Thông
thường trong văn thơ, sau câu tả cảnh là tới tả tình vì
khi tâm xúc cảnh, tất khởi cảm thọ vui buồn, thương ghét
từ cảnh đó. Đơn cử trong ca dao dăm câu như:
“Trời
mưa cho lúa chín vàng
Cho
anh đi gặt, cho nàng đem cơm.”
Nếu
trời mưa chỉ để cho lúa chín vàng thôi thì dù người viết
có tốn giấy mực tả tỉ mỉ tới đâu, người đọc cũng
sẽ buồn ngủ. Không lẽ lúa chín vàng rồi để mặc cào
cào châu chấu tới mổ hay sao ? Cái Cảnh được mùa lúa chín
đó phải đậm đà, trọn vẹn với công lao thể hiện qua
Cái Tình khi anh gặt lúa ngoài đồng thì nàng về nhà lo bếp
núc để giấc trưa có cơm bới đem ra, cùng ăn, cùng hưởng
hạnh phúc ngày mùa. Người đọc làm sao ngừng ngang ở câu
“Trời mưa cho lúa chín vàng” cho được !
Thí
dụ một câu khác vui hơn:
“Ngó
lên am tự chùa vàng
Tu
thì đặng đó, bỏ nàng ai nuôi.”
Câu
đầu chỉ là tả cảnh khi một trang nam tử đi ngang chùa,
nhìn lên cửa am trang nghiêm thanh tịnh bỗng bâng khuâng khởi
niệm, mới có tiếp câu sau tả tình, khai triển cái niệm
vừa khởi là nơi thanh khiết thế này giá mình phát tâm đi
tu thì cũng được đấy; nhưng chưa đầy một nửa sát-na
sau lại giật mình trở về trần tục ngay khi nghĩ rằng mình
đi tu, còn nàng thì sao ? để cho ai hưởng ?
Tâm
xúc cảnh phải sanh tình mới hợp lý, mới tròn trịa theo
tinh thần tâm thế gian. Câu ca dao này tạm ổn trên phương
diện đó, chỉ xin bàn ngang một chút mua vui ở câu tả tình.
Theo
tôi nghĩ, trang nam nhi này, dù có bị cảnh chùa thu hút tới
đâu mà vội vàng xuống tóc thì cũng chỉ là giai đoạn của
cảm xúc chứ làm sao chàng có thể sớm chiều hai buổi công
phu được khi còn tiếc rẻ “bỏ nàng ai nuôi”. Nếu biết
đích xác trang nam tử này là ai, tôi sẽ gửi tặng chàng,
tiểu sử tôn-giả Ma Ha Ca Diếp, để nếu chàng có gieo duyên
lành kiếp nào, nay quyết tâm tìm đường giải thoát thì may
ra còn hy vọng.
Trước
khi lên đường cầu đạo, tôn-giả Ma Ha Ca Diếp đã có đầy
đủ những gì mà nhân thế cho là hạnh phúc. Nào là xe, ngựa,
ruộng đất, tôi tớ và nhất là phu nhân xinh đẹp, giòng
dõi quyền quý cao sang. Tôn-giả lại chưa thực sự “Ngó
lên am tự chùa vàng” nào, mà chỉ khởi tâm tìm Đạo vàng
thôi cũng đã quyết chí ra đi. Khi đi, tôn-giả rất tự tin,
thanh thản dặn dò phu nhân rằng “Nàng an tâm chờ đợi,
nếu tìm ra bậc Đạo Sư xứng đáng, ta sẽ về đón nàng
cùng tu học”.
Trang
nam tử trong câu ca dao này muốn “Tu thì đặng đó” thì
phải mang tâm trạng về nàng như vậy, chứ chưa đi đã sợ
“ Bỏ nàng ai nuôi” thì đi sao được !
Tình
cờ, tôi đọc được hai câu thơ không ở trong hình thức
bình thường là có tả cảnh thì sẽ có tả tình. Đó là
câu:
“Năm
chầy đá ngủ lòng khe
Lưng
trời cánh hạc đi về hoàng hôn.”
Hai
câu của tác giả Thị Ngạn, không biết trích từ một đoạn
nào, từ một bài thơ nào, hay tất cả chỉ có hai câu chênh
vênh như thế. Điều này đối với tôi không mấy quan trọng
bằng cảm xúc khi bất ngờ đọc được. Cảm xúc này không
phải chỉ là sự rung động mà còn vương vấn nỗi băn khoăn,
khắc khoải. Đúng là tôi đang “thương vay khóc mướn”.
Người thơ có nói gì hơn đâu ! Người thơ chỉ bâng quơ
tả cảnh nơi ven đồi khe suối nào đó, đá im lìm say ngủ
trong tiếng chầy điểm canh. Và ở không gian khác, thời gian
khác, cánh hạc lẻ loi đang lặng lẽ vỗ cánh trong bóng chiều.
Hai
câu thơ tả cảnh đều ở thời gian tĩnh lặng của ngày,
là chiều và tối. Đối tượng của cảnh trong bức tranh này
cũng hài hòa với thời gian. Đó là sự im lìm của đá và
cánh chim hạc lẻ loi trong hoàng hôn mênh mông. Đã thế, hai
câu thơ lại hiện lên riêng biệt trên một trang giấy trơ
vơ, khiến người đọc ưa thắc mắc vớ vẩn như tôi khó
có thể thản nhiên giở sang trang khác khi cái cảm giác hụt
hẫng còn đầy ứ trong lòng !
Như
vừa tạm dẫn giải bằng ca dao thì theo lý thường, nếu đã
có hai câu tả cảnh, tất phải có hai câu tiếp theo, tả tình,
khởi lên từ cảnh đó mới tròn đủ. Nhưng hai câu thơ của
tác giả Thị Ngạn lại khác. Cả một trang giấy chỉ có
hai câu tả cảnh và tên tác giả, làm đậm nét hình ảnh
của khách độc hành trên đường thiên lý. Người khách này
là ai giữa cảnh hiu quạnh, tịch tĩnh này ? Người đọc ưa
thắc mắc như tôi, nhìn bằng nhục nhãn, tất phải thấy
ngay người khách độc hành chính là tác giả, là nhà thơ
Thị Ngạn. Tìm ra người ngắm cảnh rồi, tôi lại bâng khuâng,
không biết tâm trạng nhà thơ ra sao trước mênh mông u tịch
mà nhà thơ đang trực diện. Căn xúc Trần có sanh Thức không
? Nếu có thì cảm thọ đó là gì ? sao nhà thơ lại kín đáo,
không chia xẻ gì với người đọc vậy ? Không chia xẻ tình
mà lại chia xẻ cảnh thì hẳn là nhà thơ muốn gửi gì nơi
cảnh đây. Tôi vò đầu, bứt trán, đọc lại:
Năm
chầy, đá ngủ lòng khe
Lưng
trời cánh hạc đi về hoàng hôn.
Vẫn
không bắt gặp chút tình nào của nhà thơ, qua cảnh, nhưng
vì đọc lại bằng tâm ân cần nên tôi thấp thoáng thấy
như chính mình đang cùng đá ngủ dưới lòng khe, đang cùng
chim hạc, vỗ cánh lưng trời trong bóng hoàng hôn dần xuống.
Giữa mơ màng hư thực đó, tôi cảm nhận như mình đang tọa
thiền. Nắng chiều lung linh trên bờ tường am như những bông
hoa đong đưa trong gió. Hoa và nắng dịu dàng ca múa, không
để tâm gì đến cánh hạc đang âm thầm vỗ cánh về đâu
! Về đâu ? Còn tổ để về hay đã mất ? Chỉ cánh hạc
lưng trời kia biết mà thôi. Mơ hồ quá, nhưng theo dõi cánh
chim thì rõ ràng cánh hạc đã có định hướng là “đi về
hoàng hôn”. Định hướng đó có khác chi “sắc tức thị
không, không tức thị sắc”, định cũng như vô định, hướng
cũng như vô hướng. Cứ như thế, cánh hạc lưng trời đưa
chiều dần vào tối, rồi hạc chìm mất trong bóng đêm hay
hạc đã hóa thân thành đá, im lìm ngủ dưới lòng khe ? Lại
cũng chỉ hạc biết và đá biết mà thôi.
Nhà
thơ Thị Ngạn có mặt với bóng chiều, bóng đêm, với hạc
và đá, nhưng dường như chỉ có mặt để nhận biết không
gian, vạn hữu mà không hề bị không gian, vạn hữu đó vướng
mắc. Tức là, Căn có gặp Trần mà không để sinh ra Thức.
Căn chỉ nhận diện Trần: đây là bóng chiều, đây là bóng
đêm, đây là đá ngủ, đây là hạc bay. Tuyệt nhiên, Thức
không nảy sinh một cảm thọ nào để tích lũy vào Alaya thứ
bảy mà duy-thức-học gọi là “kho chứa”, như chúng ta thường
vô tình nhồi nhét tạp niệm đầy kho, rồi bị chính những
sợi tơ vô hình đó quấn chằng quấn chịt trong hồi tưởng
chập chùng của ảo giác !
Quán
chiếu tới đây tôi bỗng bàng hoàng. Hóa ra, cái tâm thế
gian hạn hẹp của tôi đã vội nghi oan cho nhà thơ Thị Ngạn
là kín đáo quá, làm thơ chia xẻ cảnh mà không chia xẻ tình
với người đọc. Tôi xin chân thành tạ lỗi. Nhà thơ đã
chia xẻ hết những gì nghe và thấy đấy chứ. Người đọc
nào đòi hỏi thêm thì hãy tự tìm lấy, nghĩa là mượn cảnh
từ thơ mà nảy sanh tình cảm vui buồn của riêng mình. Khi
người đọc còn loay hoay với vui buồn đó thì có thể nhà
thơ thong dong kia lại đang nhàn tản ở đỉnh núi ven rừng
nào rồi. Thong dong với tuyết, với mây, với lá ngô đồng
vương trên vai áo.
Không
hiểu sao, tôi rất muốn tưởng tượng những chiếc lá vàng
kia nếu có rơi thì phải đang rơi trên nếp cà-sa bạc mầu
của một vị thiền-sư, tuy làm thơ mà không là thi sỹ, tuy
xuất thế gian mà chưa từng rời thế-gian-pháp, tuy uyên thâm
trí tuệ mà rất giản dị, nhu hòa.
Vì
sao ư ?
Vì
chỉ ở tâm hồn như thế mới có thể “đối cảnh mà không
sanh tình”, thanh thản đến cũng như đi, tự tại vào ra ba
cõi…
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng tám 2006)