I.
Luật tạng trong tổ chức tăng đoàn.
Định
nghĩa về tăng, Thiền sư Nhất Hạnh viết:
“Tăng
là đoàn thể đẹp
Cùng
đi trên đường vui
Tu
tập giải thoát
Làm
an lạc cuộc đời.”
Tăng
đoàn (Sangha) là những người nguyện sống với đời sống
hoà hợp, để hổ trợ cho nhau thực hiện đời sống Giải
thoát và Giác ngộ. Chính bằng đời sống như vậy, họ có
thể trở thành những mảnh đất trù phú (phước điền) để
cho mọi người đến gieo trồng hạt giống phước đức và
làm nền tảng cho đời sống chánh hạnh, tiến bộ tâm linh.
Năm anh em Kiều Trần Như là đoàn thể tăng đầu tiên. Sau
này trên đà phát triển của Phật giáo, Tăng đoàn mở rộng
không những một trú xứ mà lan khắp Ấn độ. Các tỷ kheo
lớn không còn ở gần bên Đức Thế tôn mà đi giáo hoá khắp
nơi do đó những quy định trong Tăng cũng có nhiều thay đổi.
Luật tạng ra đời và quy định đối với tổ chức Tăng
đoàn tối thiểu là bốn vị đã thọ tỷ kheo hoặc tỷ kheo
ni giới trở lên và cùng sinh hoạt với nhau trong một mục
đích là Giải thoát và Giác ngộ. Và cũng từ đây Luật tạng
quy định các chúng của Tăng được phân loại như sau:
a.
Phân loại theo túc số.
- Tăng
gồm bốn vị: Đây là túc số tối thiểu. Dưới bốn
vị không thể gọi là tăng hoặc ba vị tỷ kheo và một sa
di cũng không thể gọi là tăng, mà phải là bốn tỷ kheo trở
lên. Với túc số này Tăng có thể làm tác pháp Yết ma đơn
bạch cho những sinh hoạt thông thường trừ Tự tứ, truyền
Cụ túc giới, xuất tội Tăng tàn. Còn lại các Yết ma khác
đều được tác pháp với túc số bốn người này.
-
Tăng gồm năm vị: Đây là túc số Tăng tác pháp Yết
ma truyền Cụ túc giới ở biên cương trong đó có một vị
trì Luật. Vì số tỷ kheo ở đó không đủ mười vị. Với
túc số này các pháp Yết ma đều làm được chỉ trừ việc
truyền giới Cụ túc ở đô thị và xuất tội Tăng tàn.
-
Tăng gồm mười vị: Đây là túc số Tăng sung mãn tối
cần thiết để xuất tội tăng tàn và có thể thực hiện
bất cứ Tăng sự nào.
b.
Phân loại theo giới tính.
Do
sự khác về tính phái nên Tăng già được chia làm hai bộ:
-
Tỷ kheo tăng.
-
Tỷ kheo ni tăng (Trung quốc gọi là Á Tăng).
c.
Phân loại trú xứ:
Phân
loại chung theo trú xứ thì có hai hạng Tăng:
-
Chiêu đề Tăng là Tăng không ở định một chỗ mà đi giáo
hoá khắp nơi, hình thức Chiêu đề Tăng này hoàn toàn không
có tài sản, động sản và bất động sản.
-
Thường trú Tăng là Tăng cố định một chỗ cùng chung sinh
hoạt trong một trú xứ, cùng Yết ma An cư, Bố tát và Tự
tứ.
Đây
chính là cơ sở để có sự hình thành các bộ phái khác nhau
và sự xuất hiện Luật tạng có phần khác nhau. Tăng đoàn
là một cộng đồng Tăng lữ sinh động. Vì lẽ đó mà Luật
tạng quy định về sinh hoạt của Tăng như sau:
1.
Bố Tát:
Tiếng
Pali là Uposatha (Phạn ngữ, Posadha). Hán phiên âm là Bố tát
và dịch là Trưởng dưỡng, hoặc Trưởng thịnh: nghĩa là
nuôi lớn các thiện căn, khiến chúng trưởng thành trong sự
thanh tịnh.
Ngày
Tăng Bố tát là ngày mà tất cả các vị tỷ kheo cùng sống
trong một cương giới, phải tập trung tại giới trường để
tác pháp Yết ma thuyết giới và đọc lại giới bổn Ba La
Đề Mộc Xoa (Pali, Pātimokkha). Nên nội dung của Bố tát chính
là sự thuyết giới, nghĩa là đúng nửa tháng chúng tỷ kheo
cùng tập họp nhau lại trong cùng một cương giới hoà hợp
và thanh tịnh để tụng đọc Ba La Đề Mộc Xoa, trong đó
gồm cả năm thiên và bảy tụ của giới.
Khi
Đức Phật còn tại thế chúng Tăng thời đó thường tụng
giới bổn đuợc thâu tóm qua bảy bài kệ của bảy Đức
Phật, đầu tiên là Đức Phật Tỳ Bà Thi:
“Nhẫn
khổ hạnh bậc nhất
Niết
bàn đạo tối thượng
Xuất
gia não hại người
Bất
danh vi Sa môn”
Tạm
dịch:
Nhẫn,
khổ hạnh bậc nhất
Vắng
lặng đạo thù thắng
Xuất
gia làm hại người
Không
xứng gọi Sa môn.
Mỗi
nửa tháng định kỳ ngày Bố tát của Tăng, đó là biểu
hiện nguyên tắc hoà hợp của Tăng, đồng thời là điều
kiện tốt nhất để các tỷ kheo sách tấn nhau tu học.
Bất
cứ trú xứ nào mà Tăng nửa tháng nhóm họp để tụng đọc
giới bổn thì trú xứ ấy được xem như là Phật giáo hưng
vượng. Đức Phật có mặt ngay trong hiện tại. Và nếu trú
xứ nào mà Tăng nửa tháng không nhóm họp để Bố tát thì
trú xứ ấy Tăng đoàn xem như chưa có sự hoà hợp.
Bởi
vậy, Bố tát là mạng mạch của Tăng, nên không có chúng
tỷ kheo nào được gọi là Tăng mà không thực hành Bố tát,
ngoại trừ những kẻ lạm dụng Tăng để phá hoại Chánh
Pháp. Chỉ có ngoại đạo, kẻ tà kiến mới làm như vậy.
Vì tính chất nghiêm trọng của Bố tát là như vậy nên nó
không thể không có trong sự sinh hoạt của Tăng.
2.
An cư.
Đức
Phật quy định cho Tăng đoàn an cư vì những lý do sau:
-
Để không dẫm đạp lên côn trùng trong mùa mưa (Ấn độ).
-
Nhằm trau dồi và nuôi lớn pháp Tam Vô Lậu Học, để có
thể xứng đáng là ‘Chúng trung tôn’, bậc trí đức hoàn
toàn.
-
Nhằm biểu lộ tinh thần hoà hợp, thanh tịnh, và đồng bộ
của Tăng. Chỉ khi nào Tăng biểu lộ tính chất ấy, thì Chánh
Pháp do Tăng tuyên dương đạt nhiều kết quả cao thượng.
-
Nhằm củng cố niềm tin cho hàng Phật tử tại gia đối với
ngôi vị ‘thế gian tam bảo’.
Bất
cứ trú xứ nào các tỷ kheo cùng nhau tu tập, cùng nhau hoà
hợp an cư, sống bằng đời sống hoà hợp và thanh tịnh thì
xứ sở ấy xem như Phật – Pháp – Tăng có mặt đúng ý
nghĩa, làm chứng cứ cho chư thiên và loài người gieo trồng
phước đức đối với Chánh Pháp.
Kỳ
hạn an cư của Tăng ngày nay không nhất định, vì tuỳ theo
từng khí hậu thời tiết, và lịch biểu của từng vùng.
Tăng
đoàn của các nước Phật giáo Nam phương như: Tích lan, Miến
điện, Thái lan, Lào vv… họ an cư bắt đầu từ 16 tháng
6 theo lịch Trung quốc, và giải hạ vào ngày 15 tháng 9 theo
lịch Trung quốc.
Tăng
đoàn của các nước Phật giáo Bắc phương như: Trung quốc,
Nhật bản, Triều tiên, Đài loan, Việt Nam vv… họ an cư bắt
đầu từ 16 tháng 4 theo lịch Trung quốc. Chúng tăng phương
Bắc, an cư vào thời gian trên là do dựa vào kinh Vu lan. Theo
kinh này thì ngày rằm tháng 7 là ngày Tự tứ của mười phuơng
Tăng, ngày Phật hoan hỷ. Do đó giải hạ Tăng đoàn ở phương
Bắc giải hạ vào ngày 15 tháng 7 theo lịch Trung quốc.
2.
Tự tứ.
Sau
ba tháng chúng Tăng kiết hạ an cư để trau dồI trí đức
và trí tuệ, đến ngày trăng tròn tháng 7 (lịch Trung quốc)
là ngày hành pháp Tự tứ của Tăng.
Tự
tứ tiếng Phạn là Pravārana, dịch là Thỉnh thỉnh, hoặc
Tuỳ ý: nghĩa là thỉnh cầu người khác chỉ điểm những
lỗi lầm của bản thân.
Khi
Đức Thế Tôn còn tại thế, bấy giờ sau mùa an cư, Ngài
cùng với 500 tỷ kheo, nhân ngày trăng tròn Tự tứ, Đức Thế
Tôn liền bảo rằng:
“Này
các tỷ kheo, quý vị có điều gì chỉ trích Như Lai về thân
hay về ngữ không?Nay đúng lúc mời quý vị hãy nói.”
Được
nghe như vậy tôn giả Xá Lợi Phất đứng dậy vái chào và
bạch:
“Bạch
Đức Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Đức Thế
Tôn về thân và về ngữ.”
Sau
đó Xá Lợi Phất cũng thỉnh cầu Đức Thế Tôn chỉ lỗi
về thân và ngữ. Nhân đây mà có ngày Tự tứ các Luật tạng
đều ghi nhận.
Sự
chỉ lỗi lầm phải được căn cứ trên ba trường hợp: do
được thấy, được nghe và được nghi. Mà phải là vị trưởng
lão tỷ kheo mới được làm việc này.
Mục
đích của việc Tự tứ cũng gần giống như việc thuyết
giới, đó là sự biểu hiện thanh tịnh hoà hợp của Tăng.
Nhưng Tự tứ quan trọng hơn việc thuyết giới ở chỗ là
mở ra một giai đoạn mới trong đời sống đạo hạnh của
thầy tỷ kheo. Đó là ngày Phật hoan hỷ, ngày chúng tỷ kheo
thanh tịnh thọ nhận thêm một tuổi đạo (Thọ tuế). Cũng
có khi gọi là giải đảo huyền tức là mở sợi dây treo
ngược và sợi dây treo xuôi, cũng có khi gọi là ngày xá tội
vong nhân vì nhân ngày này mà hết thảy tội nhân đang mắc
vòng khổ luỵ trong địa ngục liền được giải thoát.
Vậy
ngày Tự tứ của Tăng là ngày các tỷ kheo tự kiểm điểm
lại sự tu tập của mình trong ba tháng qua bằng cách tự nói
lên lỗi lầm của mình trước một vị Trưởng lão tỷ kheo
hoặc mong những vị tỷ kheo khác chỉ điểm những lỗi lầm
của chính mình mà chính bản thân quên lảng không nhận ra.
Tuy nhiên không phải tỷ kheo nào cũng được chỉ điểm sai
lầm của các tỷ kheo khác, mà phải do Tăng đề cử và biểu
quyết chọn vị Trưởng lão tỷ kheo hoặc một vị, hoặc
hai và ba vị. Vị Trưởng lão tỷ kheo do Tăng đề cử gọi
là Tự tứ nhơn phải hội đủ năm yếu tố (Ngũ đức sư):
- Bất
ái: không thiên ái, không vì tình cảm riêng tư.
-
Bất nhuế: không sân hận, không trả thù, phải với tâm bình
thản.
-
Bất bố: không khiếp đảm sợ hãi.
-
Bất si: không si mê, khi chỉ trích ai đó, phải biết rõ tội
danh, tội chủng trong ‘Ngũ thiên thất tụ’.
-
Tri vị Tự tứ dĩ Tự tứ: biết rõ đúng lúc hay không đúng
lúc để tiến hành tác pháp Tự tứ và biết rõ tỷ kheo nào
đã Tự tứ, tỷ kheo nào chưa Tự tứ.
Khi
vị tỷ kheo được Tăng sai Tự tứ đến (Tự tứ nhơn sai)
các vị tỷ kheo (ba vị) tuần tự cầu thỉnh như sau:
“Bạch
Đại đức dũ lòng lắng nghe. Hôm nay, là ngày chúng Tăng Tự
tứ, con là tỷ kheo, tên (…) cũng xin Tự tứ. Nếu Đại đức
thấy, nghe và nghi con có tội, xin nguyện Đại đức thương
tưởng nói cho con. Con thấy có tội, sẽ như pháp thành tâm
sám hối.”
Tỷ
kheo cầu thỉnh nói như vậy ba lần. Vị tỷ kheo Tăng sai Tự
tứ sẽ theo đó mà chỉ lỗi hoặc không có lỗi thì nói là
tốt.
Hành
pháp Tự tứ xong, các tỷ kheo được xác định thêm một
tuổi hạ, đó là tuổi của Giới đức, của Tuệ học. Hàng
xuất gia luôn lấy Giới đức và Tuệ học làm tuổi, chứ
không tính tuổi theo năm tháng của thế tục. Hễ tỷ kheo
nào không An cư, không Tự tứ, hoặc có An cư mà không Tự
tứ hoặc có Tự tứ mà không An cư thì cũng xem như là không
có tuổi đạo.
Do
đó vấn đề An cư, Tự tứ là một trong những sinh hoạt
then chốt của Tăng đoàn, nhằm biểu hiện tinh thần hoà hợp
của Tăng.
Ngày
nay tinh thần An cư, Bố tát, và Tự tứ vẫn còn đó nhưng
vấn đề áp dụng đã có phần xao lảng và không còn được
chặc chẽ như ngày trước nữa, rảI rác một vài tu viện
có duy trì một cách tương đối nghiêm túc nhưng cũng chỉ
như con én giữa mùa xuân, như một ngọn đèn trước gió le
lói không đủ thắp sáng giữa đêm tối mịt mùng. Phần lớn
các chùa còn lại hầu như rất xem thường hoặc chỉ qua loa
lấy lệ kẻo “ôn mệ bắt”, hoặc sợ tín đồ chê trách,
hoặc để mà mắt công chúng mà thôi. Có không ít tỷ kheo
một năm đến giới trường không quá hai lần, có vị ba tháng
hạ an cư nhưng ở trong chùa không quá một phần ba. Suốt
ngày đi rong ngoài đường không vì phóng tâm thì cũng vì tín
nguỡng. Còn có vị phát biểu thế này: “miễn sao trưa về
kịp Quá đường là được.” Chúng ta ai là người có lương
tâm nghe như vậy có được không? An cư đâu phải chỉ để
Quá đường, đưa bát lên hạ bát xuống là đủ. An cư tức
là chúng Tăng sống yên ổn một chỗ hoà hợp và thanh tịnh
để cùng nhau tu học trau dồi Giới đức, Định học và Tuệ
học sau chín tháng đi hoằng pháp độ sinh. Ý nghĩa An cư là
như thế chứ sao gọi là: miễn sao về kịp Quá đường là
được. Vậy kính mong các vị lãnh đạo, các nhà giáo dục
Tăng, các ngài Trú trì cần xem xét lại việc An cư, Bố tát
và Tự tứ như vậy đã đúng chưa.
Ngoài
những hình thức sinh hoạt của Tăng có tính thường niên
nêu trên, đời sống của Tăng còn có một yếu tố quan trọng
khác mà chúng ta không thể không biết tới. Đó là các tác
pháp Yết ma trong công tác hằng ngày của chúng Tăng. Hơn thế
nữa là việc tuyển trạch Tăng, tức là vấn đề chọn lựa
thành viên Tăng, đưa từ địa vị Sa di lên địa vị Tỷ
kheo để được dựa vào hàng ngũ Tam bảo – Chúng trung tôn.
Khi
Đức Thế Tôn còn tại thế ngài chỉ gọi “Thiện lai tỷ
kheo” (Hãy đến nơi hạnh phúc hỡi tỷ kheo) liền khi ấy
giới thể vô biểu thành tựu, đầy đủ oai nghi thân tướng
tỷ kheo. Chỉ có Thế Tôn mới được gọi như thế, các vị
khác không thể có trường hợp này. Sau khi Thế Tôn diệt
độ Tăng đoàn y theo Pháp, Luật để hành trì thì việc xét
tuyển Tăng, truyền Cụ túc giới phải được tiến hành bởi
Tam sư Thất chứng (Hội đồng Thập sư) và phải qua bạch
tứ Yết ma thì giới tử mới đắc giới thể vô biểu, hoặc
Hội đồng Ngũ sư ở biên cương mà trong đó phải có một
vị trì Luật giỏi.
Trải
qua các thời đại từ Tây Trúc qua Đông Độ và cho đến
Việt Nam, lịch đại Tổ sư đều nhất luật như thế. Đây
là việc làm truyền thống có tính kế thừa của Luật tạng.
Do vậy, việc xét tuyển Tăng là việc làm của Luật tạng,
của thầy trò và của Tăng đoàn mà hoàn toàn không liên can
gì đến chính quyền sở tại hay chính quyền trung ương. Khi
một vị tập sự xuất gia, sau khi được thầy Bổn sư thế
độ cho phép thọ Sa di giới để thực tập Giới, thực tập
Thiền định, thực tập Trí tuệ. Khi thấy được sự thuần
thục của đệ tử, Bổn sư thế độ muốn đưa đệ tử
lên địa vị cao dự vào hàng Tăng Bảo để tiếp nối sự
nghiệp hoằng truyền của Thầy Tổ. Do đó Bổn sư dắt đệ
tử đi cầu thỉnh Tam sư - Thất chứng đăng đàn truyền trao
Cụ túc giới (truyền giới phương trượng) hoặc chỉ thầy
truyền trò Y Bát trong đêm khuya mà không cần bày hình thức:
“Thiếu
Thất đình tiền thiên trượng bạch vân hàn lập tuyết
Hoàng
Mai lâm lý nhất luân minh nguyệt dạ truyền y.”
Tạm
dịch:
Trước
động Thiếu Thất trải bao ngày tháng đứng trong tuyết lạnh
Đến
làng Hoàng Maimột đêm trăng tròn sáng tỏ thầy truyền y.
Tổ
đã làm như vậy, ngày nay Tăng già học luật cũng làm như
vậy, đang làm và sẽ làm như vậy. Đó là người học Luật,
học lời Tổ một cách thông minh có ý thức. Nhờ tâm thương
tưởng của thầy, của Thập sư và tương ưng với tâm tha
thiết khất cầu của giới tử mà cảm động đến chư Phật,
các vị Bồ tát, liệt vị Thánh Tăng. Mười phương Tam thế
chư Phật hoan hỷ mỉm cười và ngay lần tác pháp Yết ma
lần thứ ba kết thúc thì giới thể vô biểu thành tựu trên
toàn thân giới tử. Từ đây, vị đó được gọi là tỷ
kheo như pháp thành tựu, được dự vào hàng ngũ Tăng Bảo
cùng Tăng An cư, Bố tát và Tự tứ, và cùng chung lo tất cả
mọi Phật sự của Tăng đoàn.
Thích
Minh Chuyển
