tách riêng ra một nhóm nhỏ của chúng ta để
giữ gìn và loại bỏ tất cả những thứ còn lại, không
thể nào là Pháp Hoa. Trên căn bản ấy, có dấn thân vào biển
khổ mới tìm được chân kinh ; nếu không, chỉ biết kinh
trên ngữ ngôn, lý thuyết.
Từ
nghĩa đó, thọ trì kinh Pháp Hoa không có nghĩa là ôm bộ kinh
lên chùa tụng từ ngày này sang ngày khác, năm này sang năm
nọ. Tụng xong, đói bụng đi kiếm ăn và không được cho
ăn, liền gây “Tại sao kẻ ở không lại cho ăn, còn tôi
tu hành mệt gần chết, sớm chiều lo kinh kệ mà lại bị
bỏ đói. Coi chừng bị tội ngập đầu !”. Hình ảnh này
tượng trưng cho mẫu người chấp kinh, chấp pháp nặng.
Chúng
ta thể hiện tinh thần nhứt thiết thế gian tư sanh sự nghiệp,
làm việc gì ở trần gian có lợi cho ta và tất cả loài,
đó là Pháp Hoa, là chiếc cầu đưa ta đến với Phật. Vì
Phật có tâm đại bi và chúng ta làm việc bằng hạnh đại
bi. Hạnh đại bi của ta tương ưng với tâm đại bi Phật,
ta và Phật gặp nhau trong tương đồng đó. Hiểu như vậy,
người tu theo Pháp Hoa ở hoàn cảnh nào cũng tu, không phải
về chùa tu, ở nhà không tu. Chờ tới chùa mới tu thì trong
đời quý vị có được bao nhiêu ngày tu, bao nhiêu ngày tạo
tội. Như vậy tội chúng ta tạo và cái tu của chúng ta chênh
lệch quá nhiều; tu cách đó bảo đảm đọa địa ngục.
Tu
theo Viên thừa, theo kinh Pháp Hoa, chúng ta tu trong một niệm
tâm, nhưng niệm tâm này di chuyển khắp vũ trụ. Tâm chuyển
đến đâu, biến nơi đó thành thanh tịnh, đến được với
Phật. Lúc ấy, tất cả thu thành một niệm và trong một niệm
thông được tất cả. Thành tựu một niệm tâm như vậy vượt
hơn khổ công tu pháp khác. Trên thành quả ấy, không thấy
họ tụng kinh mà thực là tu Pháp Hoa vì cuộc sống mỗi ngày
tốt đẹp thêm : trí tuệ phát huy, tình thương tăng trưởng,
hảo tướng trang nghiêm, phước đức dồi dào.
Có
một niệm tâm tương ưng với Phật và bằng niệm tâm đó
đi vào cuộc đời, đó là hành giả Pháp Hoa. Lúc ấy, ở
chùa hay ở nhà, ở trường học, xí nghiệp, nông trường,
v.v..., bất cứ chỗ nào chúng ta tới cũng tu, chúng ta khác
hơn người ở điểm đó. Và tu theo Pháp Hoa, nên dù ở nơi
nào, phản ứng tự nhiên của ta cũng là phản ứng của hành
giả Pháp Hoa ; không phải tụng kinh ở chùa xong, ra ngoài sẵn
sàng gây gổ, nói xấu, hại người. Chúng ta đến với Phật
để nuôi dưỡng tâm đại bi của mình và sử dụng tâm đại
bi đó với chúng sanh, không phải dùng tâm đại bi cho Phật.
Đến
chùa lễ Phật, nghe pháp, đưa hình ảnh, lời lẽ và ý tưởng
thánh thiện vào lòng. Trên đường về nhà, những gì tiếp
thu được từ đạo giải thoát của Phật cùng đi theo chúng
ta, lúc nào cũng sống trong tâm chúng ta và thể hiện ra cuộc
sống, như vậy mới thực là tu. Trong khoảng thời gian đi
từ chùa về nhà, chúng ta đang suy niệm, đang sống với pháp
Như Lai, nhờ vậy mọi người nhìn ta, họ thấy pháp Như Lai
nên dễ dàng sanh thiện cảm.
Điều
này dễ kiểm chứng trong thực tế. Có người nói với tôi
rằng họ đi chùa lễ Phật về, gặp người bình thường
không ưa họ, nhưng sao tự nhiên lại tử tế với họ. Sự
thật, họ cảm tình với ta là cảm tình với pháp Phật ;
nên khi chúng ta làm tắt mất niệm tâm đại bi, sẽ rơi trở
lại con người phàm phu thực của mình, họ không thương kính
giống như lúc ta còn giữ được niệm tâm thanh tịnh.
Chính
tôi cũng chứng nghiệm pháp tu này. Một hôm, tôi đi xe xích-lô
và Phật tử đã trả tiền xe trước. Trên đường đi, anh
đạp xe hỏi tôi tu được bao lâu. Tôi trả lời ba, bốn chục
năm gì đó. Về đến chùa, anh lấy tiền trả lại tôi. Anh
nói : “Con là người đạo Thiên Chúa. Con nghĩ Thầy
là người Chúa đã chọn !”. Thật ra, trên suốt quãng
đường đi, tôi chỉ suy nghĩ về anh với tâm đại bi. Chính
nguồn tình thương thanh tịnh đó đã tác động, khiến anh
cảm thấy gần gũi với tôi, xóa mất hàng rào khác biệt
tôn giáo.
Trên
tinh thần ấy, chúng ta tu theo Pháp Hoa, hình thức bên ngoài
thế nào cũng được, miễn người có cảm tình tốt và xem
hiện hữu của ta lợi ích cần thiết là đủ. Sống, tu với
tâm niệm ấy, mọi liên hệ giữa ta và người, ta và xã hội,
đều là pháp ; không phải chúng ta dành riêng pháp Phật ở
chỗ cố định và những cái khác bị cô lập. Nếu ở chùa
tốt, về gia đình đối nghịch với người thân và ra xã
hội không ai chấp nhận, rõ ràng chúng ta phá pháp, sống ngược
lại ý Phật dạy.
Ngài
Nhật Liên muốn giúp chúng ta tránh những sai lầm trên, đã
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ý nghĩa Bổn môn trên
bước đường tu, cố tìm cho được tinh ba của pháp Phật
mới có khả năng nuôi dưỡng giới thân huệ mạng của chúng
ta.
Nhật
Liên Thánh nhân (Nichiren Shonin) sống trong thời kỳ mà tình
hình chính trị nước Nhật có nhiều biến động. Ngoài
ra, lại thêm những trận động đất, bão tố, nạn đói,
nạn dịch tàn phá khốc liệt. Riêng trong giới Phật giáo,
các sư chống đối nhau dữ dội.
Từ
hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, Nhật Liên đưa ra tư tưởng
đổi mới trong Lập chánh an quốc luận. Ngài vạch ra nguyên
nhân sâu xa của những thảm họa trên là vì mọi người không
hiểu biết chân giáo của kinh Pháp Hoa hay Bổn môn Pháp Hoa,
chỉ tu theo hình thức bề ngoài, dẫn đến sự thịnh hành
của tà giáo. Để chấm dứt thảm họa nội chiến và ngoại
xâm, cần phải lập tức quay về với Nhất thừa giáo của
kinh Pháp Hoa. Kiến nghị của Ngài về cải tổ luật pháp,
thực hiện công bằng và trị an cho quốc gia đã được quan
Nhiếp chánh thực hiện.
Sau
một tháng thực hiện kiến nghị của Nhật Liên, các sư còn
nhiều tham sân bị đụng chạm quyền lợi, họ khởi ác tâm
hại Ngài. Vào nửa đêm, họ đốt cháy thảo am của Ngài.
Tương truyền, chiều hôm đó, một đàn khỉ trắng xuất hiện,
đến kéo vạt áo Ngài. Sự kỳ lạ ấy khiến Ngài lần theo
đường mòn cùng bầy khỉ. Lúc Ngài quay về thì thảo am đã
bị thiêu rụi trong lửa đỏ.
Sau
đó, Ngài tiếp tục du hành truyền giáo, giảng kinh Pháp Hoa
và bị thọ nạn thêm 4 lần nữa. Năm 1268, khi đại diện
triều đình Mông Cổ đến yêu sách Nhật Bản phải quy hàng,
Ngài đề nghị quân đội chính phủ và các ngôi đền có
thế lực phải lập tức từ bỏ sự cuồng tín và đặt trọn
niềm tin vào chánh giáo Pháp Hoa. Kết quả nhiều kẻ đối
nghịch quay về với Ngài.
Sau
đó, vì âm mưu của những người theo phái Jodo, Nhật Liên
bị bắt và bị kết án tử hình. Đó là lần thọ nạn thứ
ba. Khi hành quyết Ngài, thanh gươm của tên đao phủ tự nhiên
nẹt lửa và gãy làm 3 đoạn, khiến bọn lính kinh hoàng bỏ
chạy. Ngài lại bị đày ra đảo Sado, một vùng khí hậu khắc
nghiệt, quanh năm chỉ toàn băng tuyết.
Cuối
cùng, Ngài đã thoát khỏi tai họa một cách mầu nhiệm. Sau
đó, Ngài được rước về đất liền và được tôn kính
như bậc Thánh Tăng. Ngài bắt đầu tuyên giảng Bổn môn Pháp
Hoa phát xuất từ tâm ngộ đạo của Ngài.
Nhật
Liên đề ra pháp tu Bổn môn, nghĩa là tu từ chân tâm, khác
với tu Tích môn hay hình thức. Ngài chủ trương phải làm
sao để ngộ bản tâm, không chú trọng hình thức vì dễ sanh
phiền não, rớt qua tà đạo. Dù ở trong ngành nghề nào, khoác
áo cư sĩ hay xuất gia đều phải phát triển nội tâm để
hành đạo và tìm về an trú với Đức Phật không sanh diệt.
Ngài
đặt trọn niềm tin sắt đá đối với Đức Phật thường
trú và chuyên niệm Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Theo Ngài,
đó là bí yếu của Phật nhằm giúp cho chúng ta thấy rõ thật
tướng các pháp, phát sanh trí tuệ và đạo đức, trở về
được với Bổn Phật thường trú, bất sanh bất diệt.
Trên
đường hành đạo, uy đức của Ngài đã thuyết phục được
những kẻ hung ác, thậm chí đến người cuồng tín thuộc
phái Jodo định giết Ngài, sau cũng hồi tâm, xin làm đệ tử.
Tính
đến nay, Ngài Nhật Liên đã viên tịch trên 700 năm, nhưng
số tín đồ tu theo Bổn môn Pháp Hoa của Ngài có trên 40 triệu.
Họ tự đặt mình sống theo lời chỉ giáo của Ngài, nhiệt
tình trong việc xây dựng đất nước Nhật Bản theo mô hình
Pháp Hoa.
Nhật
Liên được tôn danh là Bổn môn đại sư. Ngài triển khai
phần tiềm ẩn sâu xa của kinh Pháp Hoa, không căn cứ trên
28 phẩm kinh, nhưng căn cứ trên tam đại bí pháp.
Theo
Ngài, tam đại bí pháp gồm Bổn môn bổn tôn, Bổn môn đề
mục và Bổn môn giới đàn ; kết hợp được ba pháp này
mới thực sự hình thành nên Bổn môn, không phải Bổn môn
nằm trong phẩm 15 đến phẩm 28 kinh Pháp Hoa.
Bổn
môn là bí pháp, nên ai tu hành mới hiểu kinh, sống được
với kinh. Bổn môn bổn tôn, Bổn môn đề mục và Bổn môn
giới đàn, chính là Tam bảo của Bổn môn, khác với Tam bảo
của Tích môn.
Trước
hết, Bổn môn bổn tôn chỉ cho vị giáo chủ mà chúng ta tôn
thờ, đối tượng tín ngưỡng này nhất định cần thiết.
Khi Phật tại thế, chúng ta theo tu học với Ngài và Phật
Niết bàn, chúng ta đúc tượng Ngài để thờ phượng, lễ
lạy. Về vấn đề này, Ngài Nhật Liên chủ trương phải
tìm Phật thường trú vĩnh hằng mới có khả năng cứu độ
chúng ta và mới là đối tượng cho chúng ta hướng tâm quy
ngưỡng.
Thật
vậy, nhìn sâu bề trong, ở dạng đắc đạo, tức nhìn về
Bổn môn, sẽ thấy con người thực của Đức Phật kết tinh
bằng đạo đức và trí tuệ do vô lượng kiếp tu hành và
đã thành Phật từ lâu xa. Vì vậy, khi cốt lõi đạo đức,
trí tuệ ấy đem đặt vô ngũ uẩn thân nào thì ngũ uẩn đó
biến thành Phật ; nên ngũ uẩn thân Phật không quan trọng,
ví như chiếc áo bên ngoài thay đổi tùy ý. Phần quan trọng
chính là đạo đức, trí tuệ viên mãn của Đức Phật thực,
đã thành Phật từ lâu xa, gọi là Bổn môn bổn tôn. Từ
Bổn môn bổn tôn tiêu biểu cho Phật thực hiện ra Đức Thích
Ca Mâu Ni ở Ta Bà là Phật ứng hiện trên cuộc đời, tuy
hai nhưng thực là một. Có thể tạm ví dụ cho dễ hiểu,
như tài tử đóng vai nào đó trên sân khấu và họ trở về
cuộc sống thường nhật, cũng là một người.
Trên
tinh thần ấy, chúng ta tôn thờ Đức Thích Ca, tức tôn thờ
hiểu biết siêu tuyệt, khả năng cứu nhân độ thế toàn
hảo và đức tánh trầm mặc vô cùng của Ngài. Chúng ta lần
theo dấu vết tốt đẹp ấy của Đấng Vô thượng Năng nhơn
hiện hữu trên cuộc đời để tìm về cội nguồn thấy được
Đức Phật thực hằng hữu bất tử có khả năng che chở
chúng ta. Theo tu với Đức Phật đó là theo Bổn môn bổn tôn,
nhất định sẽ đắc đạo.
Thật
vậy, Đức Phật thường trú vĩnh hằng nhờ tu chứng Pháp
thân Tỳ Lô Giá Na. Pháp thân này thông qua tâm chúng ta bằng
sợi dây vô hình. Tuy nhiên, vì mãi sống với vọng thức,
chúng ta không thể thấy Pháp thân. Pháp thân Tỳ Lô Giá Na
của Thích Ca Như Lai và Pháp thân của ta cũng là một. Nếu
tâm ta thanh tịnh ngang qua tâm Tỳ Lô Giá Na, sẽ nhận được
lực Phật gia bị ; nhờ đó trí tuệ bừng sáng, lời nói
chân thật đúng đắn và có thân hảo tướng trang nghiêm,
khiến người khác trông thấy cũng phát tâm theo.
Giữa
Phật và chúng ta có mối liên hệ mật thiết giống như đài
truyền hình đưa âm thanh và hình ảnh xuống tất cả máy.
Đức Phật cũng vậy, Ngài trải tâm từ và trí tuệ đến
cho tất cả người có nhân duyên căn lành, họ đều nương
nhờ Phật đức, Phật huệ nuôi lớn Phật tâm của họ và
dõi theo cõi vĩnh hằng của bổn Phật.
Riêng
tôi, cảm nhận được Đức Phật thường hằng mãi mãi và
luôn thao thức mình từ cõi nào đến đây, làm xong việc phải
biết rõ chỗ trở về; thiết nghĩ đó là việc duy nhất chính
yếu của người tu. Khi ngăn chặn được nguồn tình bể ái,
chúng ta có thể trở về cội gốc chơn tánh của mình. Ngược
lại, để cho tình ái si mê quấn chặt, dĩ nhiên đời đời
trôi lăn trong sanh tử khổ đau.
Phật
Pháp thân vĩnh hằng, bất sanh bất diệt, quá cao xa, chúng
ta chưa thể vói tới được, nên phải qua trung gian gọi là
Bổn môn giới đàn, đảnh lễ để thâm nhập. Bổn môn giới
đàn nhằm chỉ cho giới đàn vô tướng.
Khi
tu, từ giới đàn hữu tướng được xem như phương tiện
dẫn chúng ta vào giới đàn vô tướng hay siêu thức ; nói
cách khác, nương theo hình thức bên ngoài bố trí đầy đủ
như tượng Phật, Bồ tát, Hộ pháp thiện thần để
dẫn nhập vào Bổn môn giới đàn. Ngài Nhật Liên gọi Bổn
môn giới đàn là đại mạn trà la, tức tổng thể của vũ
trụ. Ở thế giới mầu nhiệm đó có Bổn Phật, không thể
dùng mắt thường thấy được, chỉ dùng nhân duyên căn lành
mới có thể thâm nhập thế giới bao la ấy, làm bạn lữ
với các Bồ tát đang trụ nơi đó.
Người
tu Bổn môn sinh hoạt với vô tướng giới đàn, không nặng
hình thức, nên phải bố trí giới đàn vô tướng bằng tâm.
Dùng tâm thanh tịnh của ta ngang qua tâm của người cùng tu,
ta chỉ tiếp thu tâm niệm tốt của họ, cái xấu bị loại
bỏ. Như vậy, chúng ta sẽ có pháp lữ đồng hành tạo thành
sức mạnh, vì tu một mình không làm được việc, phải có
quyến thuộc đông, nhưng đông mà tạp chúng cũng không được.
Phải lựa người cùng tu Bổn môn và trong những người này,
chúng ta gạn lọc lại, còn người đồng hạnh. Chúng ta cầu
mong luôn có Bồ tát đồng hạnh, đồng nguyện, ai nghĩ giống,
làm giống ta, xin hãy đến chung cùng hợp tác Phật sự. Trên
căn bản những người đồng hạnh kết thành giới đàn vô
tướng, tuy họ không sống cùng trụ xứ với ta, nhưng thông
qua tâm đồng độ cảm, đồng việc làm, dẫn đến tác động
tốt cho việc tu hành của chúng ta, coi như họ đang ở chung
trong giới đàn.
Đối
với người tu Bổn môn, lấy Bồ tát mười phương làm bạn
lữ, mặc dù các Ngài không làm cùng việc, cũng ảnh hưởng
tốt cho chúng ta. Khi tâm duyên với Phật, pháp và Bồ tát
đồng hạnh, tạo thành lực bất tư nghì. Theo kinh nghiệm
của tôi, Bồ tát Tùng địa dũng xuất không thấy được
bằng mắt lại hết sức quan trọng, trợ lực cho tôi thành
tựu nhiều việc hơn là người trần gian. Vì người đời
hứa hẹn đủ thứ, nhưng đó chỉ là vọng tưởng giả dối,
đừng tin tưởng nhờ họ cho uổng công. Bồ tát Tùng địa
dũng xuất không hứa hẹn gì, nhưng sẵn sàng tác động tốt
và nhất là bất ngờ đến giúp chúng ta hết lòng. Nỗ lực
tu, dùng tâm thanh tịnh ngang qua Phật, pháp và Bồ tát đồng
hành, chúng ta sẽ tiếp nhận được lực vô hình lớn lao
không cùng tận mà các Ngài không hề bắt chẹt hay đòi hỏi
chúng ta điều gì như người thế gian hữu hình.
Để
thâm nhập Bổn môn giới đàn, diện kiến Bổn môn bổn tôn,
hành giả sử dụng pháp Bổn môn đề mục, tức chỉ niệm
Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa kinh, vì đề mục này bao gồm trọn
vẹn tinh yếu của pháp Phật.
Tóm
lại, tu Bổn môn hay cánh cửa tâm chúng ta mở rộng thì không
có gì không đẹp. Đức Phật dạy rằng tâm có khả năng
thông tất cả pháp giới, từ cõi Trời Hữu Đảnh cho đến
địa ngục A Tỳ, không đâu mà tâm không đến được. Bước
theo lộ trình Bổn môn là nỗ lực phát huy năng lực kỳ diệu
của tâm, thấy được cả ba đời mười phương Phật và
các Bồ tát đang hành đạo tiến về Vô thượng đẳng giác,
thấy các loài hữu tình chúng sanh không ai không thành Phật.
Cuối cùng đến cùng tột nguồn tâm, gặp Phật gốc hay Phật
thường trú vĩnh hằng ở Thường Tịch Quang tịnh độ cùng
tất cả Bồ tát kim sắc thân, đầy đủ 32 tướng tốt, thành
tựu mọi việc khó nhất.