MỤC
LỤC
KHÁI
QUÁT VỀ LUẬT HỌC
I-
Tự luận
II-
Giới luật
III-
Phân loại Phật điển
IV-
Tiểu thừa Luật bộ
V-
Đại thừa Luật bộ
VI-
Luật tạng kinh điển Pàli
GIÁO
NGHĨA CỦA TIỂU THỪA LUẬT BỘ VÀ ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
I-
Giáo nghĩa của Tiểu thừa Luật bộ
II-
Giáo nghĩa của Đại thừa Luật bộ
GIÁO
ĐOÀN PHẬT GIÁO
I-
Ý nghĩa Giáo đoàn
II-
Thành phần của Giáo đoàn
III-
Sinh hoạt của Giáo đoàn
IV-
Quy định của Giáo đoàn
V-
Sự biến thiên của Giáo đoàn
VI-
Sứ mệnh của Giáo đoàn
LUẬT
TÔN
I-
Tên tôn
II-
Giáo nghĩa
III-
Truyền thừa
IV-
Nội dung Tứ phần luật
V-
Nội dung giới bản
VI-
Nội dung yết ma
VII-
Các pháp yết ma
VIII-
Phân loại về giới pháp
IX-
Bốn khoa của giới
KHÁI
QUÁT VỀ LUẬT HỌC
I.
TỰ LUẬN
Ba
môn học, Giới học, Định học và Tuệ học, được gọi
là “Tam vô lậu học”. Lậu nghĩa là phiền não, nương vào
Tam học mà đoạn trừ được phiền não, siêu phàm nhập thánh,
nên gọi là “Tam vô lậu học”.
Diệu
quả Đại giác của Phật y vào Tuệ mà thành, nên có thể
nói, trí tuệ phát sinh từ ở thiền định, thiền định phát
sinh từ ở giới luật. Muốn cầu được trí tuệ, tất phải
tu thiền định, muốn được thiền định, trước hết phải
giữ giới luật. Nếu giới luật mà khuyết, thiền định
sẽ khó thành, thiền định không thành tựu, trí tuệ cũng
không thể do đâu mà phát sinh. Bởi thế, người học Phật
chân chính cần phải tu tập “Tam vô lậu học”.
Ba
học Giới, Định, Tuệ là những nhân tố then chốt nhất
của người học Phật, như chiếc đỉnh ba chân, thiếu một
tất không thể đứng vững. Nhưng giới học, hay là giới
luật học, lại là căn bản nhất.
II.
GIỚI LUẬT
Giới
luật, tiếng Phạn là Vinaya (Tỳ-ni), dịch là Luật, có nghĩa
là pháp luật, pháp cấm chế. Luật có 3 tên:
1.-
Tỳ-ni tức Tỳ -nại-da (Vinaya), dịch là Luật, hay Điều phục.
2.-
Mộc-xoa tức Ba-la-đề-mộc-xoa (Pràtimoksa), dịch là Biệt
giải thoát.
3.-
Thi-la (Sila) dịch là Giới luật, Điều phục, hay Giới, tên
có khác nhau, nhưng cùng chung một thể, vì thế nên có tên
ghép là “Giới luật”. Luật cũng giống như pháp luật hiện
nay là những quy giới cưỡng chế, nương vào chỗ phạm giới
nặng hay nhẹ mà trị phạt. Vậy chỗ kết hợp giữa giới
và luật là để thuyết minh về lập trường giáo lý về
Luật tôn.
III.
PHÂN LOẠI LUẬT ĐIỂN
Luật
điển trong Tam tạng gồm có các bộ về Tiểu thừa luật
và Đại thừa luật. Các bộ luật như Thập tụng, Tăng kỳ,
Tứ phần, Ngũ phần thuộc Tiểu thừa luật; như Du Già, Phạm
Võng thuộc Đại thừa luật.
Lại
luật điển cũng có chia ra hai thứ, giới luật xuất gia và
giới luật tại gia. Như các bộ luật thuộc luật điển Tiểu
thừa, phần nhiều thuộc về giới luật xuất gia. Như Ưu-bà-tắc
giới kinh, là giới luật tại gia. Giới luật xuất gia là
những giới luật của Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni phải
tuân trì, tức là giới Cụ túc, rồi đến Thập giới.
Giới
luật tại gia là những giới luật, nam nữ tại gia thọ trì,
như Ngũ giới, Bát giới, Thập thiện giới. Thông thường,
người tại gia không được xem luật điển của người xuất
gia, vì chưa thọ giới xuất gia, không được nghe pháp cấm
chế của Tăng Ni.
IV.
TIỂU THỪA LUẬT BỘ
Tiểu
thừa luật là các bộ luật hàng Tiểu thừa thọ trì. Những
luật điển này đều thuộc trong Thanh Văn tạng, gọi là Tiểu
thừa luật. Tiểu thừa luật được truyền trì gồm có 5
bộ:
1.-
Đàm Vô Đức bộ truyền luật Tứ phần.
2.-
Tát Bà Đa bộ truyền luật Thập tụng.
3.-
Di Sa Tắc bộ truyền luật Ngũ phần.
4.-
Ca Diếp Di bộ truyền Giải thoát giới.
5.-
Ma Ha Tăng Kỳ bộ truyền luật Tăng kỳ.
Đó
là 5 bộ luật của Tiểu thừa.
Khi
Phật còn tại thế, Ngài đi hoằng hóa khắp nơi chế ra thứ
quy giới để ước thúc các hàng đệ tử, tùy chỗ phạm
lỗi mà chế định, đó là khởi nguyên của luật. Sau khi
Phật diệt độ, khi các đệ tử Phật kết tập lần thứ
nhất, ngài Ưu Ba Ly Tôn giả, 80 lượt đọc ra tạng Luật,
do đó nên có tên gọi là Luật Bát Thập Tụng. Từ đó về
sau khoảng 100 năm, qua sự truyền trì của 5 vị: Ca Diếp (Mahàkàsyapa),
Át Nan (Ananda), Mạt Điền Địa (Madhyàntika), Thương Na Hòa
Tu (Sàna vàsa), Ưu Bà Cúc Đa (Upagupta) đều thuần nhất một
vị, chưa phân dị kiến về giới luật. Tới ngài Ưu Bà Cúc
Đa có 5 người đệ tử: 1. Đàm Vô Đức, 2. Tát Bà Đa, 3.
Di Sa Tắc, 4. Ca Diếp Di, 5. Bà Ta Phú La, đều truyền trì luật
tạng riêng mà phát sinh thành 5 bộ như trên.
Luật
điển về Tiểu thừa hiện còn được chép trong “Tần Già
tạng” gồm có 71 bộ, 496 quyển, luật điển chủ yếu là
các bộ “Tứ phần luật”, “Thập tụng luật”, “Ngũ
phần luật”, “Tăng kỳ luật” và “Giải thoát giới”
tức Giải thoát giới kinh; Quảng luật chưa truyền tới. Ngoài
ra còn có “Tát Bà Đa bộ”, sau dịch là “Căn bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ nại da”, nay cũng nằm trong tạng
Tiểu thừa. (1) - Đàm Vô Đức bộ Quảng luật (Dharmaguptalka)
- Tứ phần luật 60 quyển. Diêu Tần Phật Đà Da Xá và Trúc
Phật Niệm cùng dịch. (2) - Tát Bà Đa bộ Quảng luật (Sarvasti-vada)
- Thập tụng luật 61 quyển. Hậu Tần Phật Nhã Đa La và La
Thập cùng dịch. (3) - Di Sa Tắc bộ Quảng luật (Mahisà-saka)
- Ngũ phần luật 30 quyển. Lưu Tống Phật Đà Thập và Đạo
Sinh cùng dịch. (4) - Ma Ha Tăng Kỳ bộ Quảng luật (Mahà-sanghika)
40 quyển. Đông Tấn Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng
dịch. (5) - Ca Diếp Di bộ giới bản (Kàsyapiya) - Biệt giải
thoát kinh 1 quyển. Nguyên Ngụy Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi dịch.
(6) - Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ nại da (Mulasarvàtivàda-vinaya)
50 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
Ngoài
Tứ phần luật, Quảng luật ra, còn lưu truyền giới bản
của Tăng Ni và Yết-ma gồm 6 bộ như sau:
- Tứ
phần luật Tỷ-kheo giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật Đà
Da Xá dịch.
- (Biệt
hành bản) Tứ phần Tăng giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật
Đà Da Xá dịch.
- Tứ
phần luật Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Hậu Tần Phật
Đà Da Xá dịch.
- Đàm
Vô Đức luật bộ Tạp Yết-ma. 1 quyển. Tào Ngụy Khang Tăng
Khải dịch.
- (Dị
dịch bản) Yết-ma. 1 quyển. Tào Ngụy Đàm Đế dịch.
- Tứ
phần Tỷ-kheo-ni Yết-ma pháp. 1 quyển. Tống Cầu Na Bạt Ma
dịch.
Ngoài
Thập tụng luật, Quảng luật ra cũng có quyển giới bản
của Tăng Ni và Yết-ma gồm 3 bộ:
- Thập
tụng Tỷ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa giới bản. 1 quyển. Diêu Tần
Cưu Ma La Thập dịch.
- Thập
tụng Tỷ-kheo-ni Ba-la-đề-mộc-xoa giới bản. 1 quyển. Tống
Pháp Hiển tập.
- Đại
Sa-môn Bách Nhất Yết-ma pháp. 1 quyển. Mất tên người dịch.
Ngoài
Ngũ phần luật, Quảng luật ra cũng có truyền về giới của
Tăng Ni và Yết-ma gồm 3 bộ:
- Di
Sa Tắc Ngũ phần giới bản. 1 quyển. Tống Phật Đà Thập
và Đạo Sinh dịch.
- Ngũ
phần Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Lương Minh Huy tập.
- Di
Sa Tắc Yết-ma bản. 1 quyển. Đường Ái Đồng lục.
Ngoài
Tăng kỳ luật, Quảng luật ra cũng có truyền về giới bản
của Tăng Ni gồm 2 bộ:
- Ma
Ha Tăng Kỳ Đại Tỷ-kheo giới bản. 1 quyển. Đông Tấn Phật
Đà Bạt Đà La dịch.
- Ma
Ha Tăng Kỳ Tỷ-kheo-ni giới bản. 1 quyển. Đông Tấn Pháp
Hiển và Giác Hiền cùng dịch.
Duy
có Giải thoát luật chỉ truyền có “Giải thoát giới kinh”
1 quyển, còn Quảng luật và Yết-ma đều chưa truyền tới.
Ngoài Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da Quảng luật
ra cũng còn truyền các bộ về giới bản của Tăng Ni và Yết-ma
như sau:
- Căn
bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Bí-sô-ni Tỳ-nại-da (Ni quảng
luật). 20 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn
bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ giới kinh (Tăng giới bản).
1 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn
bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Bí-sô-ni giới kinh (Ni giới
bản). 1 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn
bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Bách nhất Yết-ma (Yết-ma).
10 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
- Căn
bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự (Yết-ma).
40 quyển. Đường Nghĩa Tịnh dịch.
Ngoài
các bộ Quảng luật kể trên, các Tổ y vào luật để tạo
luận, còn có 5 bộ luận như sau:
1-
Tỳ-ni mẫu luận kinh, 8 quyển. (Thất dịch).
2-
Ma Đắc Lặc Già luận, gọi đầy đủ là Tát Bà Đa bộ Tỳ-ni
Ma Đắc Lặc Già, 10 quyển. Lưu Tống Tăng Già Bạt Ma dịch,
2 bộ luận nay y ở luật bộ Tất Bà Đa.
3-
Thiện kiến luận, vốn gọi là Thiện kiến luật Tỳ Bà Sa
18 quyển. Tiêu Tề Tăng Già Bạt Ma dịch.
4-
Tát Bà Đa luận, vốn gọi là “Tát Bà Đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa,
9 quyển, mất tên người dịch. Luận này giải thích luật
Thập tụng.
5-
Minh Liễu luận, vốn gọi là “Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu
luận”, 1 quyển, Tần Chân Đế dịch. Luận này giải thích
giới - luật thuộc Chính lượng bộ.
Trong
các bộ luật, luật điển được lưu hành rộng rãi nhất
là Tứ phần luật do Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm phiên
dịch, từ đời Đông Tấn. Hoằng truyền và giảng tập luật
này đầu tiên là Pháp Thông luật sư (Bắc Ngụy Hiếu Văn
Đế, 471-499). Pháp Thông truyền cho đệ tử là Đạo Phú luật
sư. Đạo Phú truyền cho Tuệ Quang luật sư, rồi đến Trí
Thủ luật sư, đều soạn chú sớ để hoằng truyền Tứ phần
luật. Tiếp đến Nam Sơn Đạo Tuyên luật sư (596-666), Ngài
căn cứ vào nghĩa Đại thừa để giải thích luật Tứ phần
trước tác các phần sớ, thích để thành lập Tứ phần luật
tôn gọi là “Nam Sơn Tôn”. Lại cũng ở thời ấy còn có
Pháp Lệ luật sư, sáng lập “Tướng Bộ Tôn” và Hoài Tố
luật sư (625-698) sáng lập “Đông Tháp Tôn”. Các luật sư
này đều y cứ vào Tứ phần luật làm các sớ thích, cùng
với Nam Sơn Đạo Tuyên luật sư, đều hoằng truyền 3 tông
luật. Ba tông này, chỉ có Nam Sơn Tôn là đời đời hoằng
truyền không dứt, vẫn thịnh hành mãi tới hiện nay. Vì sự
hoằng truyền Tứ phần luật rất rộng, nên các chú sớ về
luật Tứ phần từ xưa tới nay, cũng rất nhiều. Nay tóm lược
những chú sớ chủ yếu như sau:
- Tứ
phần luật sớ, 6 quyển. Đạo Phú soạn.
- Tứ
phần luật sớ, 4 quyển. Tuệ Quang soạn.
- Tứ
phần luật sớ, 20 quyển (hiện còn quyển 9). Đường Trí
Thủ soạn.
- Tứ
phần luật Ngũ Đại Bộ sớ sao (Hành sự sao, Giới sớ, Nghiệp
sớ, Thập Tỳ-ni nghĩa sao, Tỷ-kheo-ni sao), 38 quyển. Đường
Đạo Tuyên soạn.
- Tứ
phần luật sớ, 20 quyển. Đường Pháp Lệ soạn.
V.
ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
Đại
thừa luật, vì là luật của hàng Đại thừa thọ trì thuộc
Bồ-tát tạng, nên gọi là Đại thừa luật bộ. Giới luật
chủ yếu trong Đại thừa luật là “Phạm Võng giới” và
“Du Già giới”. Thông thường ngày nay gọi là Bồ-tát Tăng
giới. Giới Phạm Võng, y vào kinh Phạm Võng mà lập thành
10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Du Già, y vào Bồ-tát
giới bản, thành lập 4 giới trọng và 41 giới khinh. Lại
kinh Phạm Võng thuộc Tính Tôn, nên lại gọi là “Đại thừa
Tính Tôn giới”. Bồ-tát giới bản thuộc Tướng Tôn, nên
lại gọi là “Đại thừa Tướng Tôn giới”. Hai thứ giới
luật Đại thừa này hoằng truyền rất thịnh hành ở Trung
Quốc.
Kinh
Phạm Võng gọi đầy đủ có tên là “Phạm Võng Kinh Lô Xá
Na Phật Thuyết Bồ Tát Tâm Địa Giới Phẩm”. Các chú sớ
có 4 bộ trọng yếu như sau:
- Phạm
Võng kinh bản sớ, 6 quyển. Đường Pháp Tạng soạn.
- Phạm
Võng kinh cổ tích ký, 6 quyển. Đường Thái Hiền tập.
- Phạm
Võng kinh nghĩa sớ phát ẩn, 5 quyển. Tùy Trí Giả sớ. Minh
Châu Hoằng phát ẩn.
- Phạm
Võng kinh hợp chú, 7 quyển. Minh Trí Húc chú.
“Bồ-tát
giới bản” là phần lưu hành riêng biệt của Bồ-tát địa
giới phẩm trong Du-già-sư-địa luận. “Bồ-tát địa trì
kinh” và “Bồ-tát thiện giới kinh” lại đều là những
bản dịch riêng của “Bồ-tát địa”. Nên trong 2 kinh này
đều có một phẩm của “giới phẩm” này. Nay chỉ có lưu
hành riêng rẽ “giới phẩm” trong “Địa trì kinh” và
“Du-già luận” tức là “Bồ-tát giới bản kinh” và “Bồ-tát
giới bản”. Nay tóm lược những chú sớ lưu hành chủ yếu
như sau:
- Bồ-tát
giới bản kinh (một phần trong Địa trì kinh), 1 quyển. Bắc
Lương Đàm Vô Sấm dịch.
- Bồ-tát
giới bản kinh tiên yếu, 1 quyển. Minh Trí Húc tiên yếu.
- Bồ-tát
giới bản (một phần trong Du-già luận), 1 quyển. Đường
Huyền Trang dịch.
- Bồ-tát
giới bản ký, 1 quyển. Đường Đạo Luân ký.
- Bồ-tát
giới Yết-ma văn, 1 quyển. Đường Huyền Trang dịch.
- Bồ-tát
giới Yết-ma văn thích, 1 quyển. Minh Trí Húc thuật.
Ngoài
ra còn có “Ưu-bà-tắc giới” và “Thập thiện giới”,
là giới Đại thừa của chúng tại gia thọ trì, có các luật
điển như sau:
- Ưu-bà-tắc
giới kinh, 7 quyển. Bắc Lương Đàm Vô Sấm dịch.
- Thập
thiện nghiệp đạo kinh, 1 kinh. Đường Thực Xoa Nan Đà dịch.
- Thọ
Thập thiện giới kinh, 1 quyển. Mất tên người dịch.
VI.
LUẬT TẠNG (VINAYA-PITAKA)
(Trong
kinh điển tiếng Pàli).
Luật
tạng Pàli chia thành 3 bộ phận:
1.
Kinh Phân biệt (Suttavibhanga) giải thích về các giới điều
của Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, chia thành 2 bộ phận là Đại
phân biệt và Tỷ-kheo-ni phân biệt.
1-
Đại phân biệt (Bhikkhu-vibhanga). - Chú thích Tỷ-kheo giới
kinh, tức giải thích về 227 giới điều của Tỷ-kheo.
2-
Tỷ-kheo-ni phân biệt (Bhikkhuni-vibhanga). - Chú thích Tỷ-kheo-ni
giới kinh, tức giải thích về 311 giới điều của Tỷ-kheo-ni.
2.
Kiền-độ (Khandhaka). - Phần bổ khuyết của kinh Phân biệt,
bao quát các điều hạn quyết định về sinh hoạt của Tăng
già, lại chia thành 2 bộ phận:
A.
ĐẠI PHẨM (Mahavagga), gồm 10 thiên, tức 10 Kiền-độ:
1-
Đại Kiền-độ (Mahakhandhaka) (thọ giới)
2-
Bồ-tát Kiền-độ (Uposatha - K.)
3-
Nhập vũ an cư Kiền-độ (Vassupanayika - K.)
4-
Tự tứ Kiền-độ (Pavarana - K.)
5-
Bì cách Kiền-độ (Camma - K.)
6-
Dược Kiền-độ (Bhasajja - K.)
7-
Ca-hi-na-y Kiền-độ (Kathina - K.)
8-
Y Kiền-độ (Cirara - K.)
9-
Chiêm-ba Kiền-độ (Campeyya - K.)
10-
Câu-thiểm-di Kiền-độ (Kosamba - K.)
B.
TIỂU PHẨM (Cullavagga), gồm 12 thiên, tức 12 Kiền-độ:
1-
Yết-ma Kiền-độ (Kamma-khandhaka)
2-
Biệt trụ Kiền-độ (Pàsivâsika - K.)
3-
Phú tàng Kiền-độ (Samuccaya - K.)
4-
Diệt tránh Kiền-độ (Samatha - K.)
5-
Tạp sự Kiền-độ (Khuddavatthu - K.)
6-
Phòng xá Kiền-độ (Senàsana - K.)
7-
Phá Tăng Kiền-độ (Samghabhedaka - K.)
8-
Oai nghi Kiền-độ (Vatta - K.)
9-
Giá Bồ-tát Kiền-độ (Patimakhathapana - K.)
10-
Tỷ-kheo-ni Kiền-độ (Bhikkani - K.)
11-
Ngũ bách nhân Kiền-độ (Pancasatika - K.)
12-
Thất bách nhân Kiền-độ (Sattasatika - K.)
C.
PHỤ TÙY (Parivara), gồm có 19 chương, là những điều văn
huấn giới có quan hệ về giới luật ở 2 bộ phận trên.
VII.
BẢNG SO SÁNH
Các
giới điều (Ba-la-đề-mộc-xoa) Tỷ-kheo giới và Tỷ -kheo-ni
giới kinh trong các bộ luật Pàli, Tứ phần, Thập tụng, Ngũ
phần, Tăng kỳ và Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ như
sau:
(Coi
tiếp biểu đồ trang sau)
GIÁO
NGHĨA CỦA TIỂU THỪA
LUẬT
BỘ VÀ ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
I.
GIÁO NGHĨA TIỂU THỪA LUẬT BỘ
Luật
bộ lấy Luật tạng làm sở y, nên gọi là Luật. Khi Đức
Phật còn tại thế, nhân những sự việc đã xảy ra mà chế
giới, tùy cơ duyên mà giảng dạy. Sau khi Phật diệt độ,
ngài Ưu Ba Ly kết tập Luật tạng. Sau đó 100 năm, luật lại
lần lượt chia ra nhiều bộ. Các bộ luật truyền tới Trung
Quốc gồm có 4 bộ:
1.-
Tát Bà Đa bộ tức luật Thập tụng
2.-
Đàm Vô Đức bộ tức luật Tứ phần
3.-
Ma Ha Tăng Kỳ bộ tức luật Tăng kỳ
4.-
Di Sa Tắc bộ tức luật Ngũ phần.
Giáo
nghĩa của giới luật không ngoài điều “Chỉ ác” và “Tu
thiện”, hoặc gọi là “Chỉ trì” và “Tác trì”.
Chỉ
trì là môn chỉ ác, tác trì là môn tu thiện. Trong môn chỉ
trì lại chia ra Tăng Ni 2 giới. Hai thứ Chỉ trì và Tác trì
này bao trùm hết thảy giới luật của 4 bộ kể trên. Nay
đem phân loại theo nội dung đó như sau:
Ngoài
ra còn các bộ đại trước tác của Đạo Tuyên luật sư để
khai triển về luật học cũng nằm trong 2 môn Chỉ trì và
Tác trì này. Vì Ngài nương theo giáo nghĩa của Tứ phần luật
làm căn bản. Trong luật Tứ phần có chia ra 4 bộ phận:
Phần
đầu nói về giới pháp của Tỷ-kheo, phần 2 nói về giới
pháp của Tỷ-kheo-ni, 2 phần này thuộc về “Chỉ trì môn”.
Phần
3 và phần 4 nói về các pháp an cư, tự tứ, gồm 20 Kiền-độ
(thiên), 2 phần này thuộc về “Tác trì môn”. Nên:
1.-
Tứ Phần luật hành sự sao, 3 quyển, thuyết minh về pháp
hành trì giới luật hằng ngày của Tăng già, thì quyển thượng,
quyển hạ thuộc “Tác trì môn”, quyển trung thuộc “Chỉ
trì môn”.
2.-
Tứ Phần luật Yết-ma sớ, 4 quyển, giải thích về nghi thức
tác pháp thọ giới, kết giới v.v... thuộc “Tác trì môn”.
3.-
Tứ Phần luật giới bản sớ, 4 quyển, giải rõ về bản
thể của giới, thuộc “Chỉ trì môn”.
4.-
Thập Tỳ-ni nghĩa sao, 3 quyển, đều nương vào “Chỉ trì
môn” mà soạn ra.
5.-
Tỷ-kheo-ni sao, 3 quyển, giải thuyết về cả hai môn “Chỉ
trì” và “Tác trì”.
II.
GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI THỪA LUẬT BỘ
1.-
Khái thuyết về giáo nghĩa của “Phạm Võng Bồ-tát giới
kinh". Kinh Phạm Võng nói đủ là “Phạm Võng kinh Lô-xá-na
Phật thuyết Bồ-tát tâm địa giới phẩm đệ thập”. Kinh
này chia thành 2 quyển, thượng và hạ. Ngài Tăng Triệu pháp
sư, trong Tứ Thánh (Đạo Sinh, Tăng Triệu, Đạo Dong, Tăng
Duệ), môn hạ của La Thập Tam Tạng, có viết lời tựa kinh
Phạm Võng. Nếu y vào lời tựa này thì Phạn bản của kinh
Phạm Võng, nguyên lai gồm có 120 quyển, trong đó có 61 phẩm,
ngài La Thập chỉ mới phiên dịch một phẩm “Tâm địa giới
phẩm” lại chia ra 2 quyển, thượng và hạ.
Quyển
thượng thuyết minh về hàng vị của các Bồ-tát: Thập Phát
Thú (Thập trụ), Thập Trưởng Dưỡng (Thập hành), Thập Kim
Cương (Thập hồi hướng) và Thập Địa. Quyển hạ nói rõ
về 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Nương
vào kinh Phạm Võng của La Thập Tam Tạng đã dịch, các ngài
Đạo Dong, Đạo Ảnh gồm 300 người đều y vào La Thập Tam
Tạng để thọ giới Bồ-tát của Phạm Võng. Đó là giới
pháp của Phạm Võng được truyền thọ đầu tiên ở Trung
Quốc. Những người đã được thọ giới, hàng ngày thường
đọc tụng các giới “Thập trọng và Tứ thập bát kinh giới”,
thực hành rất nghiêm khắc, nên mới rút ra những bộ phận
nói về “Thập trọng giới và Tứ thập bát khinh giới”,
từ phần kệ tụng của Phật Lô Xá Na nói cho tới cuối bài
kệ ở quyển hạ, biến thành một quyển riêng, gọi là “Bồ-tát
giới kinh” hay “Bồ-tát giới bản”.
Căn
cứ theo “Bồ-tát giới kinh nghĩa lý” 2 quyển của Thiên
Thai Trí Giả đại sư, thời kinh Phạm Võng thuộc Nhất thừa
giáo theo giáo phán và là phần giới thọ trì cộng thông cho
cả hai hàng xuất gia và tại gia.
Giáo
nghĩa cũng khác nhau giữa Tiểu thừa Thanh văn giới và Phạm
Võng Bồ-tát giới. Có mấy điều chủ yếu:
Thứ
nhất, Tiểu thừa giới là “Ngũ thiên thất tụ”, Phạm
Võng giới là “Nhị thiên tam tụ”. Biểu đồ khái yếu
như sau:
1.
TIỂU THỪA 5 THIÊN 7 TỤ:
GHI
CHÚ: Năm Thiên là nương ở chỗ nặng nhẹ của tội quả.
Bảy Tụ là những loại tụ căn cứ ở tội tính và nguyên
nhân của tội. Thâu-lan-giá gọi là Phương tiện tội (tức
nhân tội) của Ba-la-di và Tăng tàn. Ác tác là tội phạm về
thân. Ác thuyết là tội phạm về khẩu.
2.
ĐẠI THỪA 2 THIÊN 3 TỤ:
Liệt
kê các tên giới của 10 giới trọng và 48 giới khinh như sau:
- 10
GIỚI TRỌNG:
1.-
Giới sát sinh.
2.-
Giới trộm cướp.
3.-
Giới dâm.
4.-
Giới vọng ngữ.
5.-
Giới bán rượu.
6.-
Giới nói lỗi tứ chúng.
7.-
Giới khen mình chê người.
8.-
Giới sẻn tiếc mắng đuổi.
9.-
Giới tâm sân không nhận hối lỗi.
10.-
Giới hủy báng Tam bảo.
- 48
GIỚI KHINH:
1.-
Giới không kính thầy bạn.
2.-
Giới uống rượu.
3.-
Giới ăn thịt.
4.-
Giới ăn ngũ tân.
5.-
Giới không dạy người sám hối.
6.-
Giới không cung cấp thính pháp.
7.-
Giới lười không nghe pháp.
8.-
Giới trái Đại thừa hướng Tiểu thừa.
9.-
Giới không chán bệnh.
10.-
Giới chứa dụng cụ sát sinh.
11.-
Giới đi sứ.
A-12.-
Giới buôn bán.
13.-
Giới hủy báng.
14.-
Giới phóng hỏa.
15.-
Giới dạy giáo lý cạn hẹp.
16.-
Giới vì lợi nói pháp không thứ lớp.
17.-
Giới cậy thế cầu xin.
0-18.-
Giới không hiểu làm thầy.
19.-
Giới nói lưỡi hai chiều.
20.-
Giới không phóng sinh cứu sinh.
21.-
Giới sân đánh trả thù.
22.-
Giới kiêu mạn không thính pháp.
23.-
Giới kiêu mạn sẻn pháp.
24.-
Giới không tập học Đại thừa.
25.-
Giới không khéo hòa chúng.
0-26.-
Giới thọ lợi dưỡng riêng.
A-27.-
Giới thọ biệt thỉnh.
28.-
Giới biệt thỉnh Tăng.
29.-
Giới tà mệnh tự sống.
30.-
Giới không kính thời tốt.
31.-
Giới không cứu chuộc.
32.-
Giới tổn hại chúng sinh.
A-33.-
Giới tà nghiệp nghe xem.
34.-
Giới tạm nghĩ Tiểu thừa.
35.-
Giới không phát nguyện.
36.-
Giới không phát thệ.
37.-
Giới vào chỗ hiểm nạn.
38.-
Giới trái tôn ti thứ tự.
39.-
Giới không tu phước tuệ.
0-40.-
Giới lựa chọn thọ giới.
0-41.-
Giới vì lợi làm thầy.
42.-
Giới vì người ác thuyết giới.
A-43.-
Giới không thẹn nhận thí.
44.-
Giới không cúng dường kinh điển.
45.-
Giới không giáo hóa chúng sinh.
46.-
Giới thuyết pháp không như pháp.
47.-
Giới chế hạn phi pháp.
A-48.-
Giới phá pháp.
GHI
CHÚ: Tam tụ tịnh giới và 10 giới trọng là giới pháp cộng
thông cho cả hai hàng tại gia và xuất gia. Trong 48 giới khinh,
5 giới có phụ thêm “0” là những giới chế cho Tỷ-kheo
và Tỷ-kheo-ni. 5 giới có phụ thêm “A” là những giới chỉ
chế đối với người xuất gia.
Thứ
hai, trần thuật về “Tiệm chế” và “Đốn chế” của
hai giới Đại thừa, Tiểu thừa cùng trái nhau. 250 giới của
Tiểu thừa được chế định theo thứ lớp ở nơi phạm lỗi
của các đệ tử Phật, từ lúc Phật sơ chuyển pháp luân
ở Lộc Dã Uyển cho tới khi Phật nhập Niết bàn nơi Sa la
Song thọ. Giới Phạm Võng, Phật Lô Xá Na vì Biện Hải Vương
và Vương tử mà kết thành luôn 58 giới. Nên giới Tiểu thừa
là Tiệm chế, còn giới Đại thừa thuộc Đốn chế.
Tiểu
thừa giới 4 Ba-la-di, Phạm Võng giới lại nói 10 Ba-la-di. Lại,
giới Tiểu thừa nói Dâm, Đạo, Sát, Vọng theo thứ lớp,
giới Phạm Võng nói Sát, Đạo, Dâm, Vọng theo thứ lớp. Ở
Tiểu thừa, giới Dâm để thứ nhất, vì việc dâm dục người
nào cũng khó giữ và dễ phạm, đã phạm thời không thoát
khỏi sinh tử, nên giới Dâm để đầu là trọng chế. Nhưng
ở giới Phạm Võng, giới sát sinh trở nên Tính tội, nên
trọng chế để ở hàng đầu. Lại, chỗ chế của Tiểu thừa
giới chỉ hạn chế ở hai nghiệp thân, khẩu; Phạm Võng giới
thì thông cả ba nghiệp thân, khẩu, ý. Lại, ở giới Tiểu
thừa phán ở tội khinh, giới Phạm Võng lại phán ở tội
trọng. Như lấy trộm của Phật nơi chùa tháp, ở Tiểu thừa
cho là tội khinh nhưng ở Đại thừa lại là trọng tội.
GIÁO
ĐOÀN PHẬT GIÁO
I.
Ý NGHĨA GIÁO ĐOÀN
Thuật
ngữ của Giáo đoàn Phật giáo gọi là Tăng-già (Sangha), dịch
là hòa hợp chúng. Chúng có nghĩa là đoàn thể hòa hợp, đoàn
thể tự trị. Nên Tăng-già có ý nghĩa đoàn thể tự trị.
Tối thiểu từ 4 người trở lên đều là hòa hợp chúng mới
gọi là Tăng-già, gọi tắt là Tăng. Từ 3 người trở xuống
không được gọi là Tăng mà gọi là Quần (Gana). Đức Thích
Tôn sau khi thành đạo, “Sơ chuyển pháp luân”, Ngài nói
pháp Tứ đế ở vườn Lộc Dã (Mâgadeva) thuộc nước Ba La
Nại Tư (Vàrànasè) độ 5 người đệ tử đầu tiên là A
Nhã Kiều Trần Như (Ajnõata-Kaudinya), A Thấp Bà (Asùvajit),
Bạt Đề (Bhadrika), Ma Ha Nam (Màhànàman) và Thập Lực Ca Diếp
(Dàshada-Kàsypa). Ngôi Tam Bảo bắt đầu có từ đây.
Cũng
ở Lộc Dã Uyển, Đức Phật còn độ cho Da Xá (Yassa) và song
thân của ông làm tại gia Phật tử. Bên nam gọi là Ưu-bà-tắc,
bên nữ gọi là Ưu-bà-di, hai chúng tại gia Phật tử có từ
đây. Phật cũng còn độ cho thân hữu của Da Xá làm đệ
tử gồm 50 người.
Đức
Phật và 5 Tỷ-kheo đi hóa độ các nơi. Ngài đi về phía nước
Ma Kiệt Đà (Magadha), đã độ cho 3 anh em Ca Diếp, trưởng
huynh là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà-Kàsyapa), thứ huynh,
Na Đề Ca Diếp (Nani-K.), em út, Già Da Ca Diếp (Gigà-Kàsyapa),
đều thuộc Bà La Môn giáo, theo Phật làm đệ tử. Các ông
này còn có 1000 người đồ đệ cũng đều được Phật hóa
độ. Giáo đoàn của Đức Phật ngày một lớn mạnh.
Khi
ở Vương Xá thành (Ràlagaha), thủ phủ nước Ma Kiệt Đà
ở nơi Trúc Lâm tinh xá (Venuvana-Vihàra) do vua Tần Tỳ Xa La
(Bimbisàra) sai trưởng giả Ca Lan Đà (Karanda) xây cất, Đức
Phật đã độ cho 3 ông cũng thuộc Bà La Môn giáo là Xá Lợi
Phất (Sàriputra), Mục Kiền Liên (Mauâralyàyana) và Đại Ca
Diếp (Mahàkasyapa). Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có 250
đệ tử cũng đều xin theo Phật làm đệ tử. Đến lúc này
đệ tử của Đức Phật có 1.250 người, thường thường
đi theo Phật giáo hóa. Trong kinh điển thường nói: “Đại
Tỷ kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân”.
Khi
trở về thăm bệnh phụ vương, Đức Phật còn giáo hóa cho
cả vua Tịnh Phạn và các hàng vương tử. Trong các hàng vương
tử, có chính con của Ngài là La Hầu La (Rahula), người em
khác mẹ là Nan Đà (Nanda), em họ là A Nan Đà (Ànanda), Đề
Bà Đạt Đa (Devadatta), A Nâu Lâu Đà (Anurudha), đều được
Phật độ làm đệ tử. Phật thành đạo được 5 năm thì
phụ vương mất, kế mẫu của Phật là Ba Xà Ba Đề (Pralàpati)
và công chúa Da Du Đà La (Yasoddharà) cũng được Phật độ
cho xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Đó là lần đầu tiên mà bên
nữ giới được Phật độ vào hàng đệ tử xuất gia. Đến
đây, giáo đoàn của Phật đã gồm đủ tứ chúng, hai chúng
xuất gia: Tỷ-kheo (Tăng đoàn) và Tỷ-kheo-ni (Ni đoàn), hai
chúng tại gia là Ưu-bà-tắc (nam giới) và Ưu-bà-di (nữ giới).
II.
THÀNH PHẦN CỦA GIÁO ĐOÀN
Giáo
đoàn của Phật giáo gọi là Tăng-già, thành phần tổ chức
của Tăng-già là đoàn thể tôn giáo. Đức Thích Tôn còn tại
thế, phương thức đoàn thể tôn giáo cũng đã được chế
định. Những pháp quy của đoàn thể Tăng-già gọi là Luật
tạng, quy định về cách tổ chức và sinh hoạt. Thành phần
của đoàn thể Tăng-già gồm có 7 chúng xuất gia và tại gia:
1.
Tỷ-kheo (Bhiksu). - Phái nam xuất gia từ 20 tuổi trở lên đã
thọ giới Cụ túc.
2.
Tỷ-kheo-ni (Bhiksuni). - Phái nữ xuất gia từ 20 tuổi trở lên
đã thọ giới Cụ túc.
3.
Sa-di (Sràmanera). - Phái nam xuất gia đã thọ 10 giới.
4.
Sa-di-ni (Sràmaneri). - Phái nữ xuất gia đã thọ 10 giới.
5.
Thức-xoa-ma-na (Sikkhamàna). - Phái nữ xuất gia phải 2 năm học
“lục pháp” đã thọ và học giới để chuẩn bị thọ
giới Tỷ-kheo-ni.
6.
Ưu-bà-tắc (Upàsaka). - Phật giáo đồ phái nam.
7.
Ưu-bà-di (Upàsika). - Phật giáo đồ phái nữ.
Trong
7 chúng, 5 chúng trên thuộc chúng xuất gia, 2 chúng sau thuộc
chúng tại gia.
Về
đoàn thể Tăng-già có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nên Tăng-già
được khu phân thành 3 loại:
1.
Lý tưởng Tăng-già: Lý tưởng Tăng-già thì không phân biệt
tại gia hay xuất gia, vì ai nấy đều là Phật tử, đều là
Phật giáo đồ, nếu quyết tâm tu hành cũng đều có thể
chứng ngộ, giải thoát. Về lý tưởng Tăng-già có thể khảo
sát theo 2 phương diện: khảo sát theo phần lượng về nghĩa
rộng của Tăng-già, thì hết thảy chúng sinh đều bao hàm
trong nghĩa Tăng-già; khảo sát về phần chất, hết thảy chúng
sinh đều có thể chứng ngộ.
2.
Xuất gia Tăng-già: Tức Tỷ-kheo Tăng-già và Tỷ-kheo-ni Tăng-già.
Sa-di thuộc Tỷ-kheo Tăng-già, Sa-di-ni và Thức-xoa-ma-na thuộc
Tỷ-kheo-ni Tăng-già.
3.
Hội nghị Tăng-già: Tỷ-kheo Tăng-già và Tỷ-kheo-ni Tăng-già,
căn cứ vào nhân số trong các cuộc tập họp mà thành lập.
Nghi thức hội nghị của Tăng-già, cần phải có từ 4 người
trở lên mới được gọi là Tăng-già, từ 3 người trở xuống
thì không gọi là Tăng-già mà gọi là “Quần” (Gana). Hội
nghị Tăng-già chia làm 5 loại: (1) Hội nghị Tăng-già gồm
4 người. (2) Hội nghị Tăng-già gồm 5 người. (3) Hội nghị
Tăng-già gồm 10 người. (4) Hội nghị Tăng-già gồm 20 người.
(5) Hội nghị Tăng-già gồm 20 người trở lên. Nghi thức hội
nghị chia nhiều thứ như vậy, là vì dựa vào từng công việc
mà xử sự.
III.
SINH HOẠT CỦA GIÁO ĐOÀN
Đức
Thích Tôn khi còn tại thế, Ngài đã chế định ra giới luật
để làm tiêu chuẩn cho việc tu hành và sinh hoạt của các
đệ tử. Sau khi Phật diệt độ, các bậc Kỳ túc Trưởng
lão lại theo đó mà giải thích và quy định lại, biên thành
Tỷ-kheo giới bản và Tỷ-kheo-ni giới bản. Y vào luật Tứ
Phần, kinh giới bản của Tỷ-kheo có 250 giới, Tỷ-kheo-ni
có 348 giới. Theo Nam truyền luật tạng, Tỷ-kheo có 227 điều,
Tỷ-kheo-ni có 311 điều. Các giới điều tuy có khác, nhưng
chỉ khác phần chi tiết, còn phần nội dung căn bản vẫn
giống nhau.
Người
xuất gia, sau khi được thọ Cụ túc giới, cần phải nương
theo vào các điều giới luật như trong giới bản để làm
mực thước sinh hoạt hàng ngày. Về sinh hoạt của người
xuất gia, phải nương vào Tứ Y pháp:
1.-
Y vào khất thực để sinh sống.
2.-
Y vào áo vải thô để che thân.
3.-
Y vào dưới gốc cây để ngủ nghỉ.
4.-
Y vào thuốc hủ nát để chữa bệnh.
Nghĩa
là sự sinh hoạt hàng ngày của người xuất gia, không chú
trọng ở các vật xa hoa, các món ăn ngon, chỉ lấy thanh đạm
làm mãn nguyện. Tuy nương vào Tứ Y pháp làm tiêu chuẩn cho
sinh hoạt, nhưng tùy từng địa phương, từng trường hợp,
các hàng tại gia Phật tử, đàn việt làm tinh xá, giảng đường,
áo mặc, đồ ăn đem cúng dường, bố thí vẫn được thọ
dụng mà không trái với tinh thần Tứ Y pháp.
Vật
sở hữu của Tỷ-kheo, chia ra cá nhân sở hữu và Tăng-già
sở hữu. Vật cá nhân sở hữu, nếu y vào chế định Nam
phương Phật giáo là 3 tấm cà-sa: An-đà-hội (Antarivàsaka),
Uất-đa-la-tăng (Uttaràsasangha) và Tăng-già-lê (Samhàli), bình
bát, khăn lọc nước, dao thế phát, kim khâu và túi, gồm 8
vật. Nếu y vào chế định của Bắc phương Phật giáo là
3 tấm cà-sa, bình bát, khăn lọc nước và tọa cụ gọi là
6 vật. Ngoài ra là những dụng cụ như giày dép, khăn mặt,
khăn lau tay v.v... Vật sở hữu của Tăng-già như: tự viện,
già lam, giảng đường, phòng xá, vườn rừng, cây quả, chăn
màn, giường gối v.v... đều là vật công cộng của toàn
thể chư Tăng, ai cũng có quyền được sử dụng.
Công
việc hàng ngày của các Tỷ-kheo: buổi sáng sớm thì tụng
kinh, tọa thiền, trước giờ Ngọ phải đi khất thực, mang
về phòng ăn đúng giờ Ngọ, xong, có giờ chỉ tĩnh, rồi
lại chuyên việc tu hành, giảng đạo, buổi tối tụ tập
tại Thiền đường công cộng để cùng nhau bàn về pháp thoại,
và có giờ nghiên cứu công cộng, mãi tới đêm khuya mới
đi nghỉ. Tóm lại, về sinh hoạt hàng ngày của Tỷ-kheo lấy
sự tu luyện làm cốt yếu.
IV.
QUY ĐỊNH CỦA GIÁO ĐOÀN
Một
bộ phận của Luật tạng là giới bản thuộc phần Chỉ-trì,
ngoài ra còn có một bộ phận gọi là Kiền-độ, tức là
Tác-trì là những quy định về các pháp thọ giới, bố-tát,
an-cư, tự-tứ v.v... của đoàn thể Tăng-già. Nội dung của
Kiền-độ phần thì rất phức tạp, phần phức tạp này là
do các bậc Kỳ túc, Trưởng lão của Giáo đoàn chế định
thêm, còn y vào quy định ở thời Đức Thích Tôn còn tại
thế thì đơn giản hơn.
Công
việc quan trọng nhất của Giáo đoàn là việc tác pháp tiến
cụ (Upasampadà). - Nghi thức công nhận người gia nhập đoàn
thể. Trước hết, nếu ai tin theo Phật, được Phật hứa
khả, tức là nghi thức tác pháp công nhận người đó gia
nhập đoàn thể Phật giáo đồ. Như người được trao truyền
cho giới Tam quy y: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tức là
nghi thức hứa khả cho người đó gia nhập đoàn thể Phật
tử. Người được trao truyền cho 10 giới, tức là nghi thức
hứa khả cho gia nhập đoàn thể Sa-di. Người được sự tác
pháp trao truyền cho giới Cụ túc, tức là nghi thức hứa khả
cho gia nhập đoàn thể Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni. Người được
nhận vào đoàn thể Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni, phải là người
đủ 20 tuổi trở lên, và lục căn cụ túc. Về phía người
hứa khả cho gia nhập đoàn thể Tỷ-kheo, lúc đầu thì duy
có tự thân Đức Phật, đó là trường hợp đặc biệt, nhưng
về sau phải có 10 vị Trưởng lão Tỷ-kheo làm thầy giới
sự để trao truyền giới pháp. Sau khi được nhận vào đoàn
thể Tỷ-kheo, ai nấy đều phải căn cứ vào giới luật để
tu trì, vào kinh điển để học tập.
Quy
định về nghi thức Bố-tát (Upavasatha). - Bố-tát mỗi tháng
có 2 kỳ, nghĩa là các Tỷ-kheo hoặc Tỷ-kheo-ni cùng ở một
già lam hay trong một phạm vi kiết giới nào, mỗi tháng vào
ngày 15 và 30 đều phải tận tập, bạch yết-ma làm lễ bố-tát,
cử một Tỷ-kheo tụng giới bản, đại chúng đều ngồi nghe,
ai nấy đều tự phản tỉnh và nếu phạm vào điều giới
luật nào, phải ra trước đại chúng sám hối, hoặc tự phát
lộ.
Quy
định về nghi thức An-cư (Varsavasana). - Vì mỗi năm cứ vào
mùa mưa, nước lũ dâng lên tràn ngập cả đường lối, sự
đi lại giáo hóa, truyền đạo và khất thực không thuận
tiện, hơn nữa lại là mùa côn trùng sinh nở đầy đường,
đi lại sợ tổn hại đến sinh mạng các loài côn trùng, nên
Phật cùng các đệ tử phải tụ tập lại một nơi nào thuận
tiện để chuyên việc tu hành trong 3 tháng, kể từ ngày 16
tháng 4 đến 15 tháng 7, gọi là “Vũ-kỳ an-cư”.
Quy
định về nghi thức Tự-tứ (Pavarana). Ngày 15 tháng 7, ngày
cuối cùng của khóa an-cư là ngày làm lễ Tự-tứ. Tự-tứ
có nghĩa là trong 3 tháng tu trì, nếu trong đại chúng có ai
phạm vào tội lỗi mà đại chúng ngờ vực, thì được tự
do cử tội. Pháp an-cư, tự-tứ có từ ngày Đức Thích Tôn
còn tại thế. Nghĩa là Đức Thích Tôn thành đạo sau một
năm, cho tới khi Ngài nhập diệt, Ngài không để thiếu một
khóa an-cư, tự-tứ nào.
V.
SỰ BIẾN THIÊN CỦA GIÁO ĐOÀN
Khi
Đức Thích Tôn còn tại thế, Tăng-già được sự bao dung
nhân cách vĩ đại của Ngài, nên đã ít xảy ra vi phạm tội
lỗi. Nhưng nếu có chỗ vi phạm là do nơi quần chúng không
tốt của Lục-quần Tỷ-kheo trà trộn, nên Đức Thích Tôn
đã chế định ra ít nhiều về giới luật. Sau khi Đức Thích
Tôn nhập diệt, ngài Đại Ca Diếp cố giữ cho giới luật
của Phật đã chế định, không để thất thoát, quyết tâm
tuân thủ và truyền trì. Nhưng sau khi Đức Thích Tôn nhập
diệt 100 năm, thì Giáo đoàn của Phật giáo cũng không nằm
trong “Chính pháp nhất vị”, mà đã phân liệt thành 2 phái
tư tưởng cũ mới đối lập, nên đã phát sinh ra phái truyền
thừa về hình thức của giới luật thành “Thượng Tọa
bộ (Sthaviràh)”, sau gọi là Tuyết Sơn bộ (Haimavàtàh), và
nắm bắt về tinh thần của giới luật mà hình thành “Đại
Chúng bộ (Mahàsamghikàh)”. Thế rồi sau đó,2 bộ này có
những bất đồng tư tưởng, lại lần lượt phân liệt thành
các bộ nhỏ khác. Như Đại Chúng bộ chia thành 8 bộ:
1.
Nhất Thuyết bộ (Ekavyavahàrihàh)
2.
Thuyết Xuất Thế bộ (Lokottaravadinàh)
3.
Kê Dận bộ (Kaukktikàh)
4.
Đa Văn bộ (Bàhusrutiyàh)
5.
Thuyết Giả bộ (Prajnàptivadinàh)
6.
Chế Đa Sơn bộ (Caityasailàh)
7.
Tây Sơn Trụ bộ (Aparasailàh)
8.
Bắc Sơn Trụ bộ (Uttarassailàh).
Và
Thượng Tọa bộ cũng chia thành 10 bộ:
1.
Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh) còn gọi là Thuyết
Nhân bộ (Hatuvàdàh)
2.
Độc Tử bộ (Vàtsiputriyàh)
3.
Pháp Thượng bộ (Dharmattariyàh)
4.
Hiền Trụ bộ (Bhadrayànihàh)
5.
Chính Lượng bộ (Sàmmitiyàh)
6.
Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh)
7.
Hóa Địa bộ (Mahìsàsakàh)
8.
Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh)
9.
Ẩm Quang bộ (Kàsyapiyàh)
10.
Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh).
Như
vậy, 2 bộ phận liệt thành 18 bộ, cộng thêm 2 bộ căn bản,
gọi là “Tiểu thừa nhị thập bộ”.
Trong
các bộ phái kể trên, các bộ đều có những bộ luật riêng
cho bộ mình. Trong Luật tạng Hán dịch, Tứ Phần luật thuộc
Pháp Tạng bộ, Ngũ Phần luật thuộc Hóa Địa bộ, Thập
Tụng luật thuộc Hữu bộ, Ma Ha Tăng Kỳ luật thuộc Đại
Chúng bộ, Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da
dĩ nhiên là luật sở truyền của Hữu bộ. Luật Pàli sở
thuộc hệ Thượng Tọa bộ, gọi là “Phân Biệt Thuyết bộ”,
do Giáo đoàn Phật giáo Tích Lan là “Đại Tịnh xá Tự phái”
(Màhàvihara) truyền trì. “Đại Tịnh xá Tự phái”: gọi
tắt là Đại Tự phái thuộc Thượng Tọa bộ (Theriya-Nikàya).
Nghi thức thọ giới nương vào giới luật được thực hành
đầu tiên ở Trung Quốc là “Thời đại Tam quốc”, thời
đại Quảng luật thì chưa hoàn toàn truyền tới nên chưa
nhất trí về giáo nghĩa “Giới thể” và “Giới hạnh”,
ngay khi Quảng luật đã truyền tới, vấn đề đó cũng vẫn
chưa được giải quyết. Mãi đến thời Pháp Thông luật sư
đời Bắc Ngụy, ngài chuyên nghiên cứu về “Tứ phần luật”,
do đó mới giải quyết nhất trí được vấn đề giữa “Giới
thể” và “Giới hạnh”. Đệ tử của Pháp Thông là Đạo
Phú luật sư, được trao truyền tư tưởng của thầy, trước
tác bộ “Tứ Phần luật sớ” 6 quyển.
Sau
đó, Tuệ Quang luật sư (468-537) được truyền thừa khoa văn
trên, nghiên cứu tinh tường luật Tứ phần, thành lập ra
hệ thống cơ sở cho tông này. Tới Đạo Tuyên luật sư (596-667)
thì ngài hoàn thành được hệ thống Tứ Phần luật tôn,
gọi là “Nam Sơn Tôn”. Luật tôn trong đời Đường có tất
cả 3 tông phái, nhưng duy có Nam Sơn Tôn là được thịnh hành
và hiện còn truyền thừa tới nay. Hệ thống Luật tôn này
còn được thịnh hành ở Nhật Bản, Cao Ly và cả Việt Nam.
Giới luật của tôn này thuộc Tiểu thừa, nhưng phần giải
thích có khuynh hướng Đại thừa.
Đại
thừa giới được nói đến ở các kinh “Phạm Võng kinh”,
“Anh Lạc kinh” và “Thiện Giới kinh”. Nội dung của “Phạm
Võng kinh” nói về 10 cấm giới trọng và 48 giới khinh. Giới
Đại thừa này thông cho cả 2 hàng Tăng và tục. Về Đại
thừa giới thì tương đương với 2 bộ phận “Chỉ ác tác
thiện”, nhưng phần quy tắc (tác trì) thì không nhất định.
Do đó, những nghi thức, tác pháp, hành sự thuộc môn “Tác
thiện” trong Tăng-già, đã không tồn tại. Phụng hành giới
Đại thừa, nhưng lại phải tuân theo Tiểu thừa luật.
Môn
Tác thiện dù có nằm trong Tiểu thừa giới, nhưng vì chưa
mãn túc và đặc biệt “môn Tác thiện” trong Đại thừa
giới không tồn tại, nên các tông phái thuộc Đại thừa
đương nhiên phải nỗ lực chế định. Trong các tông phái
duy có Thiền tôn đã chế tác được “Thanh quy”, để quy
định về tập đoàn sinh hoạt của hòa hợp chúng. Từ thời
Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ Năng, các ngài đều cư trụ
ở trong các chùa Luật Chế. Nhưng Tứ Tổ Đạo Tín và Ngũ
Tổ Hoằng Nhẫn đều trụ ở chùa Chính Giác thuộc núi Song
Phong ở Tây Bắc huyện Hoàng Mai tỉnh Hồ Bắc, trước sau
hơn 60 năm. Đồ chúng từ các nơi quy tụ về tu học không
phải là 500 người mà là hàng ngàn người, làm thay đổi
nếp Thiền phong đã có từ trước. Sinh hoạt của đại chúng
lấy việc tự cấp, tự túc làm cốt yếu, không phải chỉ
riêng tọa thiền, mà hết thảy việc canh tác, nấu cơm, quét
nhà, làm việc công cộng v.v... cũng đều bao quát trong việc
tu hành, mỗi mỗi việc đều coi là giá trị tuyệt đối.
Đích tôn của Tổ Huệ Năng là Mã Tổ, có 800 người trong
hội hạ và cũng đã xây dựng thành đạo tràng riêng biệt
của Thiền. Bách Trượng Hoài Hải (720-814), người được
truyền pháp của Mã Tổ, đã soạn ra bộ Thanh Quy đầu tiên,
làm quy củ cho Thiền môn, đời gọi là “Bách Trượng Thanh
Quy”. Thanh Quy là di sản đặc biệt của văn hóa Trung Quốc
trọng vọng về lễ tục. Bộ “Bách Trượng Thanh Quy” đương
thời lúc đó đã bị thất lạc không còn lưu truyền tới
hiện nay, nhưng xem trong các bộ “Thiền Môn Quy Thức”, “Thiền
Uyển Thanh Quy”, “Bách Trượng Quy Thằng Tụng”, trong “Cảnh
Đức Truyền Đăng Lục” cũng có thể biết mường tượng
được nội dung của “Bách Trượng Thanh Quy”. Ngài Bách
Trượng còn kiến lập thiền viện độc lập, không phụ thuộc
vào các chùa luật. Trên núi Bách Trượng, ngài không dựng
Phật điện, mà chỉ kiến lập Pháp đường. Vị trụ trì
gọi là Trưởng lão. Nơi ở trụ trì gọi là nhà “Phương
trượng”. Trưởng lão là vị Hóa chủ, người thay mặt Phật,
Tổ nơi Pháp đường để thượng đường, thăng tòa nói pháp.
Đại chúng khi vào Tăng đường, theo thứ tự năm đã kết
hạ an cư mà định trật tự. Trong nơi tham thiền có đặt
ra “Trường liên sàng” (giường dài ngồi liền nhau) làm
giá treo để treo các đạo cụ. Ngồi thiền lâu muốn nghỉ,
để gối lên thành giường, đặt sườn bên phải xuống mà
ngủ. Cách ngủ này gọi là “Đới đao thụy”. Đại chúng
của toàn Viện thời chiêu tham mộ tụ, nếu khi Trưởng lão
thượng đường, hết thảy đều tập hợp để nghe pháp và
trao đổi vấn đáp. Ngoài ra còn có phần độc tham thọ giáo.
Trong lúc chiêu tham mộ thỉnh, Đại chúng đều tiến thoái
theo nhịp mõ cá, khánh đá, oai nghi chỉnh tề không để rối
loạn. Về việc ăn dùng có 2 bữa cháo sáng, trai trưa trong
ngày, giữ gìn tiết kiệm, trong lúc làm việc, Đại chúng
trên dưới đều phải tận tâm kiệt lực.
Trong
nơi Tăng đường đặt ra “10 vụ”, gọi là “Liêu xá”,
mỗi cục Liêu xá có một thủ lĩnh, gọi là “Liêu ty”,
dưới Liêu ty lại có nhiều người quản lý công việc. Dưới
quyền chỉ đạo của thủ lĩnh (Liêu ty) còn có 10 chức như
Duy na, Phạn đầu, Thái đầu, còn 7 chức nữa không ghi rõ
tên. Nếu là người mượn hình tướng trà trộn vào hàng
Thanh chúng, hoặc làm huyên náo trong chúng, vị Duy na phải
kiểm cử, bỏ hết những đồ biện đạo xuống rồi đuổi
ra khỏi Thiền viện. Nếu là người phạm tội, hoặc bị
đánh đòn, hoặc sám hối trước đại chúng, hoặc bị đốt
y bát rồi đuổi ra khỏi cửa, đều được quy định trong
Thanh quy. Các Thiền viện trong thiên hạ đều phỏng theo bản
Thanh quy này mà chế tác. Như vậy, giới luật của Thiền
tôn, theo các quy tắc như trên, thuộc phần “Tác thiện môn”.
Bách Trượng Thanh Quy được lưu truyền rất sâu rộng ở
đời, nhưng do sự biến thiên của thời đại, tình thế của
địa phương, phong tập của tự viện, tính cách của gia sự,
nên đã bị cải biến dần dần. Tiếp sau có bộ “Thiền
Uyển Thanh Quy” 10 quyển của Tôn Gi (1103), “Hiệu Định
Thanh Quy” 2 quyển của Duy Miễn (1274), “Sắc Tứ Bách Trượng
Thanh Quy” 2 quyển của Đức Huy (1336), đều là những bộ
Thanh quy chủ yếu của Phật giáo Trung Quốc. Trong các bộ
Thanh quy về phần nội dung là phần sinh mệnh mới của giới
luật, nhưng đồng thời cũng là phần sa đọa vào hình thức,
vì có chứa đựng phong phú phần tục lễ. Cho nên, Trình Minh
Đạo, một Nho sĩ đã khen: “Tam đại lễ nhạc, tại chuy
y trung”, nghĩa là lễ nhạc của 3 đời Hạ, Thương, Chu đều
được tồn tại nơi Thiền đường.
VI.
SỨ MỆNH CỦA GIÁO ĐOÀN
Đức
Thích Tôn thuyết giáo, Ngài đã phủ nhận chế độ giai cấp,
nếu ai đã là người quyết chí xuất gia đều được dự
vào “Thanh tịnh đại hải chúng”, đều là chúng phạm hạnh
thanh tịnh. Nên người xuất gia đã được thọ giới cần
phải giữ giới thanh tịnh. Vì lẽ, cứ mỗi mỗi giới Đức
Phật đã chế định đều có cái công năng đoạn trừ phiền
não, giải thoát sinh tử, được 10 công đức lớn, mà trong
luật Tứ phần gọi là “Thập cú nghĩa”, luật tạng Pàli
(Dasa Atthavase) gọi là Thập lợi.
“THẬP
CÚ NGHĨA” TRONG TỨ PHẦN LUẬT:
1.-
Nhiếp thủ ư Tăng. - Vì kiện toàn Tăng-già thành thanh tịnh
chúng.
2.-
Linh Tăng hoan hỷ. - Vì tu phạm hạnh, mầm thiện tăng trưởng,
nên tâm hoan hỷ.
3.-
Linh Tăng an lạc. - Vì hoan hỷ được an lạc nơi thiền định.
4.-
Linh vị tín giả tín. - Vì người chưa tin phạm hạnh thanh
tịnh mà sinh lòng tin.
5.-
Dĩ tín giả linh tăng trưởng. - Vì người đã tin rồi khiến
lòng tin tăng trưởng.
6.-
Nan điều giả linh điều thuận. - Vì người khó điều phục
khiến được điều thuận.
7.-
Tàm quý giả đắc an lạc. - Vì người biết hổ thẹn được
an vui.
8.-
Đoạn hiện tại hữu lậu. - Vì đoạn hết được phiền
não hiện tại.
9.-
Đoạn vị lai hữu lậu. - Vì đoạn diệt được phiền não
ở vị lai.
10.-
Chánh pháp đắc cửu trụ. - Vì do trì phạm hạnh mà chánh
pháp được cửu trụ.
“THẬP
LỢI” TRONG LUẬT TẠNG PÀLI:
1.-
Samghasutthutàya. - Vì tính kiện toàn của Tăng-già.
2.-
Samghaphà-sutàya. - Vì an trụ của Tăng-già.
3.-
Dummankuman puggalànam-niggahàya. - Vì ức chế kẻ ác.
4.-
Pesalànam bikkùnam phàsuvihàraya. - Vì an trụ của thiện Tỷ-kheo.
5.-
Ditthadhammikànam àsavànam samvaràya. - Vì đoạn phiền não hiện
thế.
6.-
Samparàyikanam àsavànam patighàtàya. - Vì đoạn diệt phiền
não ở vị lai.
7.-
Appasannànam pasàdaya. - Vì khiến người chưa tin sinh tin.
8.-
Pasannànam bhiyyobhàvàya. - Vì người đã tin, lòng tin thêm kiên
cố.
9.-
Saddhammatthiliyà. - Vì chánh pháp cửu trụ.
10.-
Vinayà nuggahàya. - Vì yêu chuộng kính trọng luật.
"Thập
cú nghĩa" trong Tứ Phần luật và "Thập lợi" trong Luật tạng
Pàli đêu gồm 10 hạng mục, các hạng mục đều tương tự
nhau. Đó đều là những hạng mục chủ đích khiến cho thanh
tịnh và trang nghiêm Giáo đoàn, khiến các Tỷ-kheo thanh chúng
tu hành phạm hạnh, đoạn phiền não, chứng Niết-bàn.
Niết-bàn
có nghĩa là phủ nhận cá ngã, cách cố đỉnh tân, để đạt
tới nhân cách hoàn toàn, quyết không phải nơi an lạc của
tự kỷ. Thế nên, trong lĩnh vực Tăng-già, ngoài việc tu tập
phạm hạnh cho phần tự lợi còn phải tích cực nghĩa vụ
giáo hóa để kiện toàn phần lợi tha. Vì tu tập phạm hạnh
là phương diện tự giác hướng thượng, việc hoằng duyên
là phương diện hướng hạ giác tha, nên sứ mệnh của Tăng-già
phải chu toàn gồm cả Bi, Trí. Nghĩa là một mặt phải noi
theo nhân cách vĩ đại của Đức Thích Tôn, y theo giới luật,
thật tiễn tu hành, phát huy triệt để tinh thần hòa hợp
chúng, để bảo trì kỷ cương trật tự, trang nghiêm Tăng-đoàn;
mặt khác phải nương theo Đại thừa giới; Nhiếp luật nghi
giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới, để
“Thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại”.
LUẬT
TÔN
I.
TÊN TÔN
Tôn
này y cứ vào luật Tứ Phần, nên gọi là “Tứ Phần Luật
Tôn”.
II.
GIÁO NGHĨA
Căn
cứ vào giáo phán của Đạo Tuyên luật sư theo Luật Tôn,
đem tổng quát một đời thuyết giáo của Đức Phật mà chia
ra “Hóa giáo” và “Hành giáo”. Hành giáo còn gọi là “Chế
giáo”. “Hóa giáo” chỉ cho những giáo pháp giáo hóa cộng
thông cho cả hai hàng tại gia và xuất gia. “Chế giáo” là
những giáo pháp Đức Phật nói ra chuyên cho hàng đệ tử
xuất gia, chú trọng phương diện tu trì, thanh tịnh Tăng đoàn,
mỗi đệ tử phải noi theo tu tập để biết thế nào là “tu
trì”, thế nào là “hủy phạm” để các đệ tử phải
y giới phụng hành, làm vững chắc Tăng đoàn khiến chánh
pháp cửu trụ.
Trong
chỗ quy định về giới, các bậc cổ đức, y theo vào tính
chất của giới nên chia giới làm 2 phần, “Chỉ trì giới”
và “Tác trì giới”. Chỉ trì giới là không làm các điều
ác, tức “chư ác mạc tác” theo nghĩa tiêu cực. Tác trì
giới là vâng làm các điều thiện, tức “chúng thiện phụng
hành” theo nghĩa tích cực. Căn cứ trong Tứ Phần Luật tạng
thì các bộ phận của Tỷ-kheo giới, Tỷ-kheo-ni giới là nói
về phần “Chỉ trì”, các bộ phận Kiền-độ nói về phần
“Tác trì”.
III.
TRUYỀN THỪA
Giáo
học của Phật giáo được cấu thành bởi ba môn học là
“Giới học”, “Định học” và “Tuệ học”. Phật giáo
Trung Quốc vì nghiên cứu về Tuệ học, nên Tam Luận Tôn,
Thiên Thai Tôn, Hoa Nghiêm Tôn được thành lập. Vì tu tập
về Định học nên có Thiền Tôn ra đời, vì nương theo vào
“Giới học” để tu trì nên có Luật Tôn xuất hiện.
Về
Giới học ở Ấn Độ thì nương vào 5 bộ luật khác nhau
là Đàm Vô Đức bộ, Tát Bà Đa bộ, Di Sa Tắc bộ, Ca Diếp
Di bộ và Ma Ha Tăng Kỳ bộ. Trong 5 bộ này, có 4 bộ được
truyền tới Trung Quốc, tức Quảng luật của Đàm Vô Đức
bộ là “Tứ Phần luật” (60 quyển) do ngài Phật Đà Da
Xá đời Diêu Tần dịch. Tát Bà Đa bộ tức “Thập Tụng
luật” (61 quyển) do ngài Phất Nhã Đa La dịch. Di Sa Tắc
bộ tức “Ngũ Phần luật” (30 quyển) do ngài Phật Đà Thập
dịch. Ma Ha Tăng Kỳ luật bộ (40 quyển) do ngài Phật Đà
Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch. Còn Ca Diếp Di bộ tức
“Giải Thoát luật” thì chưa truyền tới.
Trong
các bộ luật kể trên, sau khi được dịch ra, Tăng-đoàn của
Trung Quốc nương vào đó mà tổ chức Giáo đoàn. Trong đời
Ngụy và đời Tấn thì luật Tăng-kỳ được thịnh hành ở
vùng Giang Bắc, luật Thập Tụng được phát triển ở vùng
Giang Nam. Sự thọ giới của Giáo đoàn, nương vào luật Tứ
Phần, nhưng sinh hoạt của Giáo đoàn lại nương vào luật
Tăng-kỳ và luật Thập Tụng.
Tứ
Phần luật tuy đã được ngài Phật Đà Da Xá dịch, nhưng
vì chưa được hoàn bị, nên ngài Pháp Thông đời Bắc Ngụy
nhiệt tâm nghiên cứu và giảng giải bộ luật đó. Môn đệ
của ngài là Đạo Phú lại nương vào lời thầy giảng mà
soạn thành bộ “Tứ Phần Luật Sớ”. Sau, môn đệ của
Đạo Phú là Tuệ Quang (468-537) tận lực hoằng truyền, nên
môn học luật Tứ phần bột hưng. Môn đệ của Tuệ Quang
là Đạo Vân, Đạo Huy, và môn đệ của Đạo Vân là Trí
Thủ, môn đệ của Đạo Huy là Hồng Tuân kế thừa, đều
là những nhân vật hoạt động về Luật học ở đời Tùy.
Tới đời Đường thì “Tứ Phần Luật Tôn” được hoàn
toàn thành lập. Cũng trong đời Đường, nghiên cứu và hoằng
dương về Luật học gồm có 3 tôn: “Nam Sơn Tôn”, “Tướng
Bộ Tôn” và “Đông Tháp Tôn”.
- NAM
SƠN TÔN
Đạo
Tuyên (596-667), người sáng lập ra Nam Sơn Luật Tôn. Ngài người
huyện Đan Đồ, tỉnh Giang Tô, sinh năm Khai Hoàng thứ 16 (569)
đời Tùy, y ngài Trí Thủ (567-635) ở Trường An thọ giới
Cụ túc, chuyên học về Luật. Vì lúc đầu ngài trụ trì
chùa Phong Đức núi Chung Nam nên có tên là “Nam Sơn luật
sư”. Sau, ngài vâng sắc nhậm chức Thượng tọa chùa Tây
Minh ở Trường An để truyền bá Luật học. Tới năm Càn
Phong thứ 2 (667), ngài thị tịch, thọ 72 tuổi. Ngài là người
hoàn thành về giáo nghĩa của Luật tôn, và hệ thống Luật
học của ngài gọi là “Nam Sơn Tôn”.
Về
trước tác của ngài gồm có “Tứ Phần Luật Hành Sự Sao”
(3 quyển), “Tứ Phần Luật Yết-Ma Sớ” (4 quyển), “Tứ
Phần Luật Giới Bản Sớ (94 quyển), “Thập Tỳ-Ni Nghĩa
Sao” (4 quyển), “Tỳ-Kheo-Ni Sao” (3 quyển) là các bộ thuộc
Luật học. Ngoài ra, ngài còn soạn các bộ “Đại Đường
Nội Điển Lục” (10 quyển) để chỉnh lý kinh điển, “Cổ
Kim Phật Đạo Luận Hành” (4 quyển) và “Quảng Hoằng Minh
Tập” (30 quyển), “Thích Thị Lược Phổ” (1 quyển), “Thích
Ca Phương Chí” (5 quyển), “Tam Bảo Cảm Thông Lục” (3
quyển), đều là những bộ rất có giá trị trên phương diện
sử học Phật giáo.
Đệ
tử thượng túc của Đạo Tuyên là Đại Từ, Văn Cương,
Chu Tú, Dong Tế v.v... đều tận lực hoằng truyền về Luật.
Ngoài ra, em đồng môn của ngài là Đạo Thế, đệ tử ngài
Trí Thủ, trước tác bộ “Tứ Phần Luật Thảo Yếu” và
“Tứ Phần Ni Sao” cùng bộ “Pháp Uyển Châu Lâm” (100
quyển) để lưu truyền ở đời.
- TƯỚNG
BỘ TÔN
Sơ
tổ của “Tướng Bộ Tôn” là Pháp Lệ luật sư (569-635),
trụ trì chùa Nhật Quang thuộc Tướng Châu (tỉnh Hà Nam) biệt
lập thành một phái Luật học, nên có tên là “Tướng BoÄ
Tôn”. Ngài là pháp tôn của Hồng Tuân, hơn Đạo Tuyên 27
tuổi. Về trước tác của ngài có “Tứ Phần Luật Sớ”.
Môn đệ của ngài là Mãn Ý, Hoài Tố v.v... Sau Hoài Tố lại
là Khai tổ của “Đông Tháp Tôn”.
- ĐÔNG
THÁP TÔN
Khai
tổ của Đông Tháp Tôn là Hoài Tố (624-697). Lúc đầu Hoài
Tố theo học ngài Huyền Trang, sau theo Pháp Lệ học về Luật,
nhưng không vừa ý với học thuyết của thầy, ngài liền
trước tác “Tứ Phần Luật Khai Tôn Ký” để phát biểu
học thuyết mới, lấy chùa Sùng Phúc Đông Tháp làm căn cứ
địa để hoằng truyền Luật học, lập thành một phái riêng
gọi là “Đông Tháp Tôn”. Môn đệ của ngài là Pháp Thuận
kế thừa. Nhưng Đông Tháp tôn cũng như Tướng Bộ Tôn, lưu
truyền không được bao lâu rồi đều bị suy tàn, duy có Nam
Sơn Tôn còn lưu truyền ở đời cho tới hiện nay. (Trích trong
cuốn Lịch sử Phật giáo Trung Quốc của Thích Thanh Kiểm).
Tiếp
sau, người hoằng truyền Luật có lực nhất là Nguyên Chiếu
luật sư (tên chữ là Linh Chi, tên hàm (thụy) là Đại Trí,
1048-1116). Ngài trước tác các bộ “Hành Sự Sao Tư Trì Ký”,
“Giới Bản Sớ Hành Tôn Ký”, “Yết-Ma Sớ Tế Lục Ký”.
Từ đời Đường đến đời Tống, giải thích về “Hành
Sự Sao” có hơn 60 nhà nhưng cũng không vượt ngoài khuôn
khổ của Nguyên Chiếu luật sư.
Tới
đời Nguyên. Thời kỳ Lạt Ma giáo và Thiền Tông rất thịnh
hành, Luật học chỉ duy có Pháp Văn luật sư chùa Đại Phổ
Khánh ở kinh thành là người hoằng Luật nổi tiếng, học
đồ tới hàng ngàn người.
Sang
đời Minh. Thời kỳ Thiền Tôn cũng vẫn thịnh hành. Luật
Tôn cũng rất được phát triển; vì có Tri Huyễn Đạo Phú
lu