Phần
Bốn
C.-
NHÂN QUẢ BỒ TÁT ĐẠO.
01
Đồng Sự Nhiếp.
02
Tạo cơ hội cho Chúng sanh tạo Phước.
03
Nhẩn Nhục.
04
Tự Trang Nghiêm bằng Công đức.
05
Ngḥch Hạnh.
06
Các vị̣ Bồ Tát trong Đại Thừa.
07
Phật Quả.
08
SUY LUẬN NHÂN QUẢ
09
KẾT LUẬN
C.
NHÂN QUẢ BỒ TÁT ĐẠO
Chúng
ta nhường phần định nghĩa thuật ngữ cho các vị học giả,
chỉ hiểu đơn giản rằng Bồ tát hạnh là sự nghiệp giáo
hóa chúng sinh của một vị đã giác ngộ giải thoát. Chỉ
bởi sự chứng ngộ viên mãn của mình, một vị Bồ tát mới
đủ đạo nhãn để quan sát căn cơ chúng sinh, đủ trí tuệ
để có những phương tiện giáo hóa thích hợp. Chưa chứng
ngộ viên mãn, việc làm lợi ích chúng sinh chưa hoàn toàn
đúng nghĩa Bồ tát.
Bồ
tát là gì?
Thật
ra danh từ chỉ là hư rỗng, tạm đặt bởi tâm lý của con
người. Chúng ta dễ bị danh từ che mất sự thật để rồi
lập ra những định kiến trên đó. Hầu hết quan niệm của
Phật giáo Đại thừa đều đề cao Bồ tát vị mà chê bai
quả vị Alahán là tiêu cực thụ động. Nhưng vấn đề này
phải được tìm hiểu sơ lược trước khi chúng ta bước
vào nghiên cứu Nhân Quả Bồ tát đạo. Chúng ta sẽ nghiên
cứu kỹ về giá trị, vai trò của Bồ tát trong một luận
bản khác.
Tính
chất của một vị Bồ tát là Tâm Đại bi viên mãn. Chính
bởi tâm Đại bi này mà Bồ tát thị hiện vào sinh tử hóa
độ chúng sinh không mệt mỏi.
Cũng
một vấn đề, khi nói ở phương diện tiêu cực, chúng ta
gọi là VÔ NGÃ, khi nói ở phương diện tích cực, chúng ta
gọi là ĐẠI BI. Một bậc giải thoát tan vỡ Ngã chấp hoàn
toàn, ngay đó không phải là đoạn diệt hư vô (Trung Quán
luận). Khi không còn ích kỷ, thì tâm vị tha tự nhiên tràn
đầy vô hạn; khi chấp ngã đã hết thì đại bi tâm hiển
lộ không bờ bến. Nếu chúng ta chỉ học hiểu trên văn tự
ngôn ngữ, nghe nói vô ngã liền chỉ biết vô ngã mà không
biết vô ngã đó chính là đại bi, nghe nói đại bi chỉ biết
là đại bi mà không biết đại bi đó chính là vô ngã. Đạo
Phật là đạo của sự thật tu thật chứng, không phải một
triết thuyết để bàn luận suông, suy tư rỗng như vô
số các triết thuyết khác. Và chỉ bởi sự thực tu thực
chứng, chúng ta mới có cái nhìn thấu triệt mọi vấn đề
mà ngôn ngữ nói chưa hết. Nếu không thực tu thực chứng,
văn tự ngữ ngôn sẽ là một ngục tù giam hãm tâm thức chúng
ta.
Nếu
một vị đã hết sạch ngã chấp, chứng đạt Alahán, ngay
đó tâm đại bi đã hiện hữu vô biên. Thời tại thế Nguyên
thủy, Đức Phật không tiết lộ về công hạnh Bồ tát đạo
của một vị Alahán bởi vì đó là việc làm của một người
chứng ngộ tự biết, không phải việc làm của phàm phu. Kẻ
phàm phu nghe nói về công hạnh Bồ tát sẽ khởi sinh vọng
tưởng và chấp trước, quên đi việc tự lợi trước mắt
của mình, tự cho là gần gũi để hóa độ chúng sinh, không
ngờ bị danh lợi cuốn mất. Nếu vị này đã giải thoát
giác ngộ, dù không cần dạy bảo, vị ấy tự biết bổn
phận của mình đối với những chúng sinh si mê còn lại.
Chỉ là các ngài không bộc lộ thân thế, không khoe khoang
việc làm của mình nên chúng ta lầm tưởng Niết Bàn vô dư
y của các ngài là sự chấm dứt vĩnh viễn. Niết Bàn là
sáng suốt biết rõ, không phải là mờ mịt si mê, Niết Bàn
là không sở đắc, chẳng phải là có sở đắc như chúng
ta gán ép. Niết Bàn là linh hoạt, chẳng phải là khô cứng.
Niết Bàn là có năng lực tự tại, chẳng phải là sự gò
bó câu thúc. Niết Bàn là cảm ứng vô biên, chẳng phải là
sự đóng khung một mình một cõi.
Chư
Thánh ở trong Niết Bàn rất sáng suốt, biết rõ tình trạng
của Phật pháp, của chúng sinh và cảm ứng với nhau không
thể nghĩ bàn. Khi thấy cần phải xuất hiện ở một nơi
nào để giáo hóa, các ngài liền âm thầm thọ thân sinh tử
để đến với chúng sinh mà chúng sinh không hề hay biết.
Vô số vị Alahán đã thọ thân sinh tử để trở lại với
chúng sinh mà chúng ta đâu hay biết gì, cứ ngỡ các ngài đã
ra đi rồi là hết hẳn.
Mặc
dù đạo quả Alahán được định nghĩa như là “không trở
lui lại trạng thái này nữa” theo Nikaya hoặc “không thọ
thân đời sau” theo A hàm, nhưng đó chỉ là không trở lại
theo nghiệp. Không nghiệp nào có thể lôi kéo một vị Alahán
trở lại sinh tử được nữa nhưng vị này tự có năng lực
làm chủ, vẫn có khả năng tùy nguyện trở lại để giáo
hóa chúng sinh. Nếu cho rằng, dù muốn trở lại mà một vị
Alahán ở trong Niết Bàn vẫn không thể trở lại, tôi
gọi Niết Bàn này là một sự trói buộc mới, không phải
là giải thoát tự tại. Nhưng chính vì Niết Bàn là giải
thoát tự tại nên một vị Alahán hoàn toàn tự do trong việc
hiện thân vào sinh tử để giáo hóa chúng sinh. Nào giờ chúng
ta chỉ hiểu trên ngôn từ, nghe nói vị Alahán nhập vô dư
y Niết Bàn không thọ thân đời sau, liền cho rằng Alahán
là tiêu cực, là cây khô mộng lép, không lợi ích cho Phật
pháp và chúng sinh. Chúng ta không ngờ rằng đằng sau phong
thái ung dung trầm mặc đó lại là sự hoạt dụng tích cực
vô biên. Cái hoạt dụng tích cực của một vị Alahán, được
dấu kỹ trong phong cách điềm đạm hư vô đến nỗi trời
người không thể nhìn thấy. Khác với kẻ phàm phu tích cực
năng nổ hiện tướng bị mọi người biết liền.
Tại
sao chúng ta lại lạm bàn về Nhân Quả của Bồ tát đạo
nếu đó không phải là công việc của chúng ta?
Chính
vì hai lý do:
Một,
vì công hạnh Bồ tát đã bị kinh Đại thừa tiết lộ quá
nhiều. Chúng ta bàn về Nhân Quả Bồ tát đạo để tăng thêm
niềm tin đối với Phật pháp.
Hai,
biết được Nhân Quả Bồ tát đạo, chúng ta sẽ khéo xử
sự với mọi người để không trở ngại việc tự lợi của
mình và gây được sự thuận tiện cho việc giáo hóa về
sau.
1
– ĐỒNG SỰ NHIẾP
(trích
Bổn Sanh 1, tr 81)
Lúc
bấy giờ, các Tỳ kheo sau khi tắm tại hồ Nalakapàna, bảo
các Sa Di lấy những ống cây lau để làm ống kim, thấy các
cọng lau đều trống bộng hoàn toàn, đi đến Thế Tôn và
hỏi:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con cho lấy các cọng lau để làm ống kim.
Nhưng từ gốc cho đến ngọn các cọng lau ấy đều trống
bộng hoàn toàn. Vì sao lại như vậy?”
Bậc
Đạo sư nói:
“Này
các Tỳ kheo, đây là do đại nguyện xưa của ta vậy. Nói
xong, Bậc Đạo sư kể câu chuyện quá khứ.
Thuở
xưa, tại đây có một cái hồ trong khu rừng rậm. Trong hồ
ấy có một quỷ La sát nước ăn thịt những ai xuống nước.
Lúc bấy giờ Bồ tát sinh làm khỉ chúa, to lớn như một con
nai màu đỏ, đoanh vây với độ tám chục ngàn con khỉ, che
chở đoàn khỉ sống ở trong rừng. Bồ tát khuyên đàn khỉ.
–
Này các con thân, trong rừng này có những cây trái độc, có
những hồ nước mà phi nhân đang sống. Nếu các con muốn
ăn những loại trái chưa từng ăn và uống những chỗ nước
chưa từng uống, hãy hỏi ta đã!
Đàn
khỉ vâng lời. Một hôm đàn khỉ tìm đến một hồ nước
lạ, chúng ngồi ở trên chờ Bồ tát đến, Bồ tát đến
hỏi:
–
Tại sao các con không uống nước?
–
Chúng con chờ ngài đến!
–
Tốt lắm!
Bồ
tát đi vòng bờ hồ, thấy có dấu chân đi xuống mà không
có dấu chân đi lên, biết rằng không còn nghi ngờ gì nữa,
hồ này có phi nhân ẩn trú.
–
Này các con, các con đã làm một việc rất tốt là không uống
nước, vì hồ này có phi nhân ẩn trú.
Con
quỷ la sát biết được đàn khỉ không xuống uống nước
liền hiện ra hình thù ghê tởm với bụng xanh, mặt trắng
vàng, tay chân màu đỏ, rẻ nước nổi lên hỏi:
–
Sao các ngươi không uống nước?
Bồ
tát hỏi:
–
Có phải ngươi là la sát sinh ra ở trong nước không?
–
Phải.
–
Có phải ngươi bắt những ai xuống uống nước chăng?
–
Phải. Ta bắt cho đến từ con chim nhỏ xuống uống nước
ở đây. Ta sẽ không tha một ai! Ta sẽ ăn thịt tất cả bọn
ngươi.
–
Chúng ta sẽ không để ngươi ăn thịt.
–
Nhưng hãy uống nước đi!
–
Được, chúng ta sẽ uống nước, không cần phải đi xuống
mà bằng những cọng lau. Ngươi sẽ không làm gì được.
Thấy
dấu chân đi xuống
không
thấy dấu đi lên
Uống
nước với cọng lau
ngươi
không giết ta được.
Nói
vậy xong, Bồ tát đem lại một cọng lau, hồi tưởng lại
những hạnh Ba la mật, phát lời chân ngôn, lấy miệng thổi
cọng lau, cọng lau trở thành trống không hoàn toàn, không
một khúc mắc nào còn tồn tại ở trong. Nhưng Bồ tát không
thể làm như thế cho từng cọng lau để đủ cho cả đoàn
khỉ tám chục ngàn con. Bồ tát đi vòng quanh hồ và ra lệnh.
“Tất
cả cọng lau đều trống bộng hết!”
Do
lợi hành rộng lớn từ trước của các vị Bồ tát, mệnh
lệnh được thành tựu. Từ đấy trở đi, tất cả cọng
lau ở xung quanh bờ hồ đều trở thành rỗng suốt hết.
Trong
kiếp này, có bốn thần thông được tồn tại lâu dài.
Một,
tướng con thỏ trong mặt trăng sẽ tồn tại trong suốt kiếp
này.
Hai,
địa điểm mà lửa được dập tắt (Bổn sanh Vattaka) sẽ
không bị lửa chạm đến trong suốt kiếp.
Ba,
tại chỗ ngôi nhà của người làm đồ gốm Ghatiraka không
bao giờ bị mưa rơi xuống trong suốt kiếp này. (xem Trung Bộ
kinh 2, tr 344)
Bốn,
các cây lau mọc quanh bờ hồ này sẽ rỗng trọn kiếp này.
Rồi
Bồ Tát và đàn khỉ đều lấy cọng lau thòng xuống hồ hút
nước và ngồi yên ổn ở trên, con quỷ la sát buồn rầu
biến mất.
Bậc
Đạo sư nói rằng:
“Này
các Tỳ Kheo, những cây lau hoàn toàn rỗng suốt chính do lời
phát nguyện của ta thuở trước.”
Khi
ấy con quỷ la sát chính là Devadatta, tám muơi ngàn con khỉ
chính là hội chúng của Đức Phật. Còn con khỉ chúa khéo
dùng phương tiện chính là Thế Tôn.
NHẬN
XÉT:
Bồ
Tát, tiền thân Phật Thích Ca, đã hiện thân vào loài khỉ
để che chở hướng dẫn cho đàn khỉ và kết duyên giáo hóa
lâu dài về sau. Thật là khó khăn cho việc gần gũi giáo hóa
nếu không có sự tương đồng lớn lao nào đó. Một công
hạnh nổi bật của Bồ Tát là thị hiện đồng sự tương
ứng với chúng sinh, chúng sinh có những hình dáng, tập quán,
tâm tình, sở thích... ra sao, đều được bồ tát hòa đồng
theo để gần gũi giáo hóa.
Chúng
ta có thể bắt chước Bồ Tát để hòa đồng gần gũi giáo
hóa chúng sinh, nhưng chúng ta dễ ô nhiễm theo họ và đánh
mất lợi ích của đôi bên. Bồ Tát tuy đồng sự tướng
với chúng sinh nhưng vẫn biểu hiện được sự thanh khiết,
độ lượng, cao cả và phong cách độc lập của mình.
Người
Hồi Giáo tin theo tiên tri Mahomet chỉ độc tôn Thượng đế
Allah. Ngoài ra họ còn bài xích tất cả và sẵn sàng treo cổ
những ai chống lại họ. Họ cũng có những giáo điều đơn
giản về Đạo Đức như bố thí, không trộm cắp, không ngoại
tình v.v... Ảnh hưởng của họ rất lớn, chiếm cả vùng
trung Đông đến miền nam Châu Aâu và lan dần về Châu Á,
được gây dựng bởi niềm tin cuồng nhiệt và lưỡi gươm
sắt bén. Bỗng nhiên giữa họ một số tín đồ mặc áo vải,
nhóm Soufi, cũng nhận mình tôn thờ Thượng đế Allah, nhưng
lại chủ trương phải trừ diệt ái dục, từ bỏ ngã chấp,
lắng tâm thanh tịnh. Họ dùng danh hiệu Allah để nhiếp tâm
một chỗ. Họ đã bổ túc giáo lý của hồi giáo đến gần
với đạo Phật.
Nhà
hiền triết Socrate có thể nhập định trong tư thế đứng
bất động một ngày một đêm. Aûnh hưởng của ông trong
nền triết học Tây phương còn kéo dài đến hôm nay và để
lại trong lòng người niềm kính thương sâu đậm. Ông có
một trí tuệ phi thường, một tâm hồn độ lượng nhẫn
nhục, một đời sống thánh thiện và một phong cách tự tại
trước cái chết oan ức đến với ông.
Chúng
ta hay mắc cái tật công kích tôn giáo khác. Không khéo chúng
ta công kích luôn những bồ tát hiện thân đồng sự trong
tôn giáo đó.
Mục
đích của công hạnh đồng sự là để kết duyên giáo hóa
chúng sinh, nhưng không có cái gì đúng tuyệt đối. Có những
trường hợp một vị xuất gia cách biệt hẳn với thế gian,
không ngồi chung bàn rượu với người thế tục, không mặc
đồng chiếc áo, không nghỉ chung một giường không để chung
mái tóc, sống khắc khổ đạm bạc, nhưng hình ảnh này lại
khiến chúng sinh vâng phục kính tin hơn cả. Bồ tát biết
rõ khi nào phải đồng sự, và khi nào phải cách biệt. Có
những người cư sĩ hiểu không hết công hạnh đồng sự
của Bồ tát rồi chê bai người xuất gia là thiên kiến, một
chiều gò bó... Những kẻ này chưa đủ trí tuệ của Bồ
tát.
Phẩm
Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, diễn tả công hạnh của Bồ tát
Quán Thế Âm thị hiện vô số ứng thân để đến với chúng
sinh tùy theo chúng sinh đó đáng được dùng loại ứng thân
nào. Hoặc thân cận gần gũi như hình ảnh cư sĩ, trưởng
giả, đồng nam, đồng nữ hoặc độc lập siêu thoát như
hình ảnh Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thanh văn, Bích chi, Phật đà...
Đồng
sự để giáo hóa, mà không đồng sự cũng để giáo
hóa. Đừng chấp một chiều!
Chúng
sinh chỉ vâng lời chỉ dạy của người nào mà họ cảm thấy
kính và thương. Bồ tát đã khơi dậy niềm thương kính của
chúng sinh đối với mình bằng hạnh đồng sự và ban phát
ân nghĩa. Bồ tát Thiện Tuệ (tiền thân Phật Thích Ca) thị
hiện vào loài khỉ và làm con khỉ chúa to lớn với trí tuệ
và quyền năng phi thường. Để đồng sự với tám chục ngàn
con khỉ và che chở hướng dẫn cho đàn khỉ đó, Bồ tát
đã ban phát ân nghĩa bằng mọi khả năng và trí tuệ của
mình đem lại sự an vui cho đàn khỉ. Vô số đời sau gặp
lại nhau ở thân người, họ sẽ dễ dàng nghe theo sự dạy
bảo của Bồ tát.
Tứ
nhiếp pháp trong đạo Phật gồm có: Bố thí, Ái ngữ, Lợi
hành, Đồng sự.
Trong
đó bố thí và lợi hành thuộc về ban phát ân nghĩa, ái ngữ
và đồng sự thuộc về gần gũi thương yêu. Đầy đủ đồng
sự và ân nghĩa, chúng sinh sẽ dành nhiều kính thương với
Bồ tát.
Thần
lực của một vị Bồ tát còn tùy thuộc vào công đức quá
khứ, mặc dù Bản thể giải thoát đã bình đẳng suốt từ
Alahán đến chư Phật. Bản thể giải thoát thì bình đẳng
nhưng trí tuệ thần lực lại lệ thuộc về công đức. Cùng
là Alahán nhưng tôn giả Mục kiền liên thì thần thông đệ
nhất; tôn giả Xá lợi Phất thì trí tuệ đệ nhất. Muốn
dùng thần lực để làm rỗng suốt cọng lau, Bồ tát đã
hồi tưởng lại những hạnh Ba la mật quá khứ, sử dụng
công đức đó để thành tựu một phép lạ cho hiện tại
là làm thông suốt cọng lau. Nhưng chưa đủ, Bồ tát đi quanh
bờ hồ và ra lệnh tất cả cọng lau đều trở thành rỗng
suốt, lập tức các cọng lau đều trở thành rỗng suốt như
mệnh lệnh của Bồ tát. Và thần lực đó đủ để tồn
tại suốt kiếp này (một kiếp là một chu kỳ thành hoại
của địa cầu).
Chuyện
này tương tự với phép lạ mà vị Thánh da đen Martin de porres
ở Péru thực hiện. Thánh là thầy dòng thuộc dòng tu
Đa Minh. Suốt đời Thánh đã đem lại an vui lợi ích cho vô
số người và vật. Những phép lạ của Thánh thì tương đương
với phép lạ của Chúa Jésus và đức hạnh của Thánh thì
chu toàn tuyệt diệu. Năm 1634, nước sông Lima bị mưa lũ trên
nguồn đang dâng lên nhanh chóng, có thể cuốn trôi thành phố
Lima bên cạnh. Dân chúng lo ngại cho tương lai đen tối! Thánh
Martin cũng có mặt tại nơi để chứng kiến. Thánh chạy ra
bờ sông lấy ba hòn đá ném vào chỗ xoáy nước mạnh
nhất rồi quỳ xuống cầu nguyện trước mặt mọi người.
Khi Thánh vừa cầu nguyện xong thì nước sông đã rút xuống
trở lại bình thường. Đứng trước hiện tượng phi thường
vừa xảy ra, toàn dân sung sướng hoan hô Thánh đã cứu họ
khỏi sự đe dọa này. Họ đề nghị cất một thánh đường
bên cạnh để kỷ niệm, nhưng thánh không đồng ý vì gần
đó đã có sẵn nhà thờ Đức Bà. Và Thánh còn tuyên bố
rằng vĩnh viễn sẽ không có nạn lụt tại vùng Lima nữa.
Đến hôm nay, sắp sang thế kỷ 21, mấy trăm năm trôi qua,
lời tuyên bố trên vẫn còn giá trị chân thật.
Với
lợi hành rộng lớn từ quá khứ kết nên công đức sâu xa,
thần lực của Bồ tát tồn tại rất lâu dài.
Sự
xuất hiện của Devadatta là điều làm chúng ta ngạc nhiên.
Devadatta là kẻ thù, là đối thủ gây trở ngại tai họa cho
Bồ tát với những hình tướng và hành vi ác độc. Đến
tận đời cuối cùng hiện thân làm Phật của Bồ tát, mà
Devadatta vẫn chưa chấm dứt sự thù địch với Ngài. Nhưng
chúng ta đặt vấn đề nếu Devadatta chỉ thuần là kẻ ác
độc trong nhiều kiếp, làm sao ông có thể đủ phước sinh
cùng với Phật trong hoàng tộc và được dung mạo khá đẹp
đẽ, cùng đời sống vương giả sung sướng như vậy? Công
đức đó từ đâu mà có?
Mặc
dầu kinh Pháp Hoa xuất hiện khoảng 700 năm sau khi Đức Phật
nhập diệt, nghĩa là thời tại thế nguyên thủy Đức Phật
không giảng kinh Pháp Hoa cũng như các kinh Đại thừa khác,
nhưng kinh Pháp Hoa tiết lộ rằng Devadatta là vị Bồ tát nghịch
hạnh, theo phá hoại Đức Phật Thích Ca để Ngài thành tựu
đại hùng đại lực và hạnh nhẫn nhục vô biên. Đúng là
chỉ có nghịch cảnh mới thử thách và giúp một người phát
khởi được ý chí dũng mãnh. Có thể như thế, rằng Devadatta
là vị Bồ tát chân thật, chịu tổn phước làm nghịch hạnh
trợ duyên cho công hạnh của Bồ tát Thiện Tuệ sớm được
viên mãn. Vì là Bồ tát nên Devadatta làm nghịch hạnh với
Bồ tát Thiện Tuệ, nhưng làm lợi ích chúng sinh ở những
chỗ khác để tạo cho mình một hồ nước phước vĩ đại
nhằm hóa giải nắm muối tội kia. Thế nên ông đủ phước
bám theo Đức Phật từ đời này sang đời khác.
Trở
lại vấn đề đồng sự, Bồ tát thị hiện đồng sự tướng
với chúng sinh và khơi dậy được nơi chúng sinh niềm thương
kính đối với mình. Sau khi được chúng sinh thương kính hoặc
hiện đời hay đời sau, Bồ Tát mới đem chánh pháp giáo hóa.
Nếu chúng sinh chưa đủ niềm thương kính mà chúng ta đã
vội đem chánh pháp ra giáo hóa, họ sẽ phỉ báng chúng ta
lẫn chánh pháp. Điều này khiến cho họ bị bất hạnh nhiều
hơn. Phải đợi niềm thương kính của họ thuần thục Bồ
Tát mới dạy họ những giáo lý mầu nhiệm khác.
Có
thể trong những trường hợp nào đó, chúng ta phải đồng
sự với mọi người, nhưng làm sao đưa họ đến niềm thương
kính chứ không đưa họ đến sự khinh thường. Nếu việc
đồng sự của chúng ta không gây được niềm kính thương
của mọi người, trái lại, đã đưa đến sự coi thường,
tốt hơn chúng ta nên cách biệt để quay lại lo tu cho chính
mình đợi đến khi chúng ta đủ trí tuệ và uy đức hãy thực
hành đồng sự.
2
– TẠO CƠ HỘI CHO CHÚNG SINH TÁC PHƯỚC.
(Trích
Từ Bi Thủy Sám, tựa)
Thuở
xưa về triều Vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu
là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt. Ngài
thường gặp gỡ một nhà sư ở đất kinh sư trong một ngôi
chùa. Nhà sư ấy mắc bệnh cùi, ai cũng ghê tởm lánh xa, chỉ
có ngài Tri Huyền khởi lòng thương cảm đến chăm sóc hầu
hạ tận tình. Đến lúc nhà sư sắp ra đi mới dặn Tri Huyền
rằng:
–
Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu
đất Tây Thục tìm ta, và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng
làm dấu chỗ ta trú ngụ.
Sau
đó ngài Ngộ Đạt cũng dời đến chùa An Quốc thì Đạo
Đức của Ngài vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến Pháp Tịch
nghe Ngài giảng đạo và phong làm quốc sư. Vua dâng cúng Ngài
cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương. Một hôm ngài ngồi một
mình trên chiếc tọa ấy, tâm khởi niệm mãn nguyện hài lòng
trước sự thành đạt của mình, hốt nhiên Ngài nghe đau nhói
tột độ nơi đầu gối muốn xỉu. Khi xem lại thì đầu gối
xuất hiện một mụt ghẻ mặt người. Nỗi đau hoành hành
Ngài vô tận mà không một danh y nào chữa nổi. Ngài chợt
nhớ lời căn dặn năm xưa của vị sư nên sắm sửa đi về
Tây Thục.
Trên
đường đi trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói
tỏa mịt mờ Ngài nhìn xem bốn phía bỗng thấy dạng hai cây
tùng. Ngài mới tin rằng lời ước hẹn không sai. Ngài liền
đi ngay đến chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc
lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước
cửa, nhà sư đang đứng chờ đón Ngài một cách thân mật.
Ở
lại đêm, Ngài Ngộ Đạt mở tỏ hết tâm sự đau khổ của
mình. Nhà sư nói:
–
Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày
rửa, mụn ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ
sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn Ngài ra ngoài suối.
Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụt ghẻ kêu lên:
–
Đừng rửa vội! Ông học nhiều biết rộng, đã khảo cứu
các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Án, Triệu
Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
Kinh
ngạc vô cùng, Ngài đáp:
–
Tôi có đọc.
–
Ông đã đọc rồi có lẽ nào lại không biết chuyện Viên
Án giết Triệu Thố! Triệu Thố bị chém ở chợ phía đông
oan ức biết dường nào! Viên Án là ông. Triệu Thố là tôi.
Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp
ông làm bậc cao Tăng, giới luật tinh nghiêm nên tôi chưa tiện
bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng
nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù
ông được. Nay nhờ tôn giả Ca Nhã Ca lấy nước pháp tam
muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn
báo oán ông nữa.
Ngài
Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội
rửa. Nước vừa chạm vào thì cơn đau xảy ra kịch liệt
Ngài bất tỉnh hồi lâu. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn
ghẻ ấy nữa. Ngài mới biết thánh hiền ẩn dấu Bồ Tát
thị hiện, kẻ phàm phu không thể lường được. Ngài muốn
trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó lại thì điện các uy
nghi đã biến mất tự bao giờ. Ngài bèn lập một cái thảo
am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm
Chí Đạo đời Nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền
Tự” có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này
rõ ràng.
NHẬN
XÉT:
Chẳng
biết có ai đọc truyện Tây Hán ra sao còn tôi không có đọc
được cốt truyện ấy nên không rõ hết sự tình, chỉ theo
chỗ dẫn trên để hiểu rằng Viên Án đã âm mưu giết Triệu
Thố một cách rất oan ức. Lẽ ra Ngài Ngộ Đạt sẽ đền
trả tội nghiệp này một cách đau đớn ở địa ngục, ngạ
quỷ hoặc súc sinh. Nếu Ngài không có công đức lớn lao trong
Phật Pháp. Ở đây ta thấy công lao tu hành chân chính của
một người đã hóa giải khá nhiều trọng tội của họ.
Sau đời giết oan Triệu Thố, Viên Án liên tiếp mười đời
làm cao tăng trì giới nghiêm chỉnh. Không thể có sự kiện
này nếu nhiều đời trước nữa Viên Án không từng kết
duyên tu tập sâu dày trong Phật Pháp. Công đức trước và
sau sự kiện Triệu Thố, Viên Án đã cảm ứng được sự
cứu độ của Bồ Tát. Vị Bồ Tát xuất hiện ở đây chính
miệng mụn ghẻ cho biết là tôn giả Ca Nhã Ca. Tôn giả Ca
Nhã Ca là ai, chúng ta cũng không biết rõ ràng, chỉ chiêm ngưỡng
phương tiện thiện xảo của tôn giả nơi câu chuyện này.
Và tại sao Triệu Thố biết được điều này, lại nói rằng
tôn giả đã giải oan cho ông rồi? Sự liên hệ riêng giữa
tôn giả Ca Nhã Ca và Triệu Thố còn nằm trong bí mật. Chỉ
có sự liên hệ giữa tôn giả Ca Nhã Ca và Ngài Ngộ Đạt
được biểu hiện cụ thể nơi đây.
Thuở
còn là sai di, Ngài Ngộ Đạt nổi tiếng thần đồng, đã
từng đăng đàn thuyết pháp cho tăng chúng tỳ kheo. Ngài được
Lý Thương Ẩn đề thơ khen tặng.
Sa
Di mười bốn giỏi giảng kinh
Tuổi
nhỏ như ông chỉ cầm bình
Sa
Di thuyết pháp Sa Môn thính
Chẳng
bởi tuổi cao, trọng tánh linh
(Thập
Tứ Sa Di năng giảng kinh
Tợ
sư niên kỷ chỉ huề bình
Sa
Di thuyết pháp Sa Môn thính
Bất
tại niên cao tại tánh linh)
Nhưng
chẳng những Ngài thông minh trí tuệ thôi mà đức hạnh cũng
rất chu toàn đặc biệt. Nhà sư bịnh cùi bị mọi người
ghê tởm xa lánh, thế mà Ngài lại ân cần chăm sóc trị liệu
chu đáo. Không ngờ Ngài đã tác thành phước duyên to lớn
là hầu hạ một bậc Bồ Tát siêu phàm. Chính tôn giả cố
ý thị hiện bệnh nặng để tạo cơ hội cho Ngộ Đạt làm
phước. Và rồi chính phước nghiệp đó sẽ hóa giải oan
ức về sau mà tôn giả biết trước Ngộ Đạt không thể
nào vượt qua nổi. Tôn giả là người chứng ngộ, thấu suốt
đường đi phức tạp của Nhân Quả Nghiệp báo nên không
dùng thần thông phép lạ để chận đứng Nghiệp báo của
Ngộ Đạt. Tôn giả chỉ dùng thần thông tạo cơ hội cho
Ngộ Đạt tác phước và có lẽ trong cõi giới khác đã khuyên
bảo Triệu Thố khá nhiều.
Bồ
Tát làm lợi ích cho chúng sinh không chỉ bằng cách đem tài
vật bố thí cho họ, mà phải biết tạo điều kiện cho họ
tác phước, sự thọ nhận tài vật giúp họ qua cơn thiếu
thốn nhất thời nhưng lại tiếp tục tổn phước về sau.
Còn sự chịu khó tạo phước mới đem lại cho họ an vui lâu
dài. Những khi Bồ tát ra đời làm vua, quan, hướng dẫn sư...
đều dùng uy lực của mình khuyên bảo nhân dân tu hành thập
thiện, khuyên họ vui vẻ cùng nhau đắp đường, sửa đê,
đào kinh, cất trường học, mở bệnh viện, trồng rừng...
Những công trình phúc lợi công cộng là cơ hội để nhiều
người tạo phước. Nó khác với những công trình bắt dân
xu dịch khổ sở để kiến tạo điện đài cho tập đoàn
thống trị phong kiến. Nếu chúng ta có tâm từ ái với chúng
sinh nào, hãy khéo léo tạo điều kiện cho chính họ tác phước.
Điều kiện đó là những lời khuyên bảo ân cần, là ý kiến
chỉ vẻ phương pháp, là phương tiện tài vật cụ thể. Ví
như ta khuyên họ hãy đắp lại đoạn đường trong làng, ta
sẽ bảo họ cố gắng lên, chỉ họ cách thức tu sửa đường
sá, cấp cho họ thức ăn và dụng cụ. Làm được điều này,
họ sẽ bớt khổ về sau.
Chúng
ta cũng thấy công đức trì giới tinh nghiêm có năng lực chận
đứng nghiệp lực quá khứ. Mười đời làm cao tăng khiến
cho oan hồn Triệu Thố không có cơ hội đột nhập phá tán
Viên Án. Nếu chúng ta phát tâm tu hành chân chính, trì giới
cẩn trọng, Thiền Định chuyên cần thì những nghiệp lực
cũ bị chận lại. Nhờ vậy chúng ta được yên ổn thuận
tiện tiến tu đạo nghiệp cho đến viên mãn. Tới khi đạo
nghiệp viên thành, quả báo cũ xuất hiện, chúng ta không cảm
thấy đau khổ.
Chỉ
vì niệm tự mãn bất ngờ khởi lên không kiểm soát được,
uy đức bị khiếm khuyết, ác nghiệp xưa mới có cơ hội
làm thành mụt ghẻ mặt người gây ra đau đớn. Vì vậy,
người phát tâm tu hành cần phải giữ gìn chánh niệm trong
từng phút giây miên mật, kiểm soát đừng để ác niệm,
tà niệm xen vào làm tổn thương uy đức. Nhưng ngài Ngộ Đạt
có công đức quá khứ giữ gìn nên oan hồn Triệu Thố không
xâm nhập vào trong tư tưởng để gây thành đồng cốt điên
loạn, chỉ biểu lộ nơi cơ thể, dưới đầu gối làm thành
mụn ghẻ đau đớn mà thôi! Có những người thiếu công đức
quá khứ, chê bai thánh hiền, đã từng dùng bùa chú hại người,
đời này những oan trái xưa trổ quả, thường báo ứng vào
tư tưởng để sai sử làm thác loạn mê mờ.
Tôn
giả Ca Nhã Ca thấy trước cái lúc vinh quang trong đời Ngộ
Đạt và biết cơ hội cho nghiệp cũ sẽ đến nên đã ân
cần dặn dò mọi điều. Khi nạn xảy ra, Ngộ Đạt tìm đến
nơi hẹn ước thì trông thấy cảnh chùa viện nguy nga, lầu
vàng điện ngọc, ánh sáng chói lọi giao xen rực rỡ. Sáng
hôm sau khi bệnh được chữa xong, thì tất cả biến mất,
chỉ còn lại núi rừng tĩnh mịch hoang vu như thuở nào.
Do
công đức vĩ đại từ nhiều kiếp, một vị Bồ tát
được tùy nguyện tạo thành những Tịnh độ theo ý muốn
để giáo hóa chúng sinh. Tôn giả Ca Nhã Ca đã thị hiện một
chút Tịnh độ của mình qua một đêm làm chỗ trú ngụ cho
Ngộ Đạt và cũng để an ủi gây thêm niềm tin sức mạnh
cho Ngài. Khi công việc đã xong, Tôn giả thâu hồi thần lực,
trả lại núi rừng cảnh cũ người xưa. Tịnh độ không phải
là cứu cánh của chư Phật. Nó chỉ là huyễn cảnh được
dựng nên tạm thời để giáo hóa chúng sinh. Cứu cánh mà
chư Phật, chư Bồ tát nhắm đến là làm sao cho chúng sinh
thành tựu giới định huệ giải thoát. Còn tịnh độ chỉ
là việc bên ngoài không chân thật. Nếu chúng sinh ngay nơi
tự tâm được thanh tịnh giải thoát thì Tịnh độ là thừa.
3
– NHẪN NHỤC
(Truyện
về vị Tiên nhân và Ca lợi Vương, chúng tôi đã có dịp
đề cập trong tạp bút Cuối Hàng Dương. Ở đây xin phép
được lập lại.)
Thuở
xưa có một vị Tiên nhân tu tập Thiền Định trong rừng vắng.
Một hôm vua Ca lợi (Kali) dẫn cung phi đi vào rừng dạo chơi.
Đoàn người đông đảo chia nhau tản mác khắp nơi. Có một
số cung nữ vào sâu gặp vị Tiên nhân đang tọa thiền trên
bệ đá dưới hàng cây. Họ sinh lòng cung kính liền đem hoa
quả dâng cúng và ngồi quanh thưa hỏi. Vị Tiên nhân vì họ
thuyết pháp. Chợt vua Ca Lợi xuất hiện trông thấy cảnh
tượng một gã đàn ông ngồi giữa đám cung phi xinh đẹp
của mình, bất giác sinh lòng tức giận, đến hỏi:
–
Ngươi ở trong rừng này làm gì?
Vị
Tiên nhân thưa:
–
Thưa, tôi tu hạnh nhẫn nhục.
–
Ngươi đã nhẫn nhục được chưa?
–
Đã nhẫn nhục được.
Vua
liền lấy gươm cắt đứt cánh tay của vị Tiên rồi hỏi:
–
Ngươi nhẫn nhục được chăng?
–
Tôi nhẫn nhục được.
Vua
lại lấy gươm chặt đứt cánh tay còn lại và hỏi:
–
Ngươi nhẫn nhục được chăng?
–
Tôi nhẫn nhục được.
Đến
đây vua Ca Lợi kinh hoảng trước thái độ hiền lành bất
động của Tiên nhân, quăng gươm xuống cầu xin sám hối.
Tiên nhân bảo:
–
Đại vương, tôi không hề oán hận đại vương, vẫn thương
yêu đại vương như tôi vẫn thương yêu tất cả chúng sinh
khác. Tôi nguyện đến khi thành Phật, sẽ độ đại vương
trước hết.
Vua
Ca Lợi chính là tiền thân của tôn giả Kiều Trần Như, vị
đệ tử đầu tiên chứng Alahán của Đức Phật.
NHẬN
XÉT:
Nhẫn
nhục là một trong những công hạnh nổi bật của Bồ tát.
Dĩ nhiên sự nhẫn nhục của Bồ tát khác người phàm phu
với những đè nén ức chế. Bồ tát nhẫn nhục bằng định
lực sâu xa của mình. Không một sự sân hận nào có thể
khởi lên trong tâm thể thênh thang của Bồ tát.
Từ
nhiều kiếp si mê chưa thông đạt chánh pháp, Bồ tát vẫn
đã từng gây oan trái với chúng sinh. Rồi đến khi đạt đạo
giải thoát, nếu Bồ tát an trụ Niết Bàn thì oan trái ngày
xưa không ảnh hưởng tới được. Nhưng vì đại bi tâm thúc
đẩy, Bồ tát (tức là vị Alahán đủ tam minh) không bao giờ
rời bỏ chúng sinh. Trong Niết Bàn tịch tĩnh, Bồ tát biết
rõ tình trạng của chúng sinh, của thế gian, của Phật pháp.
Khi thấy cần phải trở lại giáo hóa, Bồ tát lập tức thọ
thân sinh tử vào nơi thích hợp. Một khi đã thọ thân sinh
tử thì oan trái xưa phải gặp lại. Bồ tát sẽ nhẫn nhục
để trả xong những tiền khiên túc trái và luôn tiện kết
duyên giáo hóa cho kẻ thù. Thù hận cũng không cố định.
Chưa trả được hận thù thì chúng sinh tức giận căm hờn.
Khi trả xong rồi thì có khi khởi lòng thương hại. Vua Ca Lợi
cũng vậy, chưa trả được mối thù trước thì hậm hực
dữ dằn, sau khi trả thù xong thì hối hận sợ hãi. Thái độ
nhẫn nhục hiền lành của Bồ tát Tiên nhân làm tăng nỗi
hối hận của vua thêm bội phần. Nỗi hối hận đó giúp
cho Bồ tát dễ dàng kết duyên giáo hóa về sau. Có lẽ những
đời kiếp tiếp theo, vua Ca Lợi đã được Bồ tát nhiếp
hóa mãi để rồi vua trở thành tôn giả Kiều Trần Như, vị
đệ tử chứng ngộ đầu tiên của Đức Phật, như lời Phật
đã hứa.
Nhưng
sức nhẫn nhục của Bồ tát không phải chỉ dùng để trả
nghiệp xưa mà còn để hóa độ chúng sinh. Bồ tát muốn đem
từ bi bủa khắp chúng sinh thì cần phải có sức nhẫn nhục
vô biên vì chúng sinh vốn cang cường khó bảo. Dù có giúp
họ một trăm lần, chỉ cần một lần trái ý họ là họ
liền quên hết ơn xưa và tỏ thái độ thù oán. Thiếu kiên
nhẫn Bồ tát không thể viên mãn sự nghiệp độ sinh.
Chư
Tổ đã biểu tượng ý nghĩa này khi vẽ hình tượng bồ tát
Quan Âm dùng cành dương mềm mại (tượng trưng hạnh nhẫn
nhục) để rưới nước cam lồ (tượng trưng hạnh từ bi).
Phải có nhẫn nhục mới tỏ được từ bi.
Kết
duyên giáo hóa chúng sinh không phải là chuyện trong một đời
hai đời. Bồ tát phải kiên nhẫn đi theo họ mãi từ đời
kiếp này sang đời kiếp khác. Họ đọa làm thân thú thì
Bồ tát thọ thân thú; họ sinh làm người thì Bồ tát thọ
thân người; họ sinh cõi trời thì Bồ tát hiện thân thiên
chủ. Nhưng trong mỗi thân đến với họ, Bồ tát luôn luôn
ở một địa vị cao quý khiến họ phải kính phục vâng lời
(dĩ nhiên không phải luôn luôn như vậy). Sức kiên nhẫn của
Bồ tát đi theo chúng sinh để giáo hóa thật là không bờ
không bến.
4
– TỰ TRANG NGHIÊM BẰNG CÔNG ĐỨC
(Trích
phẩm Phổ Hiền, kinh Hoa Nghiêm)
“...
Nếu ai muốn thành tựu công đức vô tận như thế cần phải
tu theo mười hạnh nguyện rộng lớn sau đây:
Một
là lễ kính Chư Phật
Hai
là xưng tán Như Lai
Ba
là quảng tu cúng dường
Bốn
là sám hối nghiệp chướng
Năm
là tùy hỷ công đức
Sáu
là thỉnh chuyển Pháp luân
Bảy
là thỉnh Phật trụ thế
Tám
là thường tùy Phật học
Chín
là hằng thuận chúng sinh
Mười
là phổ giai hồi hướng
NHẬN
XÉT:
Bồ
tát là những bậc thấu rõ đường đi của Nhân Quả Nghiệp
báo hơn ai hết. Các Ngài biết gây tạo vô lượng thiện nghiệp
để tập hội được công đức vĩ đại cho tự thân. Khác
với chúng sinh phàm phu chỉ đi tìm hạnh phúc cho hạnh phúc
của riêng mình, Bồ tát tích lũy công đức để đủ uy lực
giáo hóa chúng sinh. Không còn ngã chấp vị kỷ, mọi công
hạnh của Bồ tát đều hướng về sự nghiệp lợi ích chúng
sinh.
Phẩm
Phổ Hiền đưa ra mười phương pháp tiêu chuẩn để một
Bồ tát thực hành hầu tích lũy vô lượng công đức.
Thứ
nhất, lễ kính Chư Phật. Trong Nhân Quả xuất thế gian chúng
ta đã xem công đức lễ kính bậc Giác Ngộ là cái mầm đầu
tiên giúp một người đi dần đến với sự giác ngộ của
chính mình. Nhưng trong Nhân Quả Bồ tát đạo, Bồ tát lễ
kính Chư Phật để thành tựu quả báo KHẢ KÍNH cho mình.
Khi thành tựu sự khả kính này, Bồ tát xuất hiện giữa
thế gian rực rỡ như ánh mặt trời sáng chói, khiến chúng
sinh trông thấy đều sinh tâm kính ngưỡng thiết tha. Và khi
tâm kính ngưỡng đã phát khởi rồi, họ sẽ dễ dàng tiếp
nhận sự dạy bảo của Bồ tát. Thế nên muốn nhiếp hóa
chúng sinh, Bồ tát phải thành tựu sự khả kính bằng công
đức lễ kính chư Phật.
Thứ
hai, xưng tán Như Lai
....
“Như biển cả âm vang dào dạt sóng
rất
nhiệm mầu con khởi những ngôn từ
tự
nghìn xưa và mãi đến nghìn sau
ngợi
ca Phật, biển muôn trùng công đức”....
Cũng
như hạnh lễ kính đã đưa đến niềm quý kính của chúng
sinh, hạnh xưng tán Như Lai khiến cho Bồ tát thị hiện ở
đời không bị chúng sinh chê bai biếm nhẽ. Không gì nguy hiểm
cho họ hơn sự chê bai nhằm một vị Bồ tát, và cũng không
gì lợi lạc cho họ hơn sự khen ngợi đúng bậc siêu phàm.
Để tránh cho chúng sinh tội lỗi hủy báng Thánh hiền và
cũng để gợi cho chúng sinh công đức tán dương bậc thánh,
Bồ tát phải thành tựu cho mình quả báo “đáng được khen
ngợi”. Bồ tát thành tựu công đức như thế sẽ dễ dàng
giáo hóa chúng sinh mà ít bị công kích tỵ hiềm.
Thứ
ba, Quảng tu cúng dường. Muốn gieo duyên lành với chúng sinh,
Bồ tát thường dùng hạnh bố thí tài vật. Chúng sinh luôn
luôn trở nên nhu thuận vâng phục với một người đã ban
ân cho họ mà bố thí tài vật là hình thức ban ân cụ thể
nhất. Thế nên Bồ tát phải thành tựu tài sản lớn lao mới
có thể thực hiện công hạnh rộng rãi này. Để thành tựu
tài sản đó, Bồ tát đã phải cúng dường lên Chư Phật
một cách trọn vẹn, chân thành và vĩ đại. Tuy nhiên, phẩm
Phổ Hiền đã thăng hoa ý nghĩa cúng dường trở nên cao cả
hơn như sau:
“Thiện
nam tử! Trong các cách cúng dường thì Pháp cúng dường là
tuyệt vời hơn cả. Đó là: Tu hành theo lời Phật dạy để
cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chấp
nhận giữ gìn chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thay cho
chúng sinh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để
cúng dường, không bỏ hạnh Bồ tát để cúng dường, chẳng
rời tâm Bồ đề để cúng dường.”
Thứ
tư, Sám hối nghiệp chướng.
Thật
ra công đức của một vị Đại Bồ Tát như biển lớn mà
nghiệp chướng từ lâu chỉ như nắm muối nhỏ. Nêu ra hạnh
sám hối này, Phẩm Phổ Hiền muốn làm gương cho chúng sinh
hơn là dành cho bậc giác ngộ. Có thể một vị Bồ tát có
những ác duyên với vài chúng sinh khác khiến cho sau này gặp
lại họ sẽ có thái độ chống đối. Nhưng sức nhẫn nhục
và lòng từ ái của Bồ tát sẽ dần dần cảm hóa tất cả.
Thứ
năm, Tùy hỷ công đức. Một vị Bồ tát thì vĩnh viễn không
còn đố kỵ với bất cứ ai nữa. Tâm tùy hỷ sẽ hiện hữu
tự nhiên không cần cố gắng. Quả báo của công đức tùy
hỷ này khiến cho Bồ tát ít bị tỵ hiềm ganh ghét, nghĩa
là bớt đi sự sa đọa cho chúng sinh.
Thứ
sáu, Thỉnh chuyển pháp luân.
Khi
đức Thế Tôn vừa thành Chánh Đẳng Giác, tâm Ngài hướng
về thụ động (kinh Nikaya) thì có trời Phạm Thiên hiện thân
thỉnh Ngài tuyên giảng Chánh Pháp cho tất cả chúng sinh. Đức
Phật chấp nhận lời thỉnh cầu này và bắt đầu sự nghiệp
giáo hóa vĩ đại của một đức Như Lai.
Công
đức của vị Phạm Thiên kia khó thể nói cho cùng tận.
Đôi
khi Bồ tát thị hiện ở những cương vị không thể trực
tiếp thuyết pháp cho chúng sinh, nhưng luôn luôn khéo thỉnh
pháp từ những pháp sư xứng đáng khiến cho mọi người được
nghe những giáo lý quý giá. Quả báo trở lại cho Bồ tát
là trí tuệ thêm vi diệu và được nhiều cơ hội giáo hóa
chúng sinh.
Thứ
bảy, Thỉnh Phật trụ thế.
Bồ
tát thỉnh Phật trụ thế lâu dài để cho chúng sinh được
nhiều lợi lạc và cũng để kết thành thọ mạng lâu dài
cho chính mình ở Phật quả mai sau.
Thứ
tám, Thường tùy Phật học.
Bản
thể giải thoát của một vị Alahán – Bồ tát thì không
khác với Phật, nhưng trí tuệ thần lực thì kém xa. Chính
vì trí tuệ chưa bằng Phật nên phương tiện giáo hóa chúng
sinh của Bồ tát không hoàn bị như Đức Phật. Ví dụ cùng
tốt nghiệp bằng bác sĩ y khoa, nhưng một số bác sĩ mới
ra trường và một bác sĩ lão thành vẫn có trình độ chữa
bệnh khác nhau mặc dù kiến thức cơ bản thì không khác.
Bồ tát cũng vậy, cần phải tham khảo nhiều nơi phương tiện
giáo hóa của Đức Phật. Chúng ta cũng dễ thấy điều này
xuyên qua lịch sử của Phật giáo.
Thứ
chín, Hằng thuận chúng sinh.
Hằng
thuận chúng sinh có nghĩa là phụng sự chúng sinh. Hạnh nguyện
này khiến chúng ta nhớ đến lời kinh cầu của thánh Francisco.
“Lạy
Chúa Từ Nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa
trong mọi người....”
và
phẩm Phổ Hiền giải thích:
...
“Đối với tất cả chúng sinh như thế ta đều dâng đến
mọi điều hầu hạ, mọi thứ cúng dường như ta đã kính
trọng cha mẹ ta, như ta đã tôn thờ sư trưởng ta, như ta
đã phụng sự các bậc Alahán, các Đấng Như Lai không hề
khác biệt.
Với
người bệnh khổ ta sẽ là lương y; với người lạc lối
ta sẽ chỉ đường về; với người trong đêm ta sẽ làm ánh
sáng; với người nghèo khó ta giúp được kho tàng...”
Hạnh
nguyện thứ chín này là hạnh nguyện cần thiết nhất để
Bồ tát có thể kết duyên giáo hóa tất cả chúng sinh và
thành tựu công đức cho chính mình.
Thứ
mười, Phổ giai hồi hướng.
Ngã
chấp đã tan biến, nơi Bản thể bình đẳng không còn phân
biệt, một là tất cả, tất cả là một, Bồ tát không còn
thấy những công đức như thế chỉ thuộc về riêng mình
mà thuộc về tất cả chúng sinh. Công hạnh Phổ giai hồi
hướng này tự nhiên thành tựu viên mãn.
Bồ
tát luôn luôn tích lũy công đức để trang nghiêm tự thân,
mà sự trang nghiêm tự thân này chỉ vì sự nghiệp cứu giúp
chúng sinh trong các cõi.
5
– NGHỊCH HẠNH
Trong
suốt những bài kinh Bổn sinh, Devadatta luôn luôn xuất hiện
như một chướng ngại quấy phá Bồ tát. Đến khi Bồ tát
ra đời thành tựu đạo quả vô thượng, Devadatta vẫn còn
đeo đuổi để gây trở ngại cho Ngài. Devadatta đã chia rẽ
lôi kéo tăng chúng về phe với mình, đã cấu kết với vua
Ajatasattu thả voi say toan dẫm đạp Đức Phật, đã xô đá
từ núi cao làm thân Phật chảy máu. Cuối cùng trong hiện
đời, Devadatta bị đọa vào địa ngục Avici (A tỳ).
Nhưng
kỳ lạ thay, về sau kinh Pháp Hoa đã ca ngợi Devadatta hết
lời và còn thọ ký cho Devadatta sẽ thành Phật hiệu Thiên
Vương Như Lai!
Cho
đến hôm nay thì ai ai cũng đã rõ rằng tất cả kinh Đại
thừa không phải do chính Đức Phật thuyết khi còn tại thế.
Có những vị Tổ vô danh nào đó đã âm thầm biên soạn và
đưa vào kinh tạng dần dần. Kinh Đại Bát Nhã (600 quyển)
xuất hiện sớm nhất vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt.
Đa phần các kinh còn lại xuất hiện vào thời ngài Long Thọ.
Các kinh Mật tông xuất hiện trễ nhất. Cũng có vài bản
kinh xuất hiện ở Trung Hoa mà trong tạng Sancrit không có như
Đại thừa Kim Cang kinh luận, Tam Thế Nhân Quả kinh...
Tuy
nhiên, không phải vì kinh Đại thừa không được chính Đức
Phật tuyên thuyết mà chúng ta phủ nhận giá trị của nó.
Kinh Đại thừa có một giá trị lớn trong nền văn học của
Phật giáo. Chúng ta sẽ bàn kỹ với nhau về ý nghĩa và vai
trò của kinh Đại thừa trong một chuyên đề khác sau này,
ta sẽ thấy rằng kinh Nguyên thủy là cội nguồn vững chắc
mà kinh Đại thừa là sự trình bày một cách hiểu về kinh
Nguyên thủy. Hoàn toàn không có hai Phật giáo riêng rẽ.
Ở
đây kinh Pháp Hoa đã nêu ra mật hạnh của Bồ tát Devadatta!
Đúng vậy, chỉ cần vài đời quấy phá Bồ Tát Thiện tuệ,
một kẻ phàm phu sẽ đọa vào ác đạo khó có ngày ra khỏi.
Nhưng Devadatta có những nguồn phước vô hạn nào đó khiến
ông đủ sức đeo đuổi Đức Phật từ đời này sang đời
khác và luôn luôn ở vào một vị trí tương đương với Phật.
Bồ tát sinh làm người thì ông cũng sinh làm người, Bồ tát
sinh làm thú thì ông cũng sinh làm thú, Bồ tát sinh vào địa
vị vua chúa thì ông cũng sinh vào địa vị vua chúa. Trong đời
sống cuối cùng Bồ tát sinh vào cung thành Kapilavathu với 32
tướng tốt, Devadatta cũng sinh vào đấy làm anh em chú bác
với Thái tử và cũng có một dung nghi đẹp đẽ vô cùng dù
không bằng Phật.
Devadatta
đã trợ duyên cho Đức Phật từ vô luợng kiếp, không phải
bằng sự cung kính thừa sự, sự tán dương tôn vinh, nhưng
bằng sự chống đối quấy rầy, sự mưu hại ác độc.
Một
Đức Phật vượt hơn một vị Alahán về phương diện hùng
lực và trí tuệ. Khi một vị Alahán đi vào sinh tử để hành
Bồ tát đạo, thì những sự chướng ngại chống đối là
điều kiện cần thiết để các Ngài tăng trưởng đại hùng
đại lực, và viên mãn công đức nhẫn nhục Ba la mật. Devadatta
đã can đảm chấp nhận tổn phước để gây chướng ngại
cho Bồ tát, giúp Bồ tát vượt lên trên phương diện hùng
lực này. Đến khi Đức Phật thành tựu Phật quả thì nghịch
hạnh của Devadatta có công năng làm tăng thêm giá trị cho
nhân cách siêu phàm của Phật.
Đối
với những vị Alahán còn phải tu tập, nếu thiếu những
trở ngại trên đường tu, họ sẽ tắt mất ý chí. Đây là
một qui luật khách quan. Chính vì muốn giúp cho một hành giả
tăng trưởng ý chí nên những bậc đại Bồ tát luôn luôn
tìm cách gây ra những trở ngại cho họ. Đối diện với những
trở ngại, hành giả được khơi dậy sức tinh tấn mạnh
mẽ hơn. Và Bồ tát cũng biết khi nào phải tạm dừng nghịch
hạnh để cho hành giả thuận tiện tiến nhanh trên đường
tu tập.
Muốn
thị hiện nghịch hạnh, Bồ tát phải đủ hai điều kiện:
Biết
khả năng chịu đựng của hành giả đến mức độ nào.
Chính
mình có nguồn phước vô hạn để hóa giải quả báo do nghịch
hạnh gây ra.
Dù
nghịch hạnh đó xuất phát từ một tâm đại bi, nhưng trên
hiện tướng nó vẫn có quả báo tương ứng. Bậc nghịch
hạnh Bồ tát có phước rất lớn. Có khi đang thị hiện nghịch
hạnh với người này, nhưng Bồ tát vẫn đang dùng thuận
hạnh với những chúng sinh khác để phước không bị vơi.
Có
những giai đoạn Phật giáo được xem là cực thịnh tại
các quốc gia như Trung Hoa, Việt Nam, Triều tiên, Nhật bản,
Miến điện, Campuchia... Khi Phật giáo được tôn trọng quá
sức thì bắt đầu xuất hiện tệ kiêu tăng! Sẽ có những
kẻ xuất gia không cầu giải thoát mà chỉ cầu lợi dưỡng
danh văn. Khi chí nguyện giải thoát vắng bóng thì tâm tham
dục không bị đoạn trừ. Khi tâm tham dục không bị đoạn
trừ thì những lỗi lầm về giới luật có mặt, dù lộ liễu
hay kín đáo. Lúc đó sẽ có những đại Bồ tát thị hiện
vào ngôi quốc vương, đại thần thẳng tay ra lệnh đàn áp
tiêu diệt Phật giáo. Chùa bị đập phá, tăng bị cởi y,
kinh sách bị đốt... Những kẻ ngụy tâm xuất gia sẽ lẹ
làng giả biệt Phật pháp. Đến khi nghịch hạnh tạm đủ,
vị vua liền hiện tướng bịnh hoạn rồi mất, để lại
trách nhiệm khôi phục cho những vị chân tu về sau.Bù đắp
cho một nghịch hạnh kinh khủng này, Bồ tát phải tích lũy
vô vàn công đức nơi khác.
Tuy
nhiên bạn đừng tưởng tương rằng mọi việc đập phá đều
là tác phẩm của Bồ tát. Bồ tát đập phá để xây dựng,
còn ma vương đập phá để hủy diệt. Nếu Bồ tát thị hiện
thuận hạnh thì mới dùng đến hình tướng Tỳ Kheo. Nếu
dùng nghịch hạnh ác độc ngang tàng thì Bồ tát không bao
giờ dùng đến hình tướng Tỳ Kheo. Nếu vị Tỳ Kheo nào
dùng nghịch hạnh phá hủy giới cấm thì hãy tự biết mình
chưa phải Bồ tát, mà đã được cấp bằng khen danh dự bởi
ma vương.
6
– CÁC VỊ BỒ TÁT TRONG KINH ĐẠI THỪA.
Lẽ
ra chúng tôi dành đề tài này cho luận bản Nguyên Thủy và
Đại Thừa. Nhưng ở đây đang bàn về Nhân Quả Bồ tát đạo,
nếu không nêu rõ vai trò của Đại Bồ tát quen thuộc như
Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền... thì không giải quyết được
các nghi vấn hiện nay. Chúng tôi theo lời dạy của thầy trụ
trì, thượng Thông hạ Lạc, đặt vấn đề này để hóa giải
những thiên kiến của những vị học giả Nguyên Thủy và
học giả Đại Thừa. Chúng tôi muốn nhấn mạnh từ ngữ
học giả để xác nhận rằng chỉ có những bậc hành giả
chứng ngộ mới hiểu đúng giáo lý của Đức Phật thời
Nguyên Thủy. Thiếu sự chứng ngộ viên mãn, người Nguyên
Thủy sẽ hiểu giáo lý theo ngoại đạo.
Những
vị học giả Nguyên Thủy cực lực phủ nhận các Đại Bồ
tát như Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi (Manjusri), Phổ Hiền,
Đại Thế Chí... vì các vị này không được đề cập tới
trong kinh tạng Nguyên Thủy. Còn những vị học giả Đại
thừa thì một bề công kích quả vị Alahán là tiêu nha bại
chủng, trầm không trệ tịch, và thụ động tiêu cực, không
thể đi đến Phật quả. Những thiên kiến của cả hai bên
như thế đều hết sức sai lầm và tai hại, đưa Phật giáo
thành hai mối riêng biệt khó thể hàn gắn lại được. Trước
hết chúng ta nói đến thiên kiến sai lầm của Đại Thừa.
Quả
vị Alahán được Đức Phật xác nhận là vô minh đã hết,
lậu hoặc đã sạch. Nếu người nào nghe như vậy liền hiểu
rằng hết vô minh chỉ là hết vô minh, không còn có gì nữa,
phải biết người như vậy chưa chứng ngộ đã đành mà còn
kém cỏi về lý luận triết học. Khi bóng đêm đã qua nghĩa
là ánh sáng đã trùm chiếu, khi vô minh đã hết có nghĩa là
trí tuệ đã viên mãn. Thế nên ở một số chứng Alahán khác,
Đức Phật gọi là “khởi lên thắng trí”, hoặc gọi là
“minh đã sanh”. Như vậy dù nói là hết vô minh, hay nói
là “đủ trí tuệ”, cũng chỉ là hai cách nói của một
vấn đề duy nhất như lưng và lòng của một bàn tay không
thể tách rời.
“Tâm
ta nay sáng chói
hơn
ngàn ánh mặt trời”
(Tiểu Bộ Kinh)
Ai
bảo rằng quả vị Alahán là trầm không trệ tịch kẻ đó
đã hiểu lầm quá đáng.
Tôn
giả Cullapanthaka vừa mới chứng Alahán xong liền lập tức
có thể hóa hiện thành một ngàn thân khác nhau đầy cả vườn
xoài. Diệu dụng vĩ đại như thế không thể xuất phát từ
một nội tâm trầm trệ được, mà phải xuất phát từ một
nội tâm chân không diệu hữu cùng cực phi thường. Các thiền
sư tự nhận ngộ được Phật tánh diệu hữu tối thượng
thừa, thật ra vẫn chưa đủ năng lực để thể hiện chỗ
diệu hữu siêu việt như các vị Alahán.
Lại
nữa, quả vị Alahán được Phật ấn chứng là vô ngã hoàn
toàn, trong khi các vị Đại Thừa đả kích Alahán tuy không
còn chấp ngã nhưng vẫn còn chấp pháp, chưa thành tựu Đại
bi tâm. Lời đả kích như thế chỉ xuất phát từ một tâm
hồn thiếu bao dung, chưa chứng ngộ và kém lý luận. Ngã và
pháp là hai sự kiện đối lập với nhau, cái này lập nên
các kia lập. Ngã đã hết thì pháp cũng không. Chỉ cần nói
hết chấp ngã tức là đã ngầm nói hết chấp pháp. Ai hiểu
rằng vô ngã chỉ là vô ngã mà pháp vẫn còn, kẻ đó cần
được chỉnh đốn lại kiến giải.
Vô
ngã cũng có nghĩa là không còn vị kỷ, mà không còn vị kỷ
tức là tâm vị tha đã tràn đầy. Chỉ cần nói không vị
kỷ, chúng ta phải hiểu là vị tha trọn vẹn, chỉ cần nói
vô ngã, chúng ta phải hiểu là đại bi vô biên. Như vậy nói
vô ngã hay nói đại bi cũng chỉ là hai cách nói khác nhau của
một vấn đề duy nhất như lưng và lòng của một bàn tay
không thể tách rời.
Trong
kinh Nguyên Thủy Đức Phật nói rằng vị Alahán nhập Niết
Bàn không còn trở lui lại trong trạng thái này nữa. Các vị
học giả Đại Thừa (Có lẽ cả Nguyên Thủy) liền hiểu
rằng Niết Bàn như là một cảnh giới tù túng mới, giam chặt
vị Alahán ấy trong hư vô buồn tẻ không còn hay biết gì
nữa. Hiểu như vậy thật là đáng thương!
Niết
Bàn là giải thoát, không phải là ràng buộc.
Niết
Bàn là có năng lực làm chủ, không phải không có năng lực
làm chủ.
Niết
Bàn là trí tuệ sáng suốt, không phải là hư vô mờ mịt.
Niết
Bàn là Đại bi, không phải là vị kỷ.
“Một
vị ở trong Niết Bàn vẫn biết rõ tình trạng của Phật
pháp, của thế gian và khi cần phải độ thì lập tức trở
lại liền”
(Lời của thầy Chơn Như)
Phật
không muốn tiết lộ công hạnh Bồ tát của một vị Alahán,
ngại chúng sinh nghe rồi tô điểm tưởng tượng, chỉ để
cho ai đến rồi sẽ tự biết. Công hạnh Bồ tát chỉ là
giai đoạn phía sau của một vị Alahán, từ lâu vẫn được
dấu kín. Mãi đến mấy trăm năm sau Phật nhập diệt, kinh
Đại Thừa lần lượt xuất bản, thì công hạnh Bồ tát mới
được tiết lộ đủ điều trên Bản thể giải thoát thì
Alahán và Phật hoàn toàn đồng nhau với tam minh lục thông.
Còn sự sai biệt sẽ được đề cập ở mục kế tiếp.
Chúng
ta trách các học giả Đại Thừa hiểu không trọn vẹn lời
dạy của Đức Phật thời Nguyên Thủy để rồi chê bai chỉ
trích đủ cách, và vô tình chê bai luôn những vị Bồ tát
của mình đang tôn thờ vì các vị Bồ tát ấy không ai khác
hơn chính là những đại đệ tử Alahán thời Đức Phật.
Chúng ta cũng trách các nhà học giả Nguyên Thủy không nhìn
thấy công hạnh Bồ tát của một vị Alahán nên đã vội
vàng phủ nhận sự có mặt của các Bồ tát trong kinh điển
Đại Thừa! Họ đã bị danh từ che đậy để không thấy
được thực chất giấu đằng sau những danh từ ấy. Họ
chỉ biết Xá Lợi Phất mà không biết gì đến Văn Thù Sư
Lợi. Hai tên gọi khác nhau khiến họ cho rằng một là thực
và một là bịa đặt. Họ chỉ biết tỳ kheo ni Đại Ái Đạo
(Kiều Đàm Di mẫu) là Đại Aùi Đạo mà không biết gì đến
Quán Thế Âm. Họ cho rằng một là thực và một là bịa đặt.
Nếu họ không nhận thức rõ công hạnh Bồ tát của Alahán,
họ cũng giống như các học giả Đại thừa đã không hiểu
sâu sắc lời dạy Nguyên thủy của Đức Phật.
Có
một câu hỏi:
–
Không tham lam nghĩa là gì?
Một
người đáp lập tức:
–
Là không xâm phạm đến tài vật của người khác.
Một
người trầm ngâm giây lâu rồi đáp:
–
Là rộng rãi bố thí.
Cũng
một câu nói ban đầu “không tham lam”, nhưng người hiểu
cạn, người hiểu sâu.
Cũng
vậy, không khéo các học giả của cả Nguyên thủy và Đại
thừa hiểu lời dạy của Đức Phật mới được phân nửa
rồi sinh nhiều thành kiến. Giáo lý Nguyên thủy là cội gốc.
Tiểu thừa và Đại thừa là hai cách hiều về giáo lý Nguyên
thủy. Chúng ta phải công nhận rằng Đại thừa hiểu giáo
lý Nguyên thủy sâu sắc hơn Tiểu thừa. Tiểu thừa hiểu
giáo lý Nguyên thủy mới được phân nửa. Thời đại hôm
nay các Bộ phái Tiểu thừa đã vắng bóng chỉ còn lại phái
Theravada đại diện cho những người trung thành với giáo lý
Nguyên thủy và phái Đại thừa đại diện cho những người
ủng hộ giáo lý phát triển. Nhưng chúng ta đang e ngại một
điều là nếu không khéo, hoặc chúng ta sẽ hiểu giáo lý
Nguyên thủy thành Tiểu thừa, hoặc hiểu giáo lý Đại thừa
thành ngoại đạo.
Nếu
không hiểu công hạnh Bồ tát của một vị Alahán, chúng ta
đã hiểu Alahán theo Tiểu thừa.
Nếu
trông đợi một sự cứu rỗi từ quyền năng của một Đức
Phật, chúng ta đã hiểu đạo Phật thành ngoại đạo.
Chúng
ta nêu mục này ra để nói rằng:
–
Sự hiện diện của các vị Bồ tát trong kinh Đại thừa như
Quán Thế Aâm, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc... không phải là
vô lý. Đôi khi các Ngài bộc lộ thân phận như Bố Đại
Hòa Thượng, Hàn Sơn, Thập Đắc.. Hoặc dấu diếm thân phận
như bà lão bán bánh cho Đức Sơn, ông già Ngũ Đài Sơn (xem
Thiền Sư Trung Hoa, HT Thích Thanh Từ).
–
Và Bồ tát có nghĩa là HẠNH của một vị Alahán mà thôi.
Đứng trên khía cạnh giải thoát thì gọi là Alahán, đứng
trên khía cạnh lợi ích chúng sinh thì gọi là Bồ tát. Dù
nói Alahán hay Bồ tát thì đó cũng chỉ là hai khía cạnh của
một vấn đề duy nhất như lưng và lòng của một bàn tay
không thể tách rời.
7
– PHẬT QUẢ
Khi
một vị Alahán đã viên mãn Bồ tát đạo rồi thì thành tựu
Phật quả. Vị này hiện thân tối hậu, xuất gia, tọa thiền,
thành đạo, thuyết pháp và nhập diệt. Ở địa vị Alahán
ban đầu, vị này không bị nghiệp lôi kéo trở lại tam giới,
nhưng sẽ theo nguyện lực đại bi mà đi vào tam giới làm
lợi ích chúng sinh. Còn một vị Phật đã nhập Niết Bàn
rồi thì vĩnh viễn trở lại theo nghiệp hay nguyện nữa, chỉ
ở yên trong Niết Bàn trợ duyên cho các Bồ tát khác làm Phật
sự mà thôi.
Nơi
Bản thể giải thoát, một vị Alahán bình đẳng với Đức
Phật như Tam minh Lục thông. Nhưng Đức Phật có công dức
vĩ đại từ vô lượng kiếp giáo hóa chúng sinh nên sai khác
với vị sơ địa Alahán trên những phương diện: Trí tuệ
– Hùng lực – Thần lực – Uy đức –
Dung mạo.
* Trí
tuệ của Phật vượt xa một vị sơ địa Alahán. Phật thấu
rõ mọi nguyên lý vận hành của vũ trụ, thấu rõ căn cơ
sai biệt của chúng sinh, khéo khởi những phương tiện giáo
hóa được lợi ích tối đa mà tai hại tối thiểu. Một thiền
sư, đôi khi nói một lời làm lợi ích cho người trước mặt,
nhưng để lại tai hại cho người sau. Còn Đức Phật có những
giáo pháp ích lợi cho người trước mặt mà vẫn ích lợi
cho người về sau. Một vị Alahán không thể biết được
hành trạng của các Đức Phật quá khứ, nhưng Đức Phật
thì biết rõ điều đó Đức Phật Thích Ca có thể biết cả
trong quá khứ khi tôn giả Culla Panthaka đang làm vua đã khởi
một niệm nhận thức lý vô thường, để dạy Culla một pháp
môn tu hành thích hợp. Điều này các vị Alahán khác không
tìm thấy. Phân tích chỗ vi diệu của Phật trí thì suốt
đời không thể hết. Bốn mươi chín năm (hoặc 45 năm) giáo
hóa của Phật đã chứng tỏ một trí tuệ phi thường mà
mọi tính từ (adjective) của ngôn ngữ thế gian không đủ
để diễn tả trọn vẹn.
* ABHIBHÙ
(Tăng
Chi Bộ kinh 1, 259)
Rồi
tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn đảnh lễ và ngồi xuống
một bên, bạch Thế Tôn:
–
“Con đã từng được nghe Thế Tôn nói rằng Abhibhu, đệ
tử Đức Phật Sikhi, đứng ở Phạm Thiên giới, có thể làm
cho ngàn thế giới nghe tiếng của mình. Nhưng bạch Thế Tôn,
Thế Tôn, bậc Alahán Chánh Đẳng Giác, có thể làm cho tiếng
nghe xa như thế nào?”
–
“Nó chỉ là một đệ tử, này Ananda, còn các Như Lai là
vô lượng.”
Tôn
giả Ananda ba lần muốn tìm hiểu về thần lực của Phật.
Đức Phật bèn hỏi:
–
“Này Ananda, ngươi có được nghe nói đến Tiểu thiên thế
giới không?”
–
“Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch
Thiện Thệ! để Thế Tôn nói về vấn đề này. Sau khi nghe
Thế Tôn, các Tỳ Kheo sẽ thọ trì.
–
“Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói!”
–
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn!”
–
“Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của
chúng và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng,
xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có 1000 mặt trăng,
1000 mặt trời, 1000 núi Sineru (Tu di), 1000 Jambudipa (Diêm phù
đề), 1000 Apatagoyana (Tây ngưu hóa châu), 1000 Utarakura (Bắc
câu lô châu), 1000 Pubhavidehà (Đông thắng thần châu), 4000
biển lớn, 4000 Đại dương, 1000 cõi trời Tứ thiên vương,
1000 cõi trời Ba mươi ba, 1000 Dạ ma thiên, 1000 Tusita (Đẩu
xuất), 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Tha hóa tự tại thiên,
1000 Phạm thiên. Này Ananda đây gọi là một tiểu thiên thế
giới. Này Ananda cho đến một ngàn lần Tiểu thiên thế giới
được gọi là hai Trung thiên thế giới. Cho đến một ngàn
Trung thiên thế giới được gọi là ba Đại thiên thế giới.
Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa đến ba
ngàn Đại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn” (!)
–
“Làm sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình
nghe xa cho đến ba nghìn Đại thiên thế giới hay xa hơn nữa
nếu muốn?”
–
“Ở đây, này Ananda, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn
Đại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sinh nhận thức
được ánh sáng ấy.”
Rồi
Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe rền vang
như sấm lan vào vô tận.
–
“Như vậy, Này Ananda, Như Lai làm cho tiếng mình được nghe,
xa cho đến ba ngàn Đại thiên thế giới, hay xa hơn nữa nếu
muốn.”
Khi
nghe như vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Udayi:
–
“Được lợi thay cho tôi! Được lợi thay cho tôi! Có được
bậc Đạo sư có thần lực như vậy, có uy lực như vậy!”
Tôn
giả Udayi nói:
–
“Này hiền giả Ananda, ở đây bản thân hiền giả có được
gì nếu bậc Đạo sư của hiền giả có đại thần lực như
vậy, có đại uy lực như vậy?”
Thế
Tôn bảo Udayi:
–
“Chớ có nói vậy, này Udayi! Chớ có nói vậy, này Udayi!
Nếu dù rằng Ananda chưa đoạn tận vô minh và mệnh chung,
nhưng với tâm tịnh tín của mình (về thần lực của Như
Lai). Ananda có thể bảy lần ngự trị trên thế giới Chư
Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Jambudipa này. Nhưng
này Udayi, Ananda ngay trong hiện tại sẽ được Bát Niết Bàn”
Đoạn
kinh này nói lên sự sai biệt muôn trùng giữa thần lực của
một vị Alahán và một Đức Phật.
Đồng
là Alahán mà Tôn giả Xá Lợi Phất thì trí tuệ đệ nhất,
Tôn giả Mục Kiền Liên thì thần thông đệ nhất. Dụng lực
khác nhau bởi vì tác nhân khác nhau. Nhiều đời Tôn giả Xá
Lợi Phất thường dùng trí tuệ làm lợi ích chúng sinh, Tôn
giả Mục Kiền Liên thường dùng thần thông làm lợi ích
chúng sinh nên quả báo về dụng lực thù thắng khác nhau.
Còn một Đức Phật thì viên mãn trên mọi phương tiện hóa
độ chúng sinh nên tất cả dụng lực đều tựu thành vô
hạn.
* Ở
thân tối hậu thành Chánh Đẳng Giác, Đức Phật chói ngời
uy đức như ngàn ánh mặt trời. Uy đức của Phật vừa thể
hiện một cách hữu hình, vừa cảm ứng một cách vô hình.
Mỗi ánh mắt, cử chỉ, dáng đi, điệu đứng của Phật đều
toát ra vẻ trầm hùng đường bệ khiến cho chúng sinh trông
thấy đều phát tâm kính mến. Ngoài ra uy đức vô hình của
Đức Phật luôn luôn trùm phủ mọi loài, thẩm thấu trong
tâm tư thầm kín của chúng sinh. Uy đức này tồn tại lâu
dài đủ để cho những đệ tử Phật về sau luôn luôn được
cúng dường cung kính (dĩ nhiên kết hợp với công đức riêng
của mỗi người).
Khi
Đức Phật vừa mới đản sinh, phụ vương Tịnh Phạn (Sudodana)
nhìn thấy dung nghi của Ngài rực rỡ như cả tòa núi châu
báu, bất giác không kềm mình được đã cúi xuống lạy Ngài.
Một lần Ngài đi ra ngoài chơi, ngồi nghỉ trưa dưới bóng
cây trong tư thế kiết già và tâm nhập vào Sơ thiền. Mặt
trời ngã dần về tây mà nơi chỗ Ngài ngồi bóng râm không
xê dịch như để che mát cho Ngài. Trông thấy cảnh tượng
lạ thường đó và hình dáng tọa thiền uy nghi cũa Ngài, Phụ
vương lại sụp xuống lạy Ngài lần nữa.
Khi
đạo Phật lan sang các quốc gia khác, tùy theo phong tục tập
quán của địa phương mà đạo Phật cũng thay đổi cho phù
hợp với hoàn cảnh để có thể gần gũi giáo hóa quần chúng.
Việc này có hay mà cũng không hay. Sự tùy thuận nhân tình
có thể gây được tình cảm với dân bản xứ nhưng làm lỗng
mất phong thái siêu thoát của đạo Phật. Những nghi lễ tụng
tán rườm rà của tập quán địa phương đã xâm nhập dần
dần vào sinh hoạt của đạo Phật khác với một đạo Phật
thuở ban đầu rất đơn sơ bình dị. Đạo Phật chinh phục
quần chúng nhưng cũng bị tập quán của quần chúng chinh phục
trở lại. Sở dĩ như vậy vì người truyền bá giáo pháp
không đủ uy đức cuốn hút quần chúng theo mình trọn vẹn,
phải tùy thuận tâm tình của họ rồi mới đưa kèm theo Phật
pháp. Và như vậy đạo Phật tại đấy đã pha lẫn nhiều
hình thức của ngoại đạo địa phương. Còn Đức Phật với
uy đức và trí tuệ trùm phủ đã giữ vững phong thái độc
lập siêu thoát trước toàn thể Aán độ từ lâu chìm trong
nghi lễ tán tụng rườm rà của Bà La Môn giáo.
“Người
Bà La Môn đến hỏi Phật:
–
Thưa tôn giả Gotama, khi một người mệnh chung, các tu sĩ Bà
La Môn lập đàn tế lễ để cầu nguyện cho người chết
được sinh về cõi trời. Việc này đúng chăng?
Đức
Phật bảo:
–
Này Bà La Môn, ví như một hòn đá to quăng xuống hồ nước
và các tu sĩ Bà La Môn đi quanh bờ hồ đọc kinh cầu nguyện
cho hòn đá nổi lên. Nhưng hòn đá cũng không thế nào nổi
lên được.
Cũng
vậy, khi một người với ác nghiệp cực trọng mạng chung,
dù cho các thầy cúng có tụ hội đọc nhiều kinh cầu nguyện
thì người này vẫn rơi vào đọa xứ.
Lại,
ví như có chiếc ghe chở đầy dầu bị vỡ, dầu nổi lênh
láng trên mặt nước và các thầy cúng đi quanh nguyền rủa
cho nó chìm xuống. Nhưng dầu kia không thể nào chìm xuống
được.
Cũng
vậy, khi một người với thiện nghiệp thuần thục mạng
chung, dù cho các phù thủy đọc lời nguyền rủa thì người
này vẫn sinh về thiên giới. Sau những lời này người Bà
La Môn tán thán và xin quy y Đức Phật.”
(Nikaya)
Đức
Phật không tùy thuận một chút xíu nào với tập quán đã
in sâu vào lòng dân tộc Ấn độ vốn đã từng chịu ảnh
hưởng của Bà La Môn giáo. Ngài giữ vững phong thái độc
lập của mình mà vẫn cảm hóa được quần chúng ngoại đạo.
Chúng ta ngày nay phải tùy thuận nhân tình mới đưa Phật
pháp đến với họ được thì biết rằng chúng ta kém uy đức
và trí tuệ so với Đức Phật và các Tỳ kheo ngày xưa thời
Nguyên thủy. Uy đức rộng lớn của Phật được kết thành
bởi công đước làm lợi ích chúng sinh trong vô lượng kiếp.
* Công
đức vô hạn của Đức Phật cũng đưa đến một dung nghi
tuyệt diệu nơi Đức Phật mà các kinh thường diễn tả bằng
32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp.
“Đức
Phật ngồi lặng lẽ mà uy nghi như chói ngời ánh sáng. Gương
mặt Người sáng tỏ đẹp đẽ như ánh trăng rạng rỡ giữa
trời không. Dáng Người toát ra sự bình an vô hạn, từng
ngón tay sợi tóc cũng giải thoát mênh mang. Làn da Phật từ
đầu đến chân đều bóng sáng như màu hoàng kim. Đôi tai
to và trái tai dài buông thỏng đến gần vai. Nhưng kỳ diệu
nhất vẫn là đôi mắt. Đôi mắt Phật dịu dàng từ ái,
xanh biếc như biển cả, lấp lánh như sao trời, điềm đạm
như hư vô, như bao phủ và thấu suốt tâm hồn người đối
diện”
(trích Tạp bút Cuối Hàng Dương)
Âm
thanh Phật vang vang như sóng biển, thanh tao như chuông ngân,
trong vắt như ngọc vỡ, êm ái mà xác quyết, thong thả mà
tung bay, khiến chúng sinh một lần nghe qua liền cảm thấy
hân hoan an lạc.
Chúng
sinh cõi người trông thấy hào quang Phật tỏa xa một tầm
mà trên cõi đời này không người nào có được. Chư thiên
tử có hào quang sáng chói lại trông thấy hào quang của Phật
vượt hơn mình gấp bội lần. Những Thiên tử ở các tầng
trời cao hơn, có hào quang rực rỡ hơn, vẫn trông thấy hào
quang Phật thù diệu hơn mình nhiều lần. Mặc dù Đức Phật
hiện thân thành Chánh Đẳng Giác ở cõi người, nhưng uy đức
và dung mạo của Ngài vượt thắng mọi chúng sinh trong tam
giới.
Bồ
tát (nghĩa là vị Alahán đoạn tận lậu hoặc) từ sơ địa
lên đến thập địa rồi thành tựu Phật quả không có thêm
gì nơi Bản thể giải thoát, chỉ có năm điều trên (Trí
tuệ, Hùng lực, Thần lực, Uy đức, Dung mạo) tăng trưởng
mà thôi. Trong đó, nơi Phật quả, năm điều trên được xem
là vô hạn.
SUY
LUẬN NHÂN QUẢ
Chúng
ta đã đi qua những trường hợp điển hình của Nhân Quả
với ba giai đoạn, Nhân Quả thế gian, Nhân Quả xuất thế
gian và Nhân Quả Bồ Tát đạo. Như vậy tạm đủ để chúng
ta có kinh nghiệm phần nào về đường đi của Nhân Quả Nghiệp
báo. Bây giờ chúng ta tự suy luận lấy những trường hợp
Nhân Quả khác bởi lương tâm và trí tuệ của chính mình.
Chúng ta cần phải luôn luôn suy nghiệm lấy đường đi của
Nhân Quả Nghiệp báo để lương tâm có cơ hội trổi dậy
và ngự trị nơi cõi lòng thánh thiện của chúng ta.
Hỏi:
Một thiền sư đã giác ngộ thì không còn lầm về Nhân Quả.
Thế tại sao Nam Tuyền lại chém mèo?
Đáp:
Lúc đại chúng của hai nhà Đông và Tây giành nhau con mèo,
trên hiện tướng họ đang bị mất chánh niệm. Nam Tuyền
muốn nghiệm xem trong những người này có ai đang đùa mà
vẫn không bị thất niệm, và muốn cảnh tỉnh đại chúng
ra khỏi sự tranh giành những cái bên ngoài, cần xoay lại
bên trong để tỉnh giác tu hành. Nếu vật họ đang giành là
một cái bình tích, một lọ hoa, một chiếc tách, thì Nam Tuyền
sẽ hỏi:
“Nói
được thì không đập”
Không
ai đáp được, nghĩa là họ đều bị thất niệm, Ngài sẽ
đập vỡ chiếc bình để cảnh tỉnh họ. Nhưng không may cho
Ngài, vật đó là con mèo! chém mèo để cảnh tỉnh đại chúng,
Ngài mang tiếng sát sanh đến tận hôm nay. Dĩ nhiên Ngài phải
chấp nhận lấy quả báo của việc làm này, nhưng đức độ
của Từ tâm thì không mất vì Ngài không có ác tâm đối
với con mèo, chỉ vì Từ tâm muốn răn dạy đệ tử mà thôi.
Hỏi:
Tại sao Đơn Hà bịt tai không nghe Thạch Đầu thuyết giới,
phải chăng bậc ngộ đạo không cần giữ giới?
Đáp:
Đơn Hà là một con người xuất cách, âm thầm công quả ở
nhà bếp ba năm và đã thấu triệt nguồn tâm. Khi Thạch Đầu
nói chung chung giữa đại chúng:
“Ngày
mai cắt cỏ trước điện Phật”
Chỉ
có Đơn Hà đủ trực giác để hiểu Thạch Đầu muốn làm
lễ thế phát cho mình. Ngày hôm sau toàn chúng đem liền, cuốc
loay hoay làm cỏ trước sân chánh điện thì Đơn Hà mang chậu
nước và dao cạo đến quỳ trước Thạch Đầu. Thạch Đầu
cười cạo tóc cho và sau đó thuyết giới. Đơn Hà bịt tai
đi ra.
Ngài
bịt tai đi ra không phải vì chê giới luật mà biểu thị
rằng với sức giác ngộ của tự tâm, Ngài KHÔNG THỂ NÀO
PHẠM GIỚI nữa! Sức thanh tịnh tiûnh giác của tâm đã ngăn
chặn mọi sai lầm từ trong tâm thức sâu kín, còn đâu lọt
ra ngoài thành lời nói và việc làm. Chúng ta hiểu điều này,
bậc đại tu hành là người đủ sức giữ giới, không phải
là người giới luật lôi thôi.
Có
những người tự nhận tu theo Tổ sư thiền, ngộ được
tâm tỉnh giác, thử phạm giới uống rượu hành dục, thấy
vẫn không mất chỗ đã ngộ, liền lớn tiếng tuyên bố rằng
người ngộ lý Tối Thượng Thừa không cần trì giới (!).
Thật ra cái không mất đó chẳûng có gì cao siêu. Thời Đức
Phật tại thế, tín nữ Visakha lúc còn thiếu nữ đến nghe
Phật thuyết pháp liền chứng quả Dự lưu. Sau đó, cô cũng
có chồng có con bình thường như mọi người mặc dù đang
ở quả vị Dự lưu. Chẳng những quả vị Dự lưu, mà ngay
cả ngoại đạo đắc Thiền Định rồi vẫn có thể không
bị mất dù có phạm một số giới, bởi vì phước tu tập
đời trước còn thừa. Khi nào phước tu tập quá khứ đã
hết việc phạm giới hiện tại đã nhiều, họ mới bị thối
thất Thiền Định và đọa vào ác đạo. Như vậy các vị
“ Tối– thượng– thừa– phá– giới” hãy cảnh giác
lại mình, đừng xem thường giới luật của Phật vừa hại
mình và hại luôn những người khác. Giá trị và sức mạnh
của người giác ngộ là không còn bị phạm giới chứ không
phải phá giới “một cách tự tại”!
Hỏi:
Người thông minh trí tuệ là do nhân gì?
Đáp:
Có nhiều loại thông minh. Loại thứ nhất là do học nhiều
rồi nói lại những điều mình đã học mà không có sức
sáng tạo. Loại thứ hai có sức nhận thức sắc bén hơn trong
một số lãnh vực giới hạn như chỉ trong ngành y khoa, điện
tử... là do đã từng dùng nghề nghiệp phục vụ xã hội
đắc lực. Hoặêc có người do công đức ấn tống kinh điển,
cúng đèn dầu cho chúng tăng, cất trường học cho trẻ em...
cũng được quả báo sáng suốt thông minh. Nhưng có một loại
thông minh phi thường, trực giác nhạy bén, sức sáng tạo
vô hạn là do công năng tập định ở những đời trước.
Có khi đời này họ chưa tìm lại trình độ định lực của
đời trước, nhưng họ đã có trí tuệ phi thường. Khi nhìn
đến bất cứ lãnh vực nào họ đều có sự nhận thức sắc
bén và độc đáo. Các vị Alahan và các thiền sư khi chưa
chứng ngộ đều đã biểu lộ sức trí tuệ đặc biệt này.
Thế nên, một quốc gia muốn có nhiều nhân tài cần phải
áp dụng tu tập Thiền Định cho sinh viên và học sinh. Nhật
Bản đang khai thác triệt để về điểm này nên họ đã vượt
xa các nước về nghệ thuật và kỹ thuật.
Hỏi:
Tại sao có những người cùng sống bằng nghề viết lách,
giáo dục, hội họa... nhưng kẻ thì giàu mà người thì nghèo?
Đáp:
Người được giàu có từ sự nghiệp văn hóa là bởi hai
lý do. Hoặc họ biết bố thí ít nhiều bằng đồng tiền
kiếm được. Hoặc họ dùng phương tiện văn hóa để kêu
gọi mọi người sống Đạo Đức, thương yêu, hy sinh, phụng
sự. Nếu thiếu hai nguyên nhân này, bố thí và giáo hóa, người
cầm bút sẽ chôn đời mình trong khó nghèo hiu quạnh. Thỉnh
thoảng chúng ta đọc vài tác phẩm văn chương cũng nhận thấy
rằng có những tác phẩm không chuyển hóa tâm hồn người
đọc trở nên thánh thiện cao cả, chỉ vùi họ trong mơ mộng,
bâng quơ, ích kỷ, hận thù. Tác giả của những tác phẩm
này đi dần vào khốn đốn khổ sở. Ngược lại, những tác
phẩm chuyển hóa tâm hồn con người trở nên thuần lương
Đạo Đức sẽ đưa tác giả của nó đi về nơi hạnh phúc
lâu dài. Nhưng muốn tạo được những tác phẩm có tác dụng
giáo dục mạnh mẽ như vậy thì chính tác giả phải tự gột
rửa tâm hồn mình trong sạch trước đã.
Hỏi:
Có những người quá nghèo không thể bố thí, làm cách nào
đễ họ có thể chuyển nghiệp nghèo khổ đó được?
Đáp:
Không còn con đường nào khác hơn nữa! Họ phải chấp nhận
khó khăn hơn nữa, thiếu thốn hơn nữa để san sẻ từng
nắm gạo, từng muỗng đường, từng đồng ít ỏi cho ngươiø
có giới và người làm thiện. Sự cố gắng quá dộ đó sẽ
trở thành công đức lớn lao cho họ và đập vỡ thói quen
bỏn xẻn từ nhiều kiếp trong tâm họ. Nếu không biết bố
thí từng chút như vậy, họ sẽ mãi mãi chìm sâu trong nghèo
nàn túng thiếu. Người hiểu đạo sẽ khát khao bố thí như
người mù khát khao được mắt sáng. Ngoài việc bố thí tài
vật ra, họ còn phải dùng công sức đắp đường cho người
đi, đào giếng nơi công cộng cho người dùng. Nếu họ là
công nhân, họ phải lao động tích cực với ý nghĩ vì xây
dựng đất nước. Thật vậy cùng làm tám tiếng đồng hồ
trong một xí nghiệp, nhưng một người chỉ hướng đến mục
đích kiếm tiền lương về cho bản thân và gia đình, còn
một người biết hướng đến mục đích xây dựng đất nước.
Phước của hai người này khác nhau rất xa. Do mục đích khác
nhau nên thái độ làm việc cũng khác nhau. Người vị kỷ
sẽ làm việc một cách uể oải thiếu trách nhiệm (đôi khi
tăng thu nhập bằng sự không thành thật). Người vị tha,
yêu đất nước sẽ làm việc một cách nhiệt tình và kỹ
lưỡng. Mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày họ cách xa nhau trên
phương diện phước đức.
Hơn
nữa, người nghèo tức là phước rất ít. Họ cần phải
giữ giới luật thật kỹ lưỡng, không sát sinh hại vật,
không tà dâm, không trộm cắp... vì sự vi phạm một giới
nhỏ cũng đủ đưa họ về địa ngục.
Hỏi:
Người này làm phước rồi chú nguyện cho người kia được
chăng?
Đáp:
Được! Ví dụ trong gia đình có người bệnh nằm một chỗ
không thể tự làm phước để chuyển nghiệp. Thân quyến
của người ấy có thể làm các công đức như phóng sinh,
bố thí, đắp đường, in kinh... để hồi hướng chú nguyện
cho người ấy khỏi bệnh. Nhưng dù sao thì người tự tay
làm vẫn hưởng được phước nhiều hơn người được chú
nguyện.
Một
người đạo hữu đã phóng sinh để chú nguyện cho người
cha mình qua khỏi bệnh huyết áp cao và tai biến mạch máu
não. Trong cơn bệnh ông la hét, đập tay chân, chưởi mắng
mọi người. Người đạo hữu ngừng thức ăn huyết nhục,
cho ông ăn chay đồng thời mua chim cá phóng sinh chú nguyện
cho ông. Ông giảm bệnh một cách rõ rệt và bắt đầu bình
tĩnh, trở dậy đi đứng bình thường.
Hỏi:
Aên chay và ăn mặn ảnh hưởng khác nhau ra sao?
Đáp:
Theo y học thì thức ăn động vật có nhiều chất bổ dưỡng
cần thiết cho cơ thể hơn thức ăn thực vật. Nhưng thú tánh
ẩn tàng trong xác thịt của động vật, nỗi đau khổ hận
thù khi bị giết hại của con vật dần dần hòa tan vào máu
huyết tim óc của người dùng khiến cho người này tăng trưởng
nhiều phiền não si mê. Nếu họ phát tâm tu tập Thiền Định
thì sẽ bị trở ngại cả hai phương diện thân và tâm. Thân
thì đau nhức khó tọa thiền; tâm thì loạn động hôn trầm
khó làm chủ.
Thời
Nguyên thủy Đức Phật cho phép đệ tử khất thực được
thứ gì thì dùng thứ nấy, vì nếu hạn chế với thức ăn
chay họ sẽ gặp khó khăn rất nhiều. Các cư sĩ tại gia đâu
phải luôn luôn có sẵn thức ăn chay để cúng dường khi các
Tỳ kheo bất ngờ đi ngang qua ngưỡng cửa.
Tuy
nhiên tận trong thâm tâm ai cũng biết dùng thức ăn động
vật có liên hệ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với sự
giết hại. Nhiều vị sư danh tiếng Theravada như Hòa Thượng
Narada, Hòa Thượng Minh Châu... đều suốt đời dùng chay. Nhiều
vị sư Bắc tông ăn chay cũng vẫn khỏe mạnh hồng hào.
Chúng
ta tu tập Từ tâm vô lượng thì nên ăn chay để bồi đắp
lòng Từ ngày càng thêm lớn và cũng chiêu tập rất nhiều
phước cho mai sau. Có một vài người may mắn kỳ lạ, xông
pha giữa lằn tên mũi đạn vẫn không bị thương tích. Đó
là do phước ăn chay từ đời trước còn ảnh hưởng đến
hôm nay.
Hỏi:
Những người sinh sống bằng nghề câu cá, săn bắn, bẫy
rập sẽ cảm quả báo gì?
Đáp:
Hình ảnh con cá vùng vẫy trong tuyệt vọng đau đớn sau khi
đớp phải miếng mồi dụ dỗ sẽ trở thành hình ảnh của
người cầm cần câu. Nếu người này còn phước không bị
đọa thân súc sinh, họ cũng phải cảm báo bị lừa gạt đến
tuyệt vọng đau khổ.
Người
giăng bẫy giết thú rừng lớn thì tội càng nặng hơn nữa.
Hình ảnh con thú đang đi bị sụp hầm, bị treo chân... cũng
sẽ trở lại là hình ảnh của người giăng bẫy. Sau khi đền
trả tội lỗi ở đọa xứ, họ sẽ được làm người với
hầm chông, thòng lọng đang chờ đón. Nếu những con thú được
trở lại thân người, chúng sẽ là những kẻ thù của những
ai đã giăng bẫy bắt chúng. Một nhân xấu luôn luôn để
lại phía sau đó những ảnh hưởng tai hại lâu dài.
Ngư