Phần
Ba
B.
NHÂN QUẢ XUẤT THẾ GIAN.
01
Nguyên Nhân của đau khổ
02
Giới Đị̣nh Tuệ.
03
Cúng hoa Tháp Phật
04
Thối thất Đạo Quả.
05
Quả Vị Dự Lưu
06
Hai hạng người Sai Khác.
07
Xuất Gia.
08
Hòa hợp Tăng
09
Dễ Ngộ.
10
Sử dụng không đúng.
11
Đủ công đức chứng ngộ.
12
Bảy năm trong bụng Mẹ.
13
Khoe Khoang.
14
Pháp Môn thích hợp.
15
Trưởng Lạo Losaka.
B/
NHÂN QUẢ XUẤT THẾ GIAN
Chúng
ta đã bàn về Nhân Quả thế gian của cá nhân và của đất
nước, bây giờ sẽ bàn qua Nhân Quả xuất thế gian, con đường
của những người muốn vượt ngoài tam giới. Nhiều
người cho rằng một vị đã giải thoát thì không còn bị
luật Nhân Quả chi phối, có làm gì cũng không tạo thành nghiệp.
Đây là một kiến chấp thiên không sai lầm. Ông già chồn
mang kiến chấp này mà phải đọa thân chồn năm trăm đời.
Có
những học giả lý luận rằng:
Do
HOAËC đưa đến tạo NGHIỆP. Do NGHIỆP đưa đến thọ BÁO.
HOAËC
NGHIỆP BÁO.
Chúng
sinh do si mê lậu hoặc nên tạo nghiệp, và có tạo nghiệp
nên phải thọ báo.
Chúng
sinh bị lậu hoặc che phủ nên không biết rõ hậu quả của
nghiệp như thế nào, để rồi tạo những ác nghiệp đưa
đến đau khổ. Bậc Alahán trái lại, vì hết lậu hoặc nên
biết rõ đường đi của luật Nhân Quả Nghiệp báo, đã tạo
những Bồ tát nghiệp để gieo duyên giáo hóa chúng sinh và
được viên mãn Phật quả. Nếu hết hoặc là hết nằm trong
luật Nhân Quả thì Bồ Tát vĩnh viễn không thành tựu Phật
quả dù có giáo hóa chúng sinh trong vô lượng kiếp. Nhưng
chính vì hết lậu hoặc nghĩa là biết rõ Nhân Quả Nghiệp
báo hơn bao giờ hết nên bậc Bồ Tát chọn những nhân
thích hợp để đi về quả cần thiết. Vì thế, Tổ Bá Trượng
đã trả lời cho ông già chồn rằng bậc đại tu hành là
người:
“Không
còn mơ hồ về Nhân Quả”
Câu
trả lời ngắn gọn cô đọng này đã chuyển hẳn ý thức
hệ chấp không từ bao đời qua của ông già chồn và trong
chớp mắt đó ông nhận ra Bản thể trí tuệ lương tâm sẵn
có rất là linh hoạt hiện hữu.
Chúng
ta nghiên cứu Nhân Quả xuất thế gian để xét xem do những
nhân nào đã tạo ra sự thuận tiện hay trở ngại cho một
người muốn đi đến giải thoát.
1–
NGUYÊN NHÂN CỦA ĐAU KHỔ
(Trích
Tương Ưng Bộ kinh 4, tr 328)
Bhadra.
Một
thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa,
rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và
ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
“Lành
thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập
khởi và chấm dứt của khổ.”
“Này
thôn trưởng, nếu y cứ vào quá khứ hay vị lai để nói về
nguyên nhân (Sự tập khởi) và sự chấm dứt của đau khổ,
ông sẽ có phân vân nghi ngờ. Nhưng ngay chính tại đây, với
sự có mặt của ông, ta sẽ thuyết về nguyên nhân và sự
chấm dứt của đau khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm, ta sẽ
nói.”
“Ông
nghĩ thế nào, này thôn trưởng, nếu ở tại Uruvelakapapa này
có những người bị giết, hoặc bị tù, bị thiệt hại,
bị chỉ trích, ông có khởi lên lo lắng buồn khổ không?”
“Bạch
Thế Tôn, với những người này con có khởi lên lo lắng buồn
khổ và với những người khác con không có khởi lên lo lắng
buồn khổ.”
“Vì
sao có sự sai khác như vậy?”
“Bạch
Thế Tôn, với những người mà con không có thương mến thì
dù họ có bị giết... con không có khởi lên lo lắng sầu
muộn. Nếu với người mà con có thương mến thì khi họ bị
giết... con có khởi lên lo lắng sầu muộn.”
“Như
vậy, chính ông đã xác định do có thương mến mới có lo
lắng sầu muộn. Cũng vậy, dù quá khứ hay vị lai, nếu có
khổ não khởi lên, đều từ ái dục làm căn bản, từ ái
dục làm sở nhân. Ái dục là căn bản của khổ.”
NHẬN
XÉT:
Bài
kinh này có vẻ triết lý hơn là Nghiệp báo. Tuy nhiên nó cũng
là chuỗi Nhân Quả có liên quan với nhau. Thay vì giảng Tứ
Diệu Đế cho thôn trưởng Bhadraka, Đức Phật đặt vấn đề
thực tế hiện tại để ông tự xác nhận bằng suy nghiệm
của chính mình rằng vì có ái dục nên có đau khổ. Phật
đã hệ thống điều này trong giáo lý Tứ Diệu Đế –
Bốn sự thật mầu nhiệm – rằng có khổ với tám loại
và ái là nguyên nhân của khổ, có Niết Bàn chấm dứt khổ
và ái, và có con đường đưa đến Niết Bàn đó. Trong giáo
lý Mười hai nhân duyên, ái là một mắc xích quan trọng tác
động đến vòng luân hồi vô tận.
Vì
thương con mà cha mẹ phải lo lắng đủ cách cho đời sống
và tương lai của nó. Nếu sau này nó tỏ vẻ ruồng rẫy sơ
sài, cha mẹ sẽ thất vọng đau khổ vô cùng.
Ai
cũng biết tình yêu đưa đến hôn nhân và hôn nhân đưa đến
vô số trách nhiệm, bất an và phiền muộn.
Thật
ra, Aùi không đơn giản là tình thương yêu giữa người này
với người kia, nó còn là lòng ham muốn đối với ngũ dục
người tham sắc, kẻ ham danh, người ưa ăn, kẻ thích ngủ,
người tham tiền, kẻ lụy tình... Nếu có thương yêu ai, tất
cả đều bắt nguồn từ ham muốn khoái lạc của chính mình.
Chúng
ta chỉ yêu mến người nào đem lại vui thú cho chúng ta, và
chúng ta sẽ oán hận kẻ nào đem lại đau khổ cho chúng ta.
Tình yêu thương chỉ là chiêu bài che đậy cho sự ham muốn
của tự kỷ. Không có ham muốn của tự kỷ, tình yêu thương
biến mất.
Bạn
sẽ nêu lên rằng đau khổ không chỉ đơn thuần là nỗi lo
lắng, phiền muộn, băn khoăn, thất vọng... nghĩa là những
trạng thái của tâm, nhưng nó còn là những hoàn cảnh bất
như ý như đói kém, tai nạn, bị nhục mạ, làm ăn thất bại...
Thật ra người không ham giàu thì nghèo không là nỗi khổ;
không thương yêu thì xa nhau không tiếc nhớ; không ghét nhau
thì gần nhau không bực bội; không tự ái thì bị nhục mạ
không khó chịu; không cần danh vọng thì mất chức không là
nỗi bận tâm. Có câu chuyện về người lạc quan (của Mỹ)
như sau:
–
A cheerful man – Người lạc quan.
Có
một người tài xế lái xe lửa lạc quan đến kỳ lạ, bất
cứ một sự kiện gì xảy ra, anh đều nhìn thấy khía cạnh
tốt của nó để vui mừng mà không bao giờ quan tâm đến
khía cạnh xấu của nó. Bạn bè anh vừa ngạc nhiên vừa thán
phục đặc tính lạ lùng này.
Một
hôm xe lửa đi trật đường rầy, xe cứu thương đưa anh vào
bệnh viện. Cuối cùng anh bị cưa mất một chân, bạn bè
anh đến thăm, sau khi an ủi chia buồn xong họ nói:
“Chúng
tôi nghĩ rằng trong trường hợp này anh không thể tìm thấy
một khía cạnh tốt nào cả, phải không, người bạn thân
mến của chúng tôi?”
Anh
cười bảo:
“Có
chứ, từ nay tôi chỉ tốn tiền mua một chiếc giày mà thôi!”
Rõ
ràng đối với người như thế này, tai nạn cũng không là
nỗi khổ. Anh không quá yêu thân thể của mình nên khi bị
hư hao, anh không tiếc rẻ. Đối với mọi sự kiện linh tinh
khác, vì không bao giờ buồn nên anh mới bình tâm nhìn ra khía
cạnh tốt của nó để chỉ cho mọi người cùng thấy. Nếu
buồn khổ vì những khía cạnh xấu, chúng ta không bao giờ
nhìn ra khía cạnh tốt của chính sự kiện ấy. Tuy nhiên ở
đây chúng ta không đi tìm khía cạnh tốt của vấn đề để
bù đắp cho khía cạnh xấu, chúng ta chỉ đoạn trừ được
ái dục thì đau khổ sẽ vắng bóng.
Lõa
thể ngoại đạo Kasspa đến hỏi Phật về nguyên nhân của
đau khổ theo quan niệm Nghiệp báo, rằng khổ do chính người
ấy gây ra (thân đời trước và thân đời này là duy nhất).
Hoặc
khổ do người khác gây ra (Thân đời trước và thân đời
này khác hẳn).
Hoặc
khổ vừa do người ấy vừa do người khác gây ra (kết hợp
cả hai).
–
Hoặc không có khổ.
–
Hoặc có khổ mà Phật không thấy.
Trường
hợp nào Đức Phật cũng không đồng ý.
Cuối
cùng ngoại đạo Kasspa yêu cầu Phật nói về nguyên nhân của
đau khổ.
Phật
bảo:
“Ta
nói đến con đường trung đạo rằng do vô minh duyên hành...
do ái duyên thủ... nên thành toàn bộ đại khổ ấm này”
Nguyên
nhân của đau khổ là ái dục, một nguyên nhân tâm lý hơn
là Nghiệp báo. Tuy nhiên nó cũng có ảnh hưởng Nghiệp báo.
Nếu chúng ta đã từng ràng buộc người khác trong tình yêu
và tình dục của chúng ta, nghĩa là gây cho họ ô nhiễm trong
ái dục, thì duyên ái dục này sẽ trở lại trói buộc chúng
ta trong vị lai, khiến cho chúng ta khó có một đời sống thanh
thản giải thoát vì thế một người muốn giải thoát thì
không được quan hệ ái dục với bất cứ chúng sinh nào,
và cũng không được làm mai mối tác hợp cho những chúng
sinh khác quan hệ ái dục với nhau. Nếu có điều kiện chỉ
nên cởi mở làm nhẹ bớt ái dục của chúng sinh, khuyên họ
tìm hạnh phúc trong những mục tiêu cao thượng hơn là đắm
mình mãi trong vũng bùn ái dục mà không có ngày ra khỏi. Chúa
Jésus bảo:
“Đừng
tưởng ta đến để kết hợp thế gian, trái lại, ta đến
để vợ phải xa chồng, con phải xa cha, người thân mến phải
chia cắt”
Chính
chúa Jésus cũng muốn giải tỏa ái dục của cuộc đời để
cho mọi người tìm thấy hạnh phúc cao cả của “Thiên quốc”.
Dĩ
nhiên trong vô lượng kiếp quá khứ, chúng ta đã từng là
vợ, là chồng với biết bao người. Nếu Nghiệp báo này cố
định thì chắc chắn chúng ta phải bị ái dục kéo níu và
không thể giải thoát. Nhưng may mắn thay, Thế Tôn đã có
con đường Bát thánh đạo để đoạn trừ mọi ái dục mà
chánh định là cốt tủy. Người quyết tâm tu Bát thánh đạo,
thành tựu chánh định thì ái dục biến mất mọi khổ não
sụp đổ, những duyên nợ quá khứ cắt đứt.
Tổ
Sư Tử thản nhiên đưa đầu cho vua chém. Thiền sư Tâm Đạo
(ở Văn thù) ngồi chờ giặt đến lấy giáo đâm vào tim,
máu chảy ra thành dòng sữa trắng. Khai ngộ xong cho Thiện
Hội (ở Giáp Sơn), thiền sư Hoa Đình Thuyền Tử lật úp
thuyền ra đi... Những vị thành tựu chánh định, đoạn dứt
ái dục thì không còn cái gì khiến cho các ngài đau khổ.
Nếu chúng ta quan niệm đau khổ là những hoàn cảnh bất như
ý do Nghiệp báo đem lại, chúng ta sẽ rơi vào tà kiến của
ngoại đạo.
Một
lần Thế Tôn đi đến những ngoại đạo khổ hạnh, trong
thấy họ hành khổ hạnh bằng nhiều cách quái lạ, như đứng
một chân, phơi nắng chống tay chỏi chân lên trời, ăn cỏ,
bò lết như chó, nằm trên tro và gai... Phật hỏi họ làm
như thế đưa đến mục đích gì. Họ đáp:
“Thưa
hiền giả Gotama, tôn sư của chúng tôi tự xưng là người
có tri kiến trong lúc ngủ cũng như lúc thức. Người bảo
rằng do nghiệp quá khứ nên có đau khổ. Có đau khổ tức
là không giải thoát. Nếu ai thực hành khổ hạnh viên mãn,
nghiệp quá khứ hết, sẽ được giải thoát an vui.”
“Nhưng
các ông có tự biết quá khứ đã tạo nghiệp nhiều ít mà
mỗi người phải thực hành khổ hạnh loại nào trong bao lâu
mới đủ?”
“Thưa
hiền giả Gotama, chúng tôi không biết!”
“Các
ông thực hành dựa trên sự không biết, làm sao các ông có
thể biết kết quả sẽ ra sao?”
“Thưa,
còn hiền giả nói thế nào về nguyên nhân của đau khổ và
sự chấm dứt của đau khổ?”
“Ta
nói có tham, có sân, có si là có đau khổ. Không tham, không
sân, không si thì không có đau khổ.”
Ngoại
đạo quan niệm đau khổ là hoàn cảnh bất như ý do nghiệp
quá khứ đem lại, họ tự nguyện trả trước bằng cách tự
đày đọa thân xác mình cho đến cùng cực của đau khổ.
Trong ý chí chịu đựng khổ hạnh đó, đôi khi họ xem thường
đệ tử Phật, không thực hành khổ hạnh như họ, có vẻ
sống dễ dãi hơn. Họ không nhìn thấy bản chất giả dối
của đau khổ chỉ là những tâm trạng phù ảo được xây
dựng từ điều kiện tham sân si. Đấng Chánh Đẳng Giác nhìn
thấy rõ đau khổ chỉ là một ảo tưởng có điều kiện,
khi những điều kiện này bị đoạn trừ, đau khổ biến mất.
Do nhìn rõ điều này nên đường lối tu hành của đạo Phật
không thiên về khổ hạnh hay hưởng thụ, chỉ sống thế
nào để thuận tiện cho việc đoạn trừ tham sân si, họ phải
giữ giới và sống đời đơn giản để không tăng trưởng
lòng tham, nhưng họ cũng cần ăn uống đủ sức khỏe để
trợ giúp cho việc tọa thiền khuya sớm, và chính nơi công
việc Thiền Định này họ đoạn trừ được tham ái.
Tóm
lại, nguyên nhân của đau khổ có vẻ thuộc về triết lý
hơn là thuộc về Nghiệp báo, tuy nhiên, Nghiệp báo cũng dự
phần rất nhiều trong đời sống tu hành của một người,
mà nếu họ không thấu đáo về Nghiệp báo loại này, họ
sẽ gặp nhiều trở ngại.
2
– GIỚI ĐỊNH HUỆ
(Trích
Kinh Bộ Tăng Chi 2, tr 352)
“Với
căn không phòng hộ, này các Tỳ Kheo, người này đi đến
giới bị hủy hoại. Với giới khiếm khuyết, người này
đi đến chánh định bị hủy hoại. Với chánh định khiếm
khuyết, người này đi đến tri kiến như thật bị hủy hoại.
Với tri kiến như thật khiếm khuyết người này không còn
nhàm chán ly tham. Thiếu nhàm chán ly tham, người này đi đến
giải thoát tri kiến bị hủy hoại.”
“Ví
như, này các Tỳ Kheo, một cây, với cành và lá khiếm khuyết
thời các chồi non không đi đến viên mãn, vỏ cây không đi
đến viên mãn, giác cây không đi đến viên mãn, lỏi cây
không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, với các
căn không phòng hộ... giải thoát tri kiến bị hủy hoại.”
“Ngược
lại, này các Tỳ Kheo, với các căn được phòng hộ.... giải
thoát tri kiến được đầy đủ.”
NHẬN
XÉT:
Có
sự liên hệ logic từ giới đến định và huệ đến nổi
Phật gọi ba môn này là vô lậu học – học của giải thoát.
Nếu thiếu một trong ba môn này, sự giải thoát không được
gọi là viên mãn.
Do
định sinh huệ, điều này dễ hiểu. Khi tâm suy nghĩ
lắng yên, cái biết vẫn không mất mà khi cái biết không
còn bị sự suy nghĩ bẻ cong, vo tròn, nó sẽ biết được
sự thật của vạn hữu. Ví dụ có người không quán các
pháp tướng sinh diệt vô thường, do một phương tiện khác
như quán sổ tức hoặc tri vọng được định. Từ tâm an
định này họ sẽ tự thấy sự sinh diệt vô thường của
các pháp mà không cần học trước. Bình thường người này
sống lặng lẽ không khởi quán sát, bất ngờ có duyên sự
cám dỗ, tranh giành kéo tới, tự trong tâm tỉnh giác lặng
lẽ đó khởi lên niệm “phê phán” mọi trần cảnh chỉ
là trò hư ảo lừa gạt, rồi họ không bị duyên theo ngoại
cảnh đó. Định sinh huệ là như vậy.
Riêng
giới sinh định có nhiều khía cạnh tế nhị, thường thì
chúng ta quan niệm trì giới để tránh sự ô nhiễm cho tâm.
Do tâm không bị ô nhiễm nên tọa thiền dễ được định.
Nếu chỉ hiểu như vậy thì chưa hiểu hết ý nghĩa của giới.
Giới có một ý nghĩa rất lớn lao đến nổi người trì giới
kỹ lưỡng được uy đức rất nhiều. Các Hòa Thượng Tôn
Túc trong cuộc chấn hưng Phật giáo vừa qua không phải là
những vị đạt đạo, nhưng bởi công năng trì giới mà làm
được đại sự.
–
Định thành tựu do phá được năm triền cái.
–
Quả vị thành tựu do phá được các kiết sử.
Chúng
ta sẽ nói về năm triền cái trước đó là tham dục, sân
nhuế, hôn trầm, trạo cử, và nghi. Những triền cái này,
thoạt nghe có vẻ chỉ là những tâm niệm sinh diệt lăng xăng
nếu khéo lắng đọng sẽ biến mất. Nhưng người có thực
hành Thiền Định sẽ thấy vấn đề không đơn giản như
vậy. Năm triền cái (che phủ) này quả thật là lớp mây mờ
che phủ tâm. Khi lớp mây mờ này chưa tan, người tu thiền
dễ bị hôn trầm tán loạn, thấy tâm mình nhỏ hẹp u ám.
Một hôm lớp mây triền cái này chợt tan, hôn trầm tán loạn
biến mất tâm trở nên khoáng đạt sáng tỏ. Như vậy người
hành giả bắt đầu được định, tham sân mỏng nhạt, tự
tin chắc chắn vào sự tu hành giải thoát. Tìm thấy niềm
an vui thanh thản hơn mọi trò vui thế gian nào khác.
Nhưng
do đâu triền cái bị phá vỡ?
Dĩ
nhiên ai cũng thấy rằng do phương pháp nhiếp tâm tu tập Thiền
Định nên triền cái được phá vỡ. Vấn đề không đơn
giản như vậy! Chính do công đức trì giới góp phần lớn
lao trong việc phá vỡ triền cái. Như thế phương tiện tu
thiền và công đức trì giới họp lại phá vỡ triền cái.
Bảo rằng do phương tiện tu thiền phá được triền cái,
chúng ta dễ chấp nhận, vì điều này có thể suy luận được.
Còn công đức trì giới là cái gì nghe mơ hồ khó thấy. Thật
vậy, sự góp phần của công đức trì giới khó thấy như
chúng ta vẫn thường khó thấy các hiện tượng Nhân Quả
Nghiệp báo khác. Tại sao người làm ăn thất bại, tại sao
người kinh doanh thành công, phước lực đã chi phối hầu
hết mà không ai nhìn thấy. Cũng vậy, công đức trì giới
rất là mầu nhiệm và cũng rất là khó thấy. Tại sao công
đức trì giới lớn lao như vậy? Chúng ta không thể chỉ ra
một cách cụ thể chỗ cao cả của công đức trì giới này,
chỉ cử một ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề. Một hôm
Ajatasattu đến hỏi Phật về quả báo hiện tại của Sa Môn.
Phật nêu ra mười ba lợi ích, nhưng ở đây chúng ta trích
lợi ích đầu tiên (Trường Bộ Kinh 1. Kinh Sa Môn Quả). Phật
bảo:
“Đại
Vương nghĩ sau, nếu đại vương có một người nô bộc dậy
sớm thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của đại vương
một cách chu đáo, người ấy tự nghĩ do công đức quá khứ
nên đại vương được địa vị như hiện tại, và người
ấy muốn đi tìm công đức, nên cạo bỏ râu tóc, khoác áo
casa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo.
Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống với sự chế ngự
thân, lời nói, ý nghĩ biết đủ với nhu cầu tối thiểu
về ăn uống, y phục, hoan hỉ sống an tịnh.. .Biết điều
này đại vương có bảo người đó trở lại làm nô bộc
cho đại vương như trước chăng?”
“Bạch
Đại Đức (Lúc này, vua chưa quy y, chỉ mới gặp Phật lần
đầu), không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người
ấy, đứng dậy khi trông thấy người ấy, mời người ấy
ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như
y phục, túc xá, thuốc men để trị bệnh và chúng con sẽ
ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo pháp luật.”
“Này
Đại Vương, Đại Vương nghĩ thế nào, nếu thật như vậy
thì đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại
của hạnh Sa Môn?”
“Bạch
Đại Đức, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện
tại của hạnh Sa Môn.”
Nếu
so về phước của thế gian thì người nô bộc kia kém xa vua
A Xà Thế. Nhưng nếu hành trì công đức xuất thế gian, bỗng
nhiên người ấy đứng vào địa vị cao cả hơn nhà vua mà
chính nhà vua phải công nhận. Khi trì giới một cách thầm
lặng, dường như vị này chỉ có tự lợi, nhưng trong cái
tự lợi thầm lặng riêng mình, vị này đã làm gương mẫu,
làm niềm tin cho mọi người và đánh thức Đạo Đức lương
tâm của họ. Sự thanh tịnh trong giới luật của một vị
Tăng khiến cho mọi người tin rằng tu hành là việc có thể
làm được.
Phải
công nhận rằng khi sự chấn hưng Phật giáo trong thời kỳ
phôi thai, giáo lý chưa được phổ cập, thì tư cách của
phái khất sĩ do Đức Minh Đăng Quang dẫn đạo đã gây được
niềm tin rất nhiều cho quần chúng ở miền Tây. Trong sự
tu hành giải thoát việc tự lợi luôn luôn tỏa ra sự lợi
tha một cách tự nhiên. Công đức trì giới được tán thán
vì có thêm điều này.
Lại
nữa, xét theo tương quan tâm lý, nếu đủ ý chí để giữ
giới, người này đủ sức dứt khoát với vọng tưởng. Người
tu thiền khó tiến vì không dứt khoát với vọng tưởng, lại
hay dây dưa nhì nhằng với nó. Ý chí dứt khoát rất cần
thiết cho việc tu thiền tập định. Ý chí của quyết tâm
trì giới đưa đến ý chí dứt khoát với vọng tưởng, và
như vậy ĐỊNH là kết quả tiếp theo đó.
Giới
là Đức của tự tâm, phạm giới là làm chuyện thất đức.
Hành vi giết người là hành vi độc ác bộc phát bởi triền
cái sân hận quá đáng. Dâm dục là hành vi ô nhiễm bộc phát
bởi triền cái tham dục. Trộm cắp là hành vi mờ ám bộc
phát bởi triền cái tham lam. Nói dối – xưng mình chứng Thánh
– là hành vi lường gạt tham cầu lợi dưỡng. Những
ác giới như vậy từ triền cái phát khởi, nuôi dưỡng trở
lại triền cái. Và khi triền cái nặng nề vây phủ thì chưa
có sở đắc sẽ không có sở đắc, đã có sở đắc sẽ
mất sở đắc.
Chúng
ta phải biết những lời dạy của Phật xuất phát từ kinh
nghiệm giáo hóa chúng sinh trong vô lượng kiếp. Phật biết
rõ chỗ ưu chỗ khuyết của từng phương tiện, biết mặt
trái mặt phải của từng đường đi nên đã dựng căn bản
giới, định, huệ để làm chỗ cho chúng sinh y cứ. Khi nghe
nói về lòng bàn tay, chúng ta phải hiểu rằng đã có lưng
bàn tay. Khi nghe nói về chỗ rốt ráo KHÔNG, chúng ta phải
hiểu rằng đã có đầy đủ giới, định, huệ. Thiếu giới
định huệ, lối về Niết Bàn đã bít lấp, dù có ngộ được
chút gì thì vẫn không thể tiến thêm và có khi bị thối
thất. Bởi vậy, chúng ta muốn tu hành giải thoát phải nghiên
cứu kỹ về giới bổn Patimokkha. Phải thấy rõ thâm ý tế
nhị của Phật trong từng giới nhỏ nhặt và cố gắng GIỮ
– GIỚI – TỪ – XA, nghĩa là tránh rất xa
những duyên sự có thể đưa đến ô nhiễm.
Ngoài
ý nghĩa giữ gìn sự vô nhiễm cho mình giới còn có ý nghĩa
quan trọng thứ hai, đó là tránh sự nghi ngờ của người
khác. Còn rất nhiều tế hạnh mà chúng ta phải khéo léo giữ
gìn để giữ niềm tin của phật tử đối với chư Tăng.
Mất niềm tin đối với chư Tăng họ sẽ gặp nhiều bất
hạnh. Chính vì lợi ích của chúng sinh mà vị xuất gia tu
hành cần phải giữ giới, và giữ trọn trên hai ý nghĩa.
“Sự
vô nhiễm cho chính mình và sự không nghi ngờ của Phật tử.”
3
– CÚNG HOA THÁP PHẬT
(Trích
Trưởng Lão Tăng Kệ, tr 65)
Khandasumana
Trong
thời Đức Phật tại thế, Ngài tái sinh trong gia đình của
vua Malla, làm vị hoàng tử. Ngài được đặt tên là Khandasumana.
(Bông lài), vì khi Ngài sanh, bông lài quanh vườn trổ hoa rực
rỡ thơm ngát. Lớn lên, Ngài tìm đến Đức Phật thuyết
pháp tại rừng xoài của Cunda ở Rava, bèn xuất gia và chứng
được sáu trí thánh. Với túc mạng minh, Ngài nhớ đến công
đức quá khứ khi cúng một nhánh bông lài tại tháp của Đức
Phật Kassapa. Trong khi tất cả bông hái được đều thuộc
về của Vua. Nhận thấy bởi hành động này giúp Ngài chứng
được quả Niết Bàn, Ngài nói lên bài kệ như sau:
“
Do một bông từ bỏ
Được hưởng tám ức năm
Sống trong cảnh cõi trời
Còn số năm còn lại
Ta được sống tịch tịnh”
NHẬN
XÉT:
Khi
nói đến đạo quả thành tựu, ai cũng thấy ngay bởi do sự
tinh tấn tu tập mạnh mẽ trước đó. Bát chánh đạo là đường
đưa đến Niết Bàn, Tứ Thiền Cửu Định là phương tiện
cốt lỏi, Thất giác chi là những giai đoạn cần thiết. Nhưng
nguyên nhân nào đã đưa đến sự khát khao giải thoát để
rồi từ sự khát khao này vị Tỳ Kheo tinh tấn vĩ đại đến
khi chứng Niết Bàn?
Chính
tâm trạng cung kính bậc giải thoát đã biến thành tâm trạng
khát khao giải thoát cho chính chúng ta. Thật vậy, chúng ta
đã kính phục phong cách điềm đạm vô biên của bậc giải
thoát, chúng ta đã xúc cảm trước lòng từ vô hạn, ngưỡng
mộ trước trí tuệ sâu thẳm, nghiêng mình trước sự vô
nhiễm thuần tịnh của bậc thánh nào đó. Chính sự kính
trọng tột độ này đã xuất khởi thành sự khát khao giải
thoát tha thiết cho chúng ta. Nếu mức độ kính trọng đạt
đến tuyệt đối, nghĩa là không còn chút nghi ngờ, chúng
ta sẽ thành tựu quả vị Alahán viên mãn. Nếu mức độ kính
trọng vừa phải, trong cái tin còn có chút nghi, chúng ta sẽ
thành tựu những quả vị thấp hơn là A Na Hàm, Tư Đà Hàm
và Tu Đà Hoàn. Rồi từ ba quả vị này chúng ta mới đạt
được niềm kính tin tuyệt đối bất thối chuyển nơi Tam
Bảo, và niềm tin tuyệt đối này hứa hẹn quả vị Alahán
ở vị lai.
Nhưng
nếu thật sự là niềm kính ngưỡng, tất nó sẽ biểu hiện
ra ngoài bởi bốn hành vi:
–
Đảnh lễ.
–
Tán thán.
–
Cúng dường.
–
Làm theo lời dạy.
Đầy
đủ bốn hành vi công đức này, sự kính tin được gọi là
viên mãn. Hành vi cúng hoa nơi tháp Phật Kassapa, của tiền
thân Ngài Khandasumana là một trong bốn hành vi công đức. Chúng
ta sẽ ngạc nhiên tại sao hành vi cúng hoa bình thường dễ
làm như vậy lại được công đức quá lớn lao, tám ức năm
nơi cõi trời và quả vị Alahán sau đó! Điều chắc chắn
là Khandasumana đã thuần thục trong thiện nghiệp, như một
ly đầy nước chỉ nhỏ thêm ít nước vào lập tức tràn
ra ngoài, cũng vậy Ngài chỉ thêm một công đức nhỏ liền
thành tựu đại phước báo. Hơn nữa, Ngài gan dạ bất chấp
lệnh cấm của Vua không cho ai hái hoa, đã hái cành hoa lài
cung kính đặt nơi tháp Phật. Sự gan dạ này nói lên lòng
kính trọng tột độ của Ngài đối với Đấng Chánh Giác
Kassapa. Niềm kính trọng tuyệt đối đó quả thật đã hứa
hẹn quả vị Alahán cho Ngài vào hôm nay. Hơn nữa, một phước
báo phụ đã bày tỏ khi Ngài sinh ra là hoa lài quanh vườn
trổ rực rỡ thơm ngát!
Đảnh
lễ là hành vi công đức đơn giản đầu tiên nói lên lòng
kính trọng. Chúng ta quỳ xuống cúi đầu dưới chân bậc
giác ngộ để tỏ ra rằng vị ấy là đấng cao cả còn chúng
ta thì nhỏ bé như cát bụi ở dưới chân. Nơi hành vi
này chúng ta xuất hiện được hai lợi ích. Một là sự khát
khao giác ngộ, hai là diệt trừ được ngã mạn. Ngoài phước
báo tâm linh, ở đời sau chúng ta sẽ được thân tướng cao
ráo.
Tán
thán là dùng lời nói, văn chương, hoặc âm nhạc để ca ngợi
sự cao cả của Đấng giác ngộ cho những người khác được
biết. Qua hành vi này, chúng ta lan truyền niềm kính trọng
của mình sang những chúng sinh khác. Và khi niềm kính tin Đấng
giác ngộ đã gieo vào lòng họ, sự bất hạnh của họ sẽ
được đẩy lùi để nhường chỗ cho phúc lạc hiện hữu.
Còn nơi chúng ta xuất hiện một đức tính quý báu: Tâm tùy
hỷ. Kẻ biết tán thán tức là biết vui mừng trước sự
thành tựu của người khác. Còn kẻ tật đố sẽ im lặng
khi nghe người khác thành công. Ngoài phước báo tâm linh, ở
đời sau chúng ta sẽ được những nét khả ái nơi miệng
và nơi lời nói.
Không
còn gọi là kính trọng nếu chúng ta không tuân thủ triệt
để những lời dạy của chân sư. Tất cả những nghiệp
công đức từ trước như đảnh lễ, tán thán, cúng dường
chỉ để chuẩn bị cho nghiệp công đức thứ tư: Làm theo
lời dạy. Và chính hành vi thứ tư này quyết định đạo
quả của chúng ta. Trong một pháp hội, người đệ tử làm
đúng hoàn toàn theo lời dạy của chân sư rất ít, đa số
sơ sót điểm này điểm khác. Nếu ai gắng làm tròn lời dạy
của chân sư, đạo quả thù diệu là kết quả gần kề.
4
– THỐI THẤT ĐẠO QUẢ
(Trích
sử 33 vị Tổ Thiền Tông, tr. 111)
Tổ
Xà Dạ Đa (Lajarta) thống lãnh đồ chúng du hóa các nước,
lần lượt đến thành La Duyệt, gặp số tăng chúng học đạo
với sự lãnh đạo của Ngài Bà Tu Bàn Đầu (Vasubandhu). Ngài
Bàn Đầu tu khổ hạnh rất chuyên cần vất vả. Tổ biết
nhân duyên, muốn khai thị nên nói lời chê bai sự tu hành
của Ngài. Cuối cùng qua một bài kệ, Ngài ngộ đạo, trình
kệ tán thán Tổ. Tổ hỏi:
“Ta
nói trái ý ông, tâm ông được chẳng động chăng?”
Bàn
Đầu thưa:
“Đâu
dám động tâm. Con nhớ bảy đời về trước sanh cõi an lạc,
vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt Tịnh làm thầy.Thầy
Nguyệt Tịnh dạy con: “Không bao lâu nữa, ngươi sẽ chứng
quả Tư Đà Hàm, nên siêng năng tinh tiến. Phàm tu hành như
trèo lên cao, phải cố gắng tiến dần lên không cho sụt xuống.
Nếu lở có sụt, muốn trèo lên lại cũng khó”. Lúc đó
con đã 80 tuổi, nương gậy mới có thể đi được. Khi ấy
gặp Bồ Tát Đại Quang Minh xuất thế, con muốn đến lễ
Ngài, bèn đi đến Tinh Xá, lễ bái xong trở về chợt gặp
thầy Nguyệt Tịnh quở trách: “ Dốt quá, tại sao ông lại
khinh cha trọng con? Hôm trước ta thấy ông sắp được chứng
quả, hôm nay đã mất”. Con nghe ngơ ngác cầu xin Thầy Nguyệt
Tịnh chỉ lỗi. Thầy Nguyệt Tịnh dạy: “Vừa rồi ngươi
đến đảnh lễ Bồ Tát Đại Quang Minh, tại sao lại dựng
cây gậy vào mặt Phật vẽ trên vách, ngươi do lỗi này nên
sụt quả vị”. Con nhớ kỹ lại, thật đúng như lời thầy
Nguyệt Tịnh quở. Từ đó về sau, phàm có nghe lời nào chẳng
dám không tin”...
NHẬN
XÉT:
Chúng
ta không tìm thấy nước An Lạc là chỗ nào và Bồ Tát Đại
Quang Minh là ai, chỉ biết rằng bảy đời trước Ngài Vasubandhu
ở trong một xứ sở có Phật giáo. Có lẽ Ngài gặp Phật
Pháp đã đứng tuổi nên đến tám mươi mới được hứa
khả sắp chứng Tư Đà Hàm. Tiếc thay, do một hành vi sơ xuất
bất kính nơi hình tượng Phật bằng cách dựng cây gậy vào
đấy nên Ngài tổn phước, đạo quả sắp đến liền biến
mất.
Qua
câu chuyện này chúng ta thấy tội và phước ảnh hưởng rất
lớn đến đạo quả, không phải là chuyện tầm thường.
Nếu ngài Khandasumana thành tựu Niết Bàn bởi hành vi cúng
hoa cung kính nơi tháp Phật thì tiền thân Ngài Vasubandhu đã
thối thất đạo quả bởi hành vi tựa gậy có vẻ bất kính
nơi hình tượng Phật. Sự bất kính đối với thánh tượng,
tháp miếu khiến cho một người sắp chứng đạo quả bị
thối thất, còn nói gì đến việc bất kính đối với thánh
thể của bậc giác ngộ khi còn tại thế.
Trong
giới và luật của người xuất gia có răn chế rất kỹ lưỡng
những hành vi tỏ vẻ bất kính nơi thánh tượng và tháp miếu.
Chúng ta không được tiểu đại; không được khạc nhổ;
vất rác rưởi xung quanh tháp miếu và thánh tượng. Không
nên đội nón đi ngang tượng tháp; nên khẻ cúi đầu khi đi
ngang tượng tháp; không nên ngồi nằm đưa chân về tượng
tháp; không nên ăn mặc hở hang nơi tượng tháp; không nên
bài trí thánh tượng quá thấp; nên giữ oai nghi nghiêm chỉnh
nơi tượng tháp. Nói chung chúng ta phải thể hiện sự kính
trọng nơi tượng tháp, dè dặt những hành vi vô lễ đối
với nơi tượng tháp để giữ gìn phước đức trợ giúp
cho sự tu hành về sau.
Ngoài
tội do sự bất kính đối với tượng tháp, kinh điển, còn
có những tội thuộc về thế gian cũng khiến ngăn trở đạo
quả. Trong lần đầu đến gặp Đức Phật, Vua Ajatasattu (A
Xà Thế) đã được Đức Phật ưu ái dành cho một thời pháp
dài (Kinh Sa Môn Quả) sau khi ông đảnh lễ lui ra, Đức Phật
nói với chúng Tý Kheo rằng:
“
Này các Tỳ Kheo, tâm của vị vua ấy rất ăn năn, tâm của
vị vua ấy rất hối quá. Nếu vị Vua ấy không hại mạng
của Vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì ngay tại chỗ
này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn không triền cấu,
không cấu uế.”
Như
thế tội giết cha đã đánh mất cơ hội chứng đạo quả
Tu Đà Hoàn của Vua A Xà Thế.
Chúng
ta đã biết pháp nhãn khai mở do triền cái tan vỡ, mà triền
cái là duyên hợp giữa si mê và tội lỗi. Muốn triền cái
tan vỡ phải do công năng đối trị của trí tuệ và phứơc
đức. Trí tuệ đối trị si mê, phước đức đối trị tội
lỗi. Đủ hai điều kiện này, triền cái sụp đỗ, cõi tâm
mở ra thênh thang khoáng đạt sáng tỏ. Người thường tạo
tội tức là triền cái tham dục và sân nhuế được duy trì
củng cố. Sự giết hại vua cha của A Xà Thế xuất phát bởi
lòng tham địa vị quá độ và tâm địa ác độc thù hận.
Bởi hai triền cái này kiên cố nên dù được Thế Tôn đánh
thức trí tuệ, nó vẫn không tan để cho vua chứng đạt Pháp
nhãn Tu Đà Hoàn ngay lúc ấy. Chúng ta cũng dễ thấy người
thường tạo nghiệp nhiều quá rất khó tiến tu Thiền Định,
vì triền cái hiện hữu tức là hôn trầm tán loạn hiện
hữu. Thế nên trong phần nói về tu tập Từ tâm Đức Phật
cho biết với phương pháp quán tưởng phát triển Từ tâm
trợ giúp rất nhiều cho Thiền Định giải thoát là ý này.
Khi Từ tâm được khởi xuất, được duy trì, được thắp
sáng thì tham dục và sân nhuế bị đẩy lùi và tiêu diệt.
Tham dục và sân nhuế vắng bóng thì ba triền cái còn lại
hôn trầm, trạo cử, nghi – rất dễ bị phá vỡ bởi
sức quán chiếu của trí tuệ. Nếu vừa tu tập Từ tâm vừa
làm lợi ích chúng sinh THEO CHÁNH PHÁP thì phước đức đủ
để đối trị với tội lỗi quá khứ, người này chỉ còn
tiến hành dụng công thiền quán để đi hết con đường còn
lại.
Nhưng
trường hợp Angulimala thì thế nào, một kẻ mượn tạm ngón
tay út gần nghìn người bộ hành, tại sao lại chứng được
Niết Bàn viên mãn của Alahán?
Dĩ
nhiên chỉ dựa vào những sự kiện trong một đời thì không
thể đánh giá Nghiệp báo Nhân Quả của một người. Chúng
ta không nghe nhắc đến những công hạnh quá khứ của Tôn
Giả Angulimala chỉ biết về tôn giả với những nét
trong đời cuối cùng ấy như sau.
Thuở
chưa gặp Phật, Tôn Giả theo học đạo với một người Bà
La Môn. Tôn giả là người đệ tử thông minh, nghiêm nghị,
giới hạnh đầy đủ, dung mạo đẹp đẽ khôi ngô, và những
yếu tố này đã làm thổn thức trái tim người vợ của ông
thầy. Sau một lần gạ gẫm tỏ tình và bị từ chối dứt
khoát, tự ái bị va chạm nặng nề, lòng say mê biến thành
niềm thù hận, bà thỏ thẻ với chồng rằng Angulimala đã
lén tán tỉnh bà và bị cự tuyệt. Bà yêu cầu chồng đừng
nóng nảy tỏ thái độ và kêu la chất vấn, hãy tương kế
tựu kế đưa Angulimala vào cực hình và tù tội. Ông thầy
Bà La Môn giận tím gan nhưng nén xuống, ân cần gọi chàng
đến khen ngợi đủ điều.Cuối cùng ông cho biết có một
bí quyết tu tập mầu nhiệm cần phải truyền dạy cho Angulimala
nếu chàng tìm đâu được một ngàn ngón tay út bên phải.
Nghe nói chàng choáng váng, nhưng ông thầy đã trấn an, giải
thích, hứa hẹn mọi việc tốt đẹp vinh quang của bí quyết
về sau để thúc đẩy chàng hành động. Tà kiến còn vây
phủ, chánh kiến chưa trổi dậy, tâm mến đạo tha thiết,
và thế là Angulimala vâng lời cầm gươm ra đi. Phần sau câu
chuyện rất cảm động mà có lẽ ai cũng đã biết qua.
Như
thế Angulimala hoàn toàn không phải là người ác độc, chỉ
vì lòng mến đạo quá tha thiết nên Tôn Giả đã trở thành
tên tướng cướp kỳ cục, không lấy bất cứ tài vật nào,
chỉ xin đỡ ngón tay út bên phải của kẻ lữ hành nào đi
ngang, kết thành xâu chuỗi đeo quanh cổ. Tôn giả đã trả
báo rất nhẹ trong một lần đi khất thực, và tâm thiết
tha mến đạo đã đưa Tôn giả đến giây phút vinh quang khi
mọi vô minh lậu hoặc hoàn toàn chấm dứt.
5
– QUẢ VỊ DỰ LƯU
(Trích
Tương Ưng Bộ kinh 5, tr 398)
Lúc
bấy giờ Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavathu,
khu vườn cây bàng.
Rồi
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y cầm bát, đi đến nhà của
Thích nữ Kàligodhà và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Rồi
Thích Nữ Kàligodhà đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một
bên. Thế Tôn bảo với Thích nữ Kàligodhà:
“Thành
tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự
lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng đạo quả
giác ngộ. Thế nào là bốn?
“Ở
đây, này Godha, vị nữ thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với Đức Phật: Đây là Thế Tôn, bậc
Alahán, Chánh đẳng giác, bậc Minh hạnh túc, Thiện thệ, Hiểu
biết thế gian, bậc Vô thượng, bậc Điều ngự những ai
đáng được điều ngự, bậc Đạo sư loài trời và loài
người, Phật Thế Tôn.
“Vị
ấy có lòng tin bất động đối với pháp. Pháp do Thế tôn
khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời,
đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ được
người thấy tự mình giác hiểu.
“Vị
ấy có thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng.
Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là
chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là đệ tử của
Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn. Tức
là bốn đôi tám chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung
kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp
tay, là phước điền vô thượng ở đời.
(“Vị
ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không
bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị vết dơ, không
bị ái nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán
thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền Định.”)
“Vị
này trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham,
bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp
ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí, không
có đôi bàn tay nắm lại.”
“Này
Godhà, thành tựu bốn (hoặc năm) pháp này, một nữ thánh
đệ tử là bậc Dự lưu, không bị thối đọa, quyết chắc
chứng quả Bồ đề”
“Bốn
(hoặc năm) Dự Lưu phần được Thế Tôn thuyết giảng này,
bạch Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện đầy
đủ những pháp này. Bạch Thế Tôn. Con thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với Phật, Thế Tôn,... đối với Pháp...
đối với chúng Tăng....Phàm những vật gì của gia đình dành
cho việc bố thí, tất cả đều được phân phát cho những
người có giới và những người làm thiện!”
“Lợi
đắc thay cho ngươi, này Godha! Thật khéo lợi đắc thay cho
ngươi, này Godha! Godha, ngươi đã tuyên bố về Dự lưu quả”
NHẬN
XÉT:
Dự
lưu nghĩa là dự vào dòng Thánh. Đây là tầng bậc Thánh đầu
tiên của bốn Thánh vị giải thoát. Người đến được quả
vị này sẽ không còn thối đọa vào ba ác đạo, sẽ tăng
tiến mãi cho đến khi chứng đạo quả Niết Bàn Alahán.
Hệ
thống Bắc Tông, Ahàm cho quả Dự Lưu là Thất Lai, bảy lần
tái sinh cõi người sẽ chứng Alahán. Hệ Nam Tông Nikaya không
kỳ hạn thời gian, chỉ định nghĩa rằng:
“Không
còn đọa ác đạo, nhất định đi đến giải thoát”
Và
sự thật thì hệ Nam Tông Nikaya đúng hơn. Có người chứng
quả Dự Lưu từ thời Đức Phật rồi mãi đến nay, qua rất
nhiều lần tái sinh, vẫn chưa chứng Alahán. Có người còn
phải đi mãi đến đời Phật Di lặc sau mới chứng Alahán.
Nhưng cũng có người chứng quả Dự Lưu xong rồi chứng Alahán
không bao lâu. Tùy nhân duyên và sức tinh tấn của mỗi người.
Nói
đến quả vị là nói đến trình độ của tâm linh. Phải
ở mức độ tâm linh nào đó một vị mới được gọi là
Tu Đà Hoàn. Mức độ đó, ở bài kinh khác, Phật gọi là
được Pháp nhãn thanh tịnh, không trần cấu. Nhưng ở bài
kinh này, Phật đưa ra bốn (hoặc năm) biểu hiện bên ngoài
để đánh giá một người đã vào quả vị Dự Lưu. Những
quả vị này xuất phát từ một sở đắc tâm linh thật sự,
không phải xuất phát từ hình thức hời hợt bên ngoài. Do
có sở đắc tâm linh đó, vị này tin được Đức Phật là
Đấng Chánh Đẳng Giác. Thật vậy, ai cũng cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Đức Phật, nhưng niềm kính tin vẫn khác nhau.
Người chưa đạt được lợi ích thiết thực của tâm linh
sẽ có một mức độ kính tin vừa phải. Chỉ có người đạt
được lợi ích thiết thực mới có niềm kính tin Đức Phật
một cách trọn vẹn vì thấy rằng quả thật chỉ có Đấng
giác ngộ tối thắng trên đời mới đem đến ích lợi vi
diệu của sự giải thoát vượt hơn mọi trò vui cấu uế
của thế gian.
Lại
nữa, sở đắc tâm linh khiến cho vị này nhận thấy rằng
lời dạy của Thế Tôn không hứa hẹn một viễn ảnh mơ
hồ nào, rất là thiết thực trong từng phút giây hiện tại,
đến để thấy biết chứ không phải tin suông, và người
có trí đều có thể giác hiểu không khác nhau dù họ ở khác
nhau mọi thời và mọi xứ.
Từ
chỗ an lạc của mình, vị này tin được rằng chúng Tăng
theo sự hướng dẫn của Thế Tôn đã đạt quả vị theo bốn
đôi tám chúng đều là những bậc có đức hạnh thanh tịnh,
chơn chánh, chất trực, đúng pháp, là phước điền vô thượng
cho chúng sinh gieo trồng thiện căn lên đó. Thật vậy, người
gian trá thì hay nghi ngờ kẻ khác, người nói dối thì ít
tin lời của ai, tâm lý khách quan là như vậy. Còn người
chân thật thì dễ tin. Chúng ta vẫn thường suy bụng ta ra
bụng người. Bồ Tát Thường Bất Khinh sau khi đốn ngộ được
tri kiến Phật, tự thấy ai cũng có Phật tánh, nếu khéo tu
tập đều có thể trở thành Phật, nên Ngài có niềm tin tưởng
mãnh liệt rằng:
“Tôi
không dám khinh các Ngài vì các Ngài đều sẽ thành Phật.”
(Kinh Pháp Hoa)
Trong
một đoạn văn đăng trên báo giác ngộ, sư cô Thuần Chánh
diễn tả ý này rất khéo rằng thuở nhỏ cô không tin ai vì
chính cô thường hay qua mặt người lớn. Sau này lớn lên,
một lần người chị nhờ cô lấy giùm cuốn nhật ký và
dặn đừng xem. Cô giữ lời hứa, trao tập nhật ký cho người
chị với đôi mắt nhìn thẳng không hổ thẹn “Từ đó tôi
tin cuộc đời”.
Khi
chính mình được pháp nhãn thanh tịnh, những tham, sân bắt
đầu được kiểm soát (chứ chưa hết) vị này tin nơi chính
mình và tin những vị có thực hành như mình hoặc hơn mình
rằng họ cũng là những người thanh tịnh trong giới đức.
Còn tâm trạng hồ nghi đủ thứ phải biết nó được xuất
phát từ nội tâm phiền động bất an.
Lại
nữa, sở đắc tâm linh này đủ để vị ấy phân biệt thiện
ác rõ ràng, thấy được sự cần thiết của giới cấm và
kỹ lưỡng gìn giữ. Thật ra không phải ngoại đạo không
có sở đắc tâm linh, nhưng sở đắc của họ không đủ và
không đúng khiến cho họ xem thường giới luật. Họ thường
tự cho dù có phá giới vẫn không lay động đến chỗ tâm
chứng của họ. Quan niệm này giúp chúng ta không lẫn lộn
giữa ngoại đạo và đạo Phật. Vị Dự lưu này giữ đủ
những giới mà chư Thánh ái kính, giữ một cách hoàn hảo
không tỳ vết vì thấy ích lợi của nó rõ ràng. Do thành
tựu giới pháp nên vị này vĩnh viễn không đọa vào ác đạo
và đủ công đức để tiến sâu vào Thiền Định.
Lại
nữa, mức độ tâm linh của vị Dự Lưu khiến vị này xa
rời tâm bỏn xẻn, chất chứa, ích kỷ, trở nên rộng rãi,
khoáng đạt, cởi mở và vị tha. Vị này thấy rõ tính cách
tạm bợ của thế gian, tài vật không còn đáng quí như trước
khi mà niềm vui của tâm bắt đầu tỏa sáng. Do không còn
ích kỷ, không còn xem nặng tài vật, vị này bỗng nhiên mở
rộng bàn tay, “không có đôi bàn tay nắm lại”. Không thể
nào tưởng tượng một bậc Thánh thiện lại không thuần
thục trong hành vi bố thí. Bố thí là phước nghiệp của
thế gian, cũng là công đức xuất thế gian, và cũng là mật
hạnh của Bồ Tát đạo. Bố thí là cánh cửa mở ra khỏi
ngục tù tam giới. Do sự khoáng đạt của tâm nên vị Dự
Lưu dễ dàng bố thí, nhưng cũng chính hành vi bố thí –
buông xả – này giúp cho vị ấy sớm buông xả những
vọng chấp trong tâm. Người bỏn xẻn, không xả tài vật
một cách khó khăn cũng là người buông xả vọng tưởng một
cách cực khổ.
Năm
điều trên – kính Phật, tin Pháp, tin Tăng, trì giới
và bố thí – là năm biểu hiện của một vị đã vào quả
Dự Lưu, là năm tia sáng xuất phát từ Pháp nhãn thanh tịnh
không trần cấu.
Nhưng
đặc điểm nào đã khiến cho một người đã có sở đắc
tâm linh như vậy phải trở lại nhiều lần (Tu Đà Hoàn) hoặc
một lần (Tư Đà Hàm) hoặc không trở lại cõi người (A
Na Hàm) hoặc ngay đây được Niết Bàn viên mãn (Alahán)?
Chúng
ta có thể tự xem nhân ra sao sẽ đưa đến quả vị như vậy.
Không
phải được Pháp nhãn rồi là trần cấu hoàn toàn không còn
rơi vào tâm. Trần cảnh rơi vào tâm có nghĩa là những hình
ảnh còn đọng lại kéo dài trong tâm, nhưng cũng có nghĩa
là mắt tai có phần nào chú ý khi nhìn, khi lắng nghe.
Khi nhìn, khi nghe chúng ta còn có chút phần chú ý mà chưa thể
hoàn toàn bình thản lạnh nhạt thì phải biết rằng duyên
với trần gian này chưa hết. Chúng ta còn thấy trần gian có
phần quan trọng. Nhân như thế là kết quả là sự còn trở
lại trần gian của chúng ta. Bậc A Na Hàm thì cắt hẳn duyên
với trần cảnh, tâm tại tâm, cảnh tại cảnh, cảnh không
đến tâm, tâm không đến cảnh. Nhân như thế là kết quả
là sự không còn trở lại trần gian này nữa.
Riêng
bậc Alahán thì siêu thoát hẳn cả tâm và cảnh, trần gian
không còn là chỗ để đắm luyến hay rời bỏ, sở đắc
chấm dứt, thật sự vô ngã, mà thật sự vô ngã tức là
tâm vị tha viên mãn hiện bày. Vị này thành tựu đại bi
tâm và diệu thắng trí. Tam giới không còn ràng buộc được
nữa, trừ phi vị này khởi nguyện lực vào sanh tử hóa độ
chúng sinh.
Chúng
ta cũng nên biết vô ngã cũng chính là vô pháp. Ngã và pháp
do đối nhau mà lập, ngã không thì pháp cũng mất. Nếu ai
nói, tuy vô ngã mà vẫn còn pháp, phải biết là không đúng.
Pháp còn thì ngã còn. Ngã hoàn toàn hết thì pháp hoàn toàn
không.
Ở
một định nghĩa khác của hệ phái Bắc Tông, quả vị Dự
Lưu được xem là phá xong ba kiết sử: giới thủ, nghi và
thân kiến.
–
Giới thủ là giữ giới mà tách rời giới khỏi ý nghĩa giải
thoát, nên trở thành cố chấp kỳ lạ. Còn một định nghĩa
khác là chấp vào sự kiêng cử của ngoại đạo.
–
Nghi là chưa trọn tin Tam Bảo.
–
Thân kiến là ích kỷ.
Người
vào quả vị Dự Lưu có cuộc sống rất vị tha từ ái mặc
dù chưa chấm dứt được các phiền não ái nhiễm khác.
6
– HAI HẠNG NGƯỜI SAI KHÁC
(Trích
Tăng Chi Bộ kinh 2A, tr 164)
“Có
bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là
bốn?”
“Ở
đây này các Tỳ Kheo, có hạng người ly dục, ly pháp, bất
thiện, chứng đạt và an trú thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm, có tứ. Vị ấy nếm
được vị ngọt của thiền ấy, ái luyến thiền ấy và do
vậy tìm được an lạc. Vị ấy an trú trên ấy, chú tâm trên
ấy, sống phần lớn với thiền ấy, không có thối đọa.
Khi thân hoại mạng chung được sinh cộng trú với chư thiên
ở Phạm chúng thiên. Tuổi thọ vô lượng của Chư Thiên Phạm
Chúng là một kiếp (theo chu kỳ tăng giảm của địa cầu).
Tại đấy kẻ phàm phu sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ
ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư thiên ấy,
đi đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Còn đệ tử Như
Lai tại đấy, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau
khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư thiên ấy, nhập Niết
Bàn trong hiện hữu ấy. Này các Tỳ Kheo, đây là sự đặc
thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh
đệ tử có nghe Pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp về vấn
đề sanh thú.
“Lại
nữa, này các Tỳ Kheo, ở đây có hạng người làm cho tịnh
chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú thiền thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội
tỉnh nhất tâm. Vị ấy... sinh về cõi Quang Âm Thiên thọ
hai kiếp...
“Có
hạng người ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, cảm thọ
diệu lạc... của thiền thứ ba... sinh về Biến Tịnh Thiên...
sống bốn kiếp...
“Thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh... sinh
về Quảng Quả Thiên... sống năm kiếp...”
NHẬN
XÉT:
Những
tầng bậc Thiền Định từ Sơ thiền đến Phi phi tưởng không
phải chỉ riêng của đạo Phật mà ngoại đạo cũng đến
rất nhiều. Bài kinh này đưọc Đức Phật dẫn riêng bốn
bậc thiền đầu để so sánh sự sai khác về sau của hạng
đệ tử Phật và phàm phu bên ngoài. Nếu một vị giữ gìn
rất kỹ không cho gián đoạn mức thiền đã chứng đạt,
sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về các cõi trời tương
ưng sống hết tuổi thọ nơi đó. Tuy nhiên, vì lý do nào đó,
kẻ không phải đệ tử Phật, khi hết thọ mạng tại cõi
trời sẽ trở lại, không được làm thân người, lại đọa
vào ba ác đạo. Chỉ duy đệ tử Như Lai, khi hết thọ mạng
cõi trời, liền thể nhập Niết Bàn. Sự sai biệt quá lớn
lao đến kỳ lạ khiến chúng ta ngạc nhiên nếu không tìm
thấy manh mối.
Chúng
ta sẽ đối chiếu sự sai khác về nhân để có thể tìm thấy
sự sai khác về quả.
Người
đệ tử Như Lai là người có quy y Tam Bảo, có cúi đầu quý
kính trước Đấng Chánh Đẳng Giác. Mà như đã nói, kính
tin bậc giải thoát là chánh nhân để thành tựu sự giải
thoát cho chính mình. Đệ tử Phật là người có được chánh
nhân như thế mà ngoại đạo không có.
Rồi
khi đã quý kính Như Lai, người này sẽ lắng nghe học hỏi
giáo lý do Như Lai tuyên thuyết, một giáo lý không phiếm diện
một chiều, không lạc vào tà kiến, không dừng ở giữa đường,
chỉ đưa đến tận cùng mục tiêu giải thoát, những thần
thông phép lạ được từ chối, mục đích trường sinh mạnh
khỏe được bỏ lại, những ái kiến ngã chấp được dứt
sạch. Nương nơi giáo lý tối thượng này, vị Thánh đệ
tử xa lìa những tà kiến thế gian, không nắm giữ những
nhân sinh quan, vũ trụ quan một cách lệch lạc, không tự mãn
với những thành quả giữa đường, thấy rõ Khổ và Nguyên
nhân của Đau khổ, tin hiểu Niết Bàn vượt khổ và Con đường
đưa đến Niết Bàn vượt khổ ấy.
Dù
khi được sinh về cõi trời tương ưng, vị Thánh đệ tử
không xem đấy là cứu cánh, không KIÊU MẠN nơi cảnh giới
ấy, không thành lập ngã chấp nơi cảnh giới ấy, tiếp tục
tu tập thuần thục những giai đoạn còn lại. Và như vậy,
sau khi mãn tuổi thọ của thiên giới, vị ấy nhập Niết
Bàn trong hiện hữu ấy.
Ngược
lại, kẻ ngoại đạo phàm phu dùng những phương tiện để
nhiếp tâm rồi cũng chứng được những tầng bậc Thiền
Định tương tự, sau khi thân hoại mạng chung cũng sinh về
những cõi trời tương tự nhưng tác ý ban đầu khác hẳn.
Họ
không biết rõ thế nào là khổ. Có khi họ cho ác báo là khổ
nhưng thiện báo là vui, hoặc cho cõi này là khổ và cõi khác
là vui, hoặc cho xúc não thế gian là khổ những cảm thọ
trong Thiền Định là vui. Họ dựng lập những quan niệm về
vũ trụ một cách sai lầm thiên lệch, hoặc do Thượng đế
sinh ra vũ trụ, hoặc cho tự nhiên sinh ra, hoặc cho hữu biên,
vô biên, thường, đoạn... Họ không có nhận thức về hang
ổ ngã chấp sâu kín. Họ dễ có những mục đích về thần
thông phép lạ, về trường sinh mạnh khoẻ. Do thiếu chánh
kiến nên họ không hướng về mục đích Niết Bàn cứu cánh.
Hơn nữa họ thường kiêu mạn nơi cảnh giới chư thiên. Không
gì tổn phước cho họ hơn tự cho mình đã giải thoát Niết
Bàn trong khi thật sự họ chưa hề đưọc giải thoát Niết
Bàn.
Với
những tà kiến lệch lạc như vậy, với mục tiêu hạn hẹp
như vậy, với sự kiêu mạn như vậy, chẳng những họ không
đến được Niết Bàn lại còn đọa trở vào ba ác đạo
sau khi hưởng hết phước báo cõi trời do Thiền Định đem
đến.
Chúng
ta phải phân biệt sự sai khác giữa tầng bậc Thiền Định
và thứ bậc đạo quả. Những tầng bậc Thiền Định được
đánh giá theo mức độ lắng sâu của niệm tưởng. Niệm
tưởng lắng sâu chừng nào, từng bậc Thiền Định tăng theo
chừng nấy. Còn thứ bậc của đạo quả được đánh giá
theo mức độ đoạn tận kiết sử. Trong bài kinh “Được
ngã tánh” – Tăng Chi1 – tr 207 – Đức Phật cũng phân biệt
hai hạng người cùng đạt Phi phi tưởng định. Một người
chưa dứt năm hạ phần kiết sử thì chưa phải đạt quả
vi Anahàm, còn phải trở lại cõi người. Một người dứt
được năm hạ phần kiết sử, đạt quả vị Anahàm, không
trở lại cõi người, sẽ thành tự Niết Bàn trong cảnh giới
đó.
Chúng
ta cũng thường nghe thấy các Yogi, Fakir (thuật sĩ), thầy phù
thủy, có định lựïc rất sâu, có thể khởi phát thần thông
phép lạ, nhưng họ vẫn là những ngoại đạo không đạt
một Thánh quả nào cả. Thế nên những tầng bậc Thiền Định
và những đạo quả Sa Môn khác hẳn với nhau, tuy có tương
quan.
Tứ
thiền là nơi rất gần với Bản thể Niết Bàn. Nếu vị
này phát khởi Tam minh, thấy được Tứ diệu đế, liền thành
tựu quả vị Alahán.
7
– XUẤT GIA
(Lấy
ý trong Pháp Cú truyện tích)
Sumangala,
là một nông dân nghèo khổ cô độc. Tài sản của chàng chỉ
là cây cuốc mòn, manh áo và chiếc chòi với ít vật dụng
sơ sài. Có những lần trông thấy các Tỳ Kheo đi khất thực
được sự đối xử ưu ái của các cư sĩ, chàng có ý định
đổi nghề, bèn gần gũi tìm hiểu và xin xuất gia. Chàng được
Trưởng lão chấp nhận cho vào Tăng đoàn và được thọ giới.
Nhưng không ngờ đời sống xuất gia quá nhiều giới luật
ràng buộc, vật thực xin được bữa nhiều bữa ít thất
thường, những cơn tọa thiền đằng đẵng đau chân quá độ.
Sau nhiều lần chán nản, chàng hoàn tục.
Đời
sống cư sĩ nghèo khổ trở lại với chàng cũng những nỗi
lo âu tính toán bất an khiến chàng nhớ đến đời sống xuất
gia tuy thanh bần nhưng mà thư thái. Chàng xin xuất gia như trước.
Các
tâm trạng mâu thuẫn cứ kéo chàng vào rồi lại kéo chàng
ra đến lần thứ sáu. Sau khi nhận thức nỗi khổ của trần
gian, tính cách vô thường của dục lạc, chàng tìm trở lại
Tinh Xá, vừa đi vừa tư duy về giáo lý. Vừa đến cổng Tinh
xá thì chàng đắc Pháp nhãn thanh tịnh, chứng quả Dự Lưu.
Trong lần xuất gia thứ sáu này, chàng chuyên cần tinh tấn
tọa thiền, nương theo sức ngộ, chàng đạt được tam thiền.
Thích thú với thánh quả, chàng thường xen vào lý luận về
sự tu tập với các vị trưởng lão. Các trưởng lão có ý
trách chàng thì các Tỳ Kheo trẻ khác bênh vực.
“Tôn
giả Sumangala có quyền trình bày những kinh nghiệm đã có.”
Một
trưởng lão lên tiếng:
“Những
sở đắc của Sumangala chưa hẳn đã giữ người này ở lại
đây lâu.”
Quả
nhiên trong một lần biến động, Tôn Giả Sumangala lại hoàn
tục. Nhưng rồi Tôn Giả cũng trở lại Tăng đoàn đến lần
thứ bảy, và nơi lần cuối cùng này, Tôn Giả chứng quả
Alahán. Khi Thế Tôn xác nhận về thắng trí của Tôn Giả,
các Tỳ Kheo khác ngạc nhiên hỏi Phật về nguyên cớ. Đức
Phật cho biết, đời Đức Phật Kassapa, Sumangala cũng đã là
người xuất gia. Một huynh đệ chán nản muốn hoàn tục đến
tâm sự, Tôn Giả đã đồng ý khuyến khích cho người kia
hoàn tục. Vì thế trong đời sống cuối cùng này, trước
khi chứng đạt Niết Bàn, Tôn Giả phải chịu hơn sáu lần
hoàn tục.
NHẬN
XÉT:
Theo
lời Phật, đời sống xuất gia là điều kiện thù thắng
nhất để một người có thể chứng đạt quả vị Alahán.
Đời sống các Tỳ Kheo thời Đức Phật tại thế rất là
đơn giản và thánh thiện, đẹp như chuyện thần thoại và
cao cả như trăng mùa thu. Những giới luật được giữ gìn
chu đáo đã bảo vệ các Tôn Giả ra ngoài những bận tâm
lo lắng. Điều kiện vô tư lý tưởng đó không làm cho những
kiết sử trổi dậy và phát triển. Kiết sử đã thúc đẩy
chi phối chúng sinh tạo nghiệp, nhưng cũng chính những tác
nghiệp trở lại củng cố và phát triển cho kiết sử. Đời
sống gia đình với vô số ràng buộc về ái trước, với
vô số trách nhiệm phải lo âu, với vô số bất an và phiền
muộn, khiến cho kiết sử một người có điều kiện khởi
lên và phát triển. Còn đời sống xuất gia thời Đức Phật
được qui định sắp xếp cặn kẻ để giữ một vị Tỳ
Kheo trong thênh thang trơ trọi với tấm y hoại sắc phất phơ
bay theo gió sớm, với đôi tay ôm bình bát nhỏ bé đơn sơ,
với bước đi giữa trần gian ung dung phơi phới. Kiết sử
của vị này không bị khơi động, trái lại, công năng của
thiền quán sâu xa từng bước phá tan những rớt rơi còn lại.
Đời
sống xuất gia lý tưởng như vậy, tuy nhiên không phải ai
cũng đủ duyên để có được đời sống đó. Đời sống
xuất gia được thành tựu bởi hai điều kiện, phước duyên
từ quá khứ và nguyện lực của hiện tại.
Thật
vậy, nếu không có duyên phước từ quá khứ, một người
không thể được xuất gia làm Tăng. Và nếu đời này thiếu
nguyện lực mạnh mẽ, việc xuất gia cũng không thành tựu.
Có
người đời trước làm Tăng, không phạm giới trọng, những
giới khinh có phạm đều được sám hối, thì đời này sẽ
được làm Tăng trở lại. Nhưng thân Tăng đời này là cao
Tăng hay liệt Tăng thì tùy theo công năng tu hành của đời
trước. Nếu người, ngoài việc trì giới chu đáo, có tu định,
tu huệ, tu phước, thì thân sau là vị Tăng có uy đức lớn.
Ngược lại nếu người tuy có trì giới nhưng thiếu tu định,
tu huệ, tu phứớc thì thân sau làm Tăng tầm thường. Đó
là nói theo phương diện làm Tăng nối tiếp.
Có
người chưa từng làm Tăng, nhưng do biết kính trọng Chư Tăng,
biết giữ năm giới chu đáo, cũng có phước sẽ được
làm Tăng. Nhưng muốn cho khi đã đủ phước làm Tăng, người
này sẽ là vị Tăng khả kính, có uy đức thì những khi còn
là cư sĩ họ phải tu thêm về Thiền Định, trí tuệ, thân
cận cúng dường học hỏi với những vị Thánh Tăng. Không
gì thành tựu Tăng phước nhanh chóng và lớn lao bằng thân
cận cúng dường học hỏi với bậc chân sư đạt đạo. Người
nào đã từng có cơ duyên hội ngộ với bậc Thánh và biết
đem trọn lòng tin kính, người này sẽ nhanh chóng được phước
làm Tăng.
Do
giới hạnh trong hiện tại nên một vị xuất gia được sự
cung kính cúng dường của cư sĩ. Tuy nhiên địa vị khả kính
đó cũng xuất phát từ công đức cung kính mọi người, cung
kính bậc Thánh nào đó trong quá khứ. Do phước phổ kỉnh
đó nên người này thành tựu vị trí của vị Tăng đáng
kính. Nhưng nếu ai chỉ lo gieo phước phổ kỉnh mà thiếu
giới hạnh chân thật sẽ chỉ được phước mà kém đức.
Đức của vị Tăng chính là giới hạnh trong đời sống hiện
tại.
Khi
đã được làm Tăng rồi, nếu vị này vuông tròn giới hạnh,
tiến tu định huệ sâu xa, những cấu uế của tham, sân, tật
đố, kiêu mạn, ích kỷ,... được kiểm soát để từ bỏ
dần dần, vị này là vị Tăng sáng chói uy đức, đạo quả
đang đợi chờ, nẻo ác đã đóng lại, lối thiện rất thênh
thang.
Ngược
lại, nếu đang được làm Tăng, nhưng vị này không học tập
giới hạnh kỹ lưỡng, không kiểm soát để từ bỏ những
cấu uế của tham, sân... lại có thói quen công kích kẻ
này, chỉ trích kẻ kia, có khi chủ quan đả phá luôn những
bậc tu hành chân chính. Người như vậy có thể mất phước
làm Tăng trong hiện đời, bỗng nhiên tự khởi ý niệm hoàn
tục.
Khi
hỏi về Bình thị giả, Thiền sư Minh An (Đồng thời với
Ngài Phần Dương Thiện Chiêu.) chỉ vào tim nói:
“Vì
trong này không tốt – rồi lấy tay chỉ vào hổ khẩu lòng
bàn tay – nên về sau sẽ chết tại chỗ này.”
Trước
khi tịch, Minh An lại nói:
“Ta
mất đến mười năm không có việc gì, qua mười năm sẽ
có Thái Dương Sơn đánh ta.”
Minh
An mất, Thái Dương Bình thị giả kế tiếp trụ trì. Mười
năm sau, Bình đòi quật mồ Minh An lên. Chúng hết sức ngăn
cản, Bình quyết thực hiện. Khai quan tài ra thì thi thể Minh
An tươi tắn hồng hào như còn sống, dầu và củi đốt mãi
không cháy. Bình tự tay cầm búa chẻ vỡ đầu Minh An, đổ
thêm dầu vào đốt cho kỳ được. Chúng phẩn uất đến báo
quan trấn sở tại. Quan truyền đuổi Bình ra khỏi viện, cởi
pháp phục bắt làm người thường. Bình đổi tên là Hoàng
Tú Tài, đi đâu cũng không được ai trọng dụng. Một hôm
Bình đến ngã ba đường bị cọp vồ chết đúng như lời
Minh An sấm ký.
Bình
thị giả có kiến giải về thiền đạo rất sắc bén khiến
cho các bạn đồng môn phải nễ phục và cả về sau đủ
uy tín để nối tiếp trụ trì. Nhưng Bình không biết dùng
sức sáng tỏ tỉnh giác của tâm để xoay lại trừ diệt
những cấu uế của tâm. Trái lại, đã dùng sở đắc của
tâm để tranh hơn với mọi người. Tâm trạng tranh hơn đó
càng dữ dội khi Bình muốn gạt bỏ tháp của Minh An ra khỏi
tự viện. Ác tâm quá mạnh khiến Bình đang tâm cầm búa chém
vỡ đầu của thầy mình khi mà thân thể của Ngài Minh An
sau mười năm vẫn tươi tắn không hoại.
Ngài
Minh An đã thấy trước sự kiện này mấy mươi năm và đến
khi xảy ra mọi người mới hiểu rõ.
Bình
thị giả đã làm việc tổn phước nặng nề nên phước làm
Tăng bị đoạn dứt liền ngay sau đó. Quảng tháng ngày còn
lại là cô độc thất thời bị cọp vồ chết nơi đầu đường
cuối ngõ.
Có
một số người tu thiền được một chút phần triền cái
tan vỡ, ngộ được một chút phần tâm sáng tỏ rỗng rang.
Nhưng họ không khéo dùng sức tỉnh giác đó để kiểm soát
những tập khí tham lam, sân hận, hơn thua và đoạn trừ hết
hẳn, trái lại, họ dùng sức tỉnh giác đó để phô bày,
để đối đáp thiền ngữ tranh hơn, tranh thua. Chưa có sở
đắc thì còn dễ thương, khi có chút sở đắc rồi thì ngã
mạn không ai chịu nổi người như vậy, sẽ không được
làm Tăng, và nếu đã được làm tăng có khi phải lui lại
thế tục.
Riêng
Ngài Sumangala đã chứng quả Dự Lưu, đã đạt đến tam thiền,
thế mà vẫn thêm một lần hoàn tục. Tôn giả không rơi vào
trường hợp đã nói, chỉ bị một quả báo từ quá khứ
xa xôi là đã tán đồng khi một huynh đệ muốn từ bỏ Tăng
đoàn trở về thế tục. Để trả quả báo này, trong đời
sống cuối cùng Tôn giả phải hơn sáu lần hoàn tục. Qua
sự kiện này chúng ta thấy chẳng phải nghiệp chỉ đơn thuần
chi phối hoàn cảnh hoặc thân thế, mà còn chi phối hướng
dẫn cả tâm niệm của chúng ta. Một người đã chứng Dự
Lưu, đã đạt Tứ Thiền mà còn khởi niệm hoàn tục là điều
ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, thế mà điều đó
vẫn có.
Nếu
chúng ta đã tạo ác nghiệp thì bây giờ phải chịu hậu quả,
điều đó ai cũng chấp nhận. Nhưng do đâu chúng ta lại khởi
tâm niệm muốn tạo ác? Do thói quen tạo ác đời trước chăng?
Do mối thù với đối tượng thuở xưa chăng? Có thể như
vậy, nhưng còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng,
đó là chỉ trích kẻ ác quá đáng! Thật vậy, nếu chúng
ta chỉ trích lỗi lầm của ai một cách quá đáng, về sau
chúng ta sẽ mắc phải những lỗi lầm giống hệt như thế.
Ông Edgar Casey đã tìm thấy nguyên nhân của bệnh đồng tính
(Homo sexuel) nơi một người chỉ vì trong quá khứ,
khi làm họa sĩ, người này đã vẽ những bức tranh khôi hài
để châm biếm những kẻ bị bệnh đồng tính.
Ngược
lại cũng vậy, nếu chúng ta thường tán thán ca ngợi sự
cao thượng Thánh thiện của bậc vĩ nhân nào đó, chúng
ta sẽ lần lượt thành tựu những đức tính đáng quí kia.
Tôn Giả Sumangala đã tán đồng hành vi hoàn tục của người
huynh đệ nên đời này tự mình khởi niệm hoàn tục. Nhưng
cũng do công đức tu tập sâu dày của quá khứ nên Tôn Giả
chiến thắng được ý niệm trước và... xuất gia đến
bảy lần để lần cuối cùng đoạn tận khổ đau.
Tuy
nhiên vấn đề cần phải đặt lại, đạo Phật không bao
giờ cố định một chiều. Nếu mọi tâm niệm đều là sản
phẩm của nghiệp quá khứ mà hiện tại chúng ta đành xuôi
tay chấp nhận thì không thể có sự tu hành giải thoát. Aùi
quá khứ sẽ tiếp tục sinh ra ái hiện tại và nối tiếp
mãi đến vị lai. Những duyên nợ vợ chồng ràng buộc, những
thù hận đấu tranh sẽ mãi mãi tái diễn để chúng ta phải
chìm sâu trong vũng bùn sinh tử. Nhưng may mắn thay, nguyên nhân
của đau khổ thuộc về triết lý chứ không (hẳn) thuộc
về Nghiệp báo. Nghiệp quá khứ có thể trổi dậy để chi
phối tâm niệm chúng ta, nhưng chúng ta có sức mạnh của giáo
lý, có sức mạnh của chánh tư duy, của chánh kiến, chánh
định... để có thể TỰ TẠI làm chủ tâm niệm đó. Gặp
lại kẻ thù tiền kiếp, tâm niệm sân hận và ganh ghét sẽ
trổi dậy ngự trị tâm ý chúng ta, nhưng công năng của Thiền
Định khiến chúng ta đủ sức chế ngự nó, kiểm soát nó
và hóa giải nó. Gặp lại người mến thương nhiều đời
tâm chúng ta sẽ trổi dậy niềm ưu ái quyến luyến khó xa.
Nhưng sức mạnh của chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh định,
sẽ đủ sức giúp chúng ta vượt bỏ nó, chiến thắng nó.
Như thế, nơi tâm niệm, giáo lý có thể thắng được Nghiệp
báo, và phải như vậy mới có sự tu hành giải thoát.
8
– HÒA HỢP TĂNG
(Trích
Tăng Chi 33, tr 76)
“Bạch
Thế Tôn, phá hoại hòa hợp Tăng đem lại kết quả gì?”
“Này
Ananda, đem lại tội ác kéo dài đến một kiếp.”
“Bạch
Thế Tôn, Tội ác gì kéo dài một kiếp?”
“Này
Ananda. bị nung nấu trong địa ngục một kiếp.
–
Kẻ phá hòa hợp Tăng
Bị
rơi vào đọa xứ
Bị
rơi vào địa ngục
Kéo
dài đến một kiếp
Ưa
thích sự bất hòa
An
trú trên phi pháp
An
ổn các khổ ách
Lại
xa lìa, từ bỏ
Ai
phá sự hòa hợp
Của
Tăng chúng Tỳ Kheo
Trong
một kiếp người ấy
Bị
nung nấu địa ngục.”
“Bạch
Thế Tôn, với chúng tăng bị phá, làm cho hòa hợp lại, đem
đến kết quả gì?”
“Này
Ananda, đem đến Phạm công đức!”
“Bạch
Thế Tôn thế nào là Phạm công đức?”
“Này
Ananda, trong một kiếp, được sống hoan hỷ ở thiên giới.
“Sống
an lạc là người
Làm
hòa hợp chúng Tăng
Sống
an lạc là người
Giúp
chúng Tăng hòa hợp
Ưa
thích sự hòa hợp
An
trú trên chánh pháp
Ai
khiến cho chúng Tăng
Được
sống trong hòa hợp
Trong
một kiếp người ấy
Sống
hoan hỷ Thiên giới.”
NHẬN
XÉT:
Tăng
là đoàn thể đệ tử xuất gia trong đạo Phật. Cùng quy y
Phật pháp, cùng giữ chung giới bổn và sống theo tinh thần
lục hòa.
Thân
hòa đồng trú
Khẩu
hòa vô tránh
Ý
hòa đồng duyệt
Giới
hòa đồng tu
Kiến
hòa đồng giải
Lợi
hòa đồng quân
Từ
những nguồn gốc sai biệt về giai cấp, dòng dõi, gia đình,...
nhưng khi đã bước vào đời sống xuất gia, các Tỳ Kheo đều
phải hòa hợp với nhau như nước với sữa. Sự hòa hợp
của chúng Tỳ Kheo là điều kiện vô cùng quan trọng để
Tăng bảo tồn tại lâu dài trong thế gian, mà Tăng bảo tồn
tại tức là Tam bảo tồn tại. Như thế, sự phá hòa hợp
Tăng đồng nghĩa với phá hoại Tam bảo, và quả báo của
việc phá hoại Tam bảo thì khó lường hết nổi thê thảm
của nó.
Kẻ
phá hòa hợp Tăng có thể dùng thủ đoạn nói hai luỡi, đến
nơi này nói thế này, đến nơi kia nói thế khác để gây
sự hiểu lầm ác cảm giữa chúng Tăng với nhau.
Rất
nhiều những thủ thật để gây ly gián chia rẻ nơi một đoàn
thể đông người. Còn Đề Bà Đạt Đa đã công kích Phật,
tôn xưng mình để lôi kéo một số Tỳ Kheo về phe của mình.
Cộng với tội làm thân Phật chảy máu, Devadatta bị đọa
địa ngục ngay trong hiện đời.
Tuy
nhiên tất cả những lối chia rẻ chúng Tăng như thế không
có nguy hại và ảnh hưởng lâu dài bằng sự độc tôn về
pháp môn. Thời Đức Phật tại thế, nhiều pháp môn tu hành
được chính Phật hướng dẫn nên sự sai khác về pháp môn,
không đưa đến sự chia rẻ. Sau khi Phật nhập diệt, tệ
độc tôn pháp môn càng lúc càng trở nên gay gắt. Ai sở trường
pháp môn nào thì chỉ tán dương pháp môn mình và cực lực
bài xích pháp môn của nơi khác. Mình chống báng người thì
người chống báng mình, cuối cùng Tăng đoàn chia năm xẻ
bảy với sự ác cảm đối với nhau. Quần chúng phật tử
bênh vực theo thầy tổ của mình nên cũng chia rẻ chống báng
lẫn nhau. Sự chia rẻ bởi độc tôn pháp môn để lại nguy
hại và ảnh hưởng lâu dài hơn cả.
Nếu
chúng ta trách họ tại sao độc tôn pháp môn thì họ sẽ chứng
minh
đủ cách về sự hợp lý cao siêu của họ và về sự vô
lý kém cõi của các pháp môn khác. Ngày nay đọc lại các
luận bản của các vị đại sư của một số tông phái, chúng
ta cũng còn thấy lối lập luận khen mình chê người như thế.
Phật giáo vì thế nhuốm màu sắc chia rẻ phân hóa lâu dài.
Đây cũng rơi vào lỗi phá hòa hợp tăng mà không hay biết.
Chúng
ta sở trường pháp môn tu hành của mình nhưng phải cố gắng
thông cảm các pháp môn khác, tìm ra điểm tương đồng với
các pháp môn khác để giữ gìn sự hòa hợp đoàn kết trong
chúng tăng Phật giáo với nhau. Nếu ngay trong Phật giáo mà
sự đoàn kết còn lỏng lẻo rời rạc thì làm sao chúng ta
có thể tự cho mình là con đường cứu độ tất cả chúng
sinh.
Tuy
chủ trương hòa hợp và thông cảm pháp môn, nhưng không có
nghĩa chúng ta chấp nhận những pháp môn của tà giáo ngoại
đạo xen lẫn vào làm mất đi tính cách giải thoát của đạo
Phật.
“Đại
dương chỉ có một vị duy nhất là vị mặn.
Chánh
pháp của Như Lai chỉ có một vị duy nhất là vị giải thoát”
Tất
cả pháp môn nào thực tế, đặt trên căn bản giới định
huệ, không mang vẽ thần bí huyền hoặc, hướng về sự giải
thoát, đều được chúng ta chấp nhận là của đạo Phật.
Còn những pháp môn nào bộc lộ rõ tính chất mê tín, không
đặt trên nền tảng giới định huệ, không chú trọng giải
trừ tham sân si, không hướng về sự giải thoát, chúng ta
không xem đó là của đạo Phật. Những pháp môn tu hành trong
đạo Phật rất nhiều, thích hợp với các căn cơ sai biệt
của chúng sinh, ưu về khía cạnh này mà khuyết ở khía cạnh
khác. Không bao giờ có một pháp môn đầy đủ mọi ưu điểm.
Ai xưng tán một pháp môn nào đó là toàn vẹn về mọi công
năng, đó là kẻ cạn cợt thô thiển. Đừng áp đặt người
khác, với căn cơ sai biệt của họ, lại phải thực hành
theo pháp môn của mình.
Chẳng
những chúng ta không chống báng mà cần phải có tâm tùy hỉ
với pháp môn khác khi thấy họ giáo hóa được thịnh hành.
Sự chia rẻ đa số đều bắt đầu bằng sự ganh tỵ. Nếu
ít người nghe theo sự giáo hóa của ta thì chúng ta phải xét
lại mình. Có khi vì đức độ mình chưa đủ. Có khi vì trong
nhiều đời chúng ta ít duyên với chúng sinh. Tuy chúng ta không
có duyên giáo hóa chúng sinh, nhưng người khác làm được
việc đó thì cũng quá tốt rồi. Tại sao chúng ta phát nguyện
độ tất cả chúng sinh để cho chúng sinh bớt khổ, mà không
vui vẽ khi chúng sinh được hóa độ dù bởi bất cứ vị
Tăng nào khác? Đâu phải sự giáo hóa là độc quyền của
chúng ta. Nếu chúng ta không gạn lọc bản chất anh hùng cá
nhân thì thế nào chúng ta cũng sẽ trở thành thủ phạm chia
rẻ trong Phật giáo.
Đất
nước Việt Nam đang có sự đối diện của hai hệ thống
lớn: Nguyên thủy và Đại thừa. Nguyên thủy công kích Đại
thừa là ngoại đạo Bà La Môn, Đại thừa công kích nguyên
thủy là tiểu thừa, là hạt giống lép. Sự phân hóa lớn
lao này kéo dài ngót mấy nghìn năm lịch sử mà chưa được
giải quyết. Hiện nay nhiều học giả Phật giáo đang tìm
cách hàn gắn lại sự phân hóa này. Thật ra đầy dẫy những
bằng chứng để chúng ta có thể chứng minh sự duy nhất của
hai hệ thống nếu chúng ta có thực hành tu tập, có cố gắng
khách quan thông cảm lẫn nhau. Các vị Nguyên thủy trung thành
với kinh điển chánh thống từ thời Phật tại thế cũng
nên khách quan thông cảm những đóng góp của giáo lý Đại
thừa như là sự phát triển về lý luận của Phật giáo.
Có những sự thật mà Phật không cần nói trước, chỉ ai
chứng đến sẽ tự biết, ví dụ như tâm Đại bi của vị
giải thoát, hoặc như công hạnh đi vào sanh tử để giáo
hóa chúng sinh sau khi việc mình đã xong... Sau này các tổ Đại
thừa tiết lộ và tán dương cực lực những nét tích cực
của một vị đã đạt đến Niết Bàn. Nét tích cực của
kinh điển Đại thừa và phong thái trầm mặc ung dung của
kinh điển Nguyên thủy chỉ là hai khía cạnh của một vấn
đề duy nhất: Niết Bàn! Chỉ có người chưa thực chứng
mới phản đối để thấy có sai biệt mà thôi. Nếu ai cố
gắng ủng hộ sự thống nhất của hai hệ thống này, người
đó có được công đức vĩ đại về việc làm thành hòa
hợp Tăng.
Sự
đoàn kết hòa bình luôn luôn được những người có lương
tâm ca ngợi trên khắp thế giới. Chẳng riêng gì đạo Phật
mà cả loài người đều cần được đoàn kết hòa hợp với
nhau. Người nào đoàn kết mọi người với nhau sẽ cảm báo
quyến thuộc đông vầy, niềm vui thường hiện hữu. Phật
biểu tượng niềm vui đó là sống ở Thiên xứ lâu dài. Những
người đấu tranh tìm hòa bình cho thế giới, dù thất bại
hay thành công, cũng đều là những người đáng kính.
Sự
phân biệt chủng tộc cũng là điều chia xẻ lớn lao của
loài người, và những kẻ có lương tâm đều đau lòng vì
việc này. “Stop apartheid” (Chấm dứt phân biệt chủng tộc)
là tiếng kêu gọi thống thiết từ lâu.
Rồi
các tôn giáo và lòng cuồng nhiệt với niềm tin nơi giáo chủ
của mình cũng từng là nỗi đau đớn cho lịch sử nhân loại.
Nhân danh tôn giáo họ đã giết hại đồng loại không thương
tiếc. Họ bảo vệ cái thiện “của tôn giáo họ” bằng
cách làm việc cực ác. Ngày nay chúng ta cần bình tĩnh khách
quan nhìn lại mọi vấn đề, đừng quá độc tôn nơi tôn
giáo mình và mạt sát tôn giáo người. Bên nào cũng có những
điểm dễ thương của nó. Ngày xưa nhóm Soufi của đạo Hồi
tìm cách nối giáo lý đạo Hồi với giáo lý đạo Phật.
Ông Eckhart người Đức tìm cách giải thích Thiên Chúa theo
quan điểm Tự Tánh của Đông phương. Thiền tông Trung Hoa
Việt Nam cố gắng dung hòa Phật, Lão, Khổng. Nói chung những
ai có lương tâm đều yêu quí sự đoàn kết của con người.
Sự chia rẻ đã gây ra đau thương mất mát nhiều quá.
Ác
báo chờ đợi cho những ai muốn tiếp tục đào thêm hố sâu
chia rẻ giữa nhân loại, và ngược lại, hạnh phúc đã sẵn
cho những ai hàn gắn được tình thân ái giữa mọi người.
9
– DỄ NGỘ
(Trích
Tùng Lâm tuyển tập)
Dưới
pháp hội của Ngài Trí Khải có một vị cư sĩ công quả
nấu cháo cho đại chúng. Một hôm ngồi nhìn lửa cháy bập
bùng và củi tàn lụi dần dần, ông suy nghiệm về lý vô
thường, thoát nhiên ông đốn ngộ và ngồi nhập định luôn
tại đấy ngót hai ngày. Sau khi xuất định ông đến trình
sở đắc với Ngài Trí Khải. Trong khi đang trình bày thì sở
chứng lại vượt cao hơn trước đó. Ngài Trí Khải bảo:
–
Ông nói đoạn đầu thì giống chỗ ta đến. Còn phần sau
thì ta không biết. Nhưng hãy gát lại, ông có được túc mạng
chăng?
–
Bạch Hòa Thượng, có mà không sâu.
–
Ông có biết vì túc duyên nào mà đời này dễ ngộ nhưng
lại phải hầu chúng chăng?
–
Bạch Hòa Thượng, đời trước con lấy rau của chúng Tăng
đem cho khách, nên đời này phải làm người hầu chúng đền
trả. Nhưng công phu tu hành luôn gắng giữ gìn không để mất,
nên đời này con dễ ngộ.
NHẬN
XÉT:
Nơi
ông cư sĩ này chúng ta bắt gặp hai nhân duyên đi theo hai hướng
khác nhau. Một thuộc về Nghiệp báo thế gian, hai thuộc về
nhân duyên xuất thế gian.
Vì
ông lấy đồ trong chúng Tăng đem cho khách nên trở lại làm
người thấp kém hầu hạ chúng Tăng để đền trả quả trước.
Chúng ta không biết rõ ông đã làm việc này rất nhiều lần
hay chỉ một lần, chỉ biết rằng xâm phạm tài vật của
chúng Tăng thì bị tổn phước rất nhiều. Có người thiếu
công đức Thiền Định trí tuệ, xâm phạm tài vật chúng
Tăng liền đọa vào ác đạo mất hẳn thân người. Ông cư
sĩ này có công đức Thiền Định trí tuệ nên không bị đọa
vào ác đạo.
Riêng
ông cư sĩ đã thúc liễm tu hành không để lơi lỏng nên nhân
duyên Thiền Định rất sâu dày, đời này chỉ qua một lúc
quán vô thường liền có sở đắc sâu xa. Với sự kiện này
chúng ta cũng giải đáp được vì sao mãi đến thế kỷ thứ
6 (Hơn một ngàn năm sau Phật Niết Bàn) mới bắt đầu thịnh
hành lối trực chỉ của Thiền tông Trung Hoa. Các thiền khách
là những người đã từng có sở đắc nhiều đời, đời
này gặp thiền sư gợi ý chớp nhoáng liền thấy lại trình
độ quá khứ. Từ đây chỉ việc tinh tấn đi tiếp đoạn
đường còn lại. Chẳng những Thiền tông có phương tiện
hay hơn các tông phái khác, chỉ vì người học đã thuần
thục nhiều đời. Nếu lối trực chỉ là hay thì tại sao
áp dụng cho người này có kết quả mà áp dụng cho người
khác lại không có kết quả? Cũng cùng một vị thầy, nhưng
đệ tử thì người ngộ người không. Nếu đời này chúng
ta tu tập dễ dàng, tâm sớm vào định được ngộ, thì phải
biết do nhân duyên tinh tấn của đời quá khứ và những thiện
nghiệp trong lành. Chúng ta đừng theo đoạn kiến (thấy có
một khúc ngắn) rồi cho rằng phương tiện này hơn, phương
tiện kia kém, độc tôn nơi mình mà chống báng nơi người.
Dù chúng ta thành tựu nhờ pháp môn này, nhưng cũng đừng
cho đó là tuyệt đối. Pháp môn chúng ta tu tập là nhân duyên
riêng của chúng ra, không phải của tất cả mọi người.
Sự
độc lập về Nghiệp báo thế gian và Nghiệp báo xuất thế
gian được thể hiện rõ nơi trường hợp ông cư sĩ này.
Có thể có người phước tướng đẹp đẽ trang nghiêm, đạt
được những danh vọng địa vị đáng kể, nhưng chưa chắc
là sẽ dễ dàng thành tựu Thiền Định trí tuệ. Ngược lại,
người dung mạo tầm thường xoàng xĩnh, danh vọng uy quyền
ít ỏi, nhưng vẫn có thể là người mau chóng vào sâu các
tầng bậc Thiền Định và quả vị. Và khi người này đạt
được quả vị thì bất hạnh cho những kẻ nào lấy dung
mạo bên ngoài để xem thường vị ấy.
Người
ở trong chúng Tăng được giữ địa vị lớn tức là người
đã từng làm lợi ích cho chúng Tăng với nhiều cách thức
của vật chất và tinh thần. Ngược lại người làm tổn
hại chúng tăng thì sẽ trở thành kẻ có địa vị nhỏ. Nhưng
địa vị lớn hay nhỏ của người này không liên hệ gì đến
công phu Thiền Định bên trong. Nếu chúng ta biết kính trọng
một đại đức với phước và uy quyền của vị ấy thì
chúng ta cũng phải biết kính trọng một vị khác với công
đức tu hành ẩn một bên trong. Chúng ta dễ bị hình tướng
chinh phục để đạt đến niềm kính trọng nông nổi hơn
là tìm hiểu công phu nội tại để gởi gấm một niềm tin
bền vững lâu dài.
Tuy
nhiên trong tất cả, chúng ta khéo léo vừa làm lợi ích chúng
Tăng, vừa tinh tấn Thiền Định thì phước huệ cùng thành,
thân sau ra đời dễ giáo hóa chúng sinh. Đức Phật là một
tấm gương tiêu biểu về sự cụ túc viên mãn cả phước
và huệ.
10
– SỬ DỤNG KHÔNG ĐÚNG
(Trích
Kho báu nhà thiền)
Nhân
Thiên Bảo Giám chép.
Thiền
sư Trí ở núi Vân Cái, Hồ Nam, ban đêm ngồi trong phương
trượng, bỗng nghe mùi cháy khét và tiếng gông xiềng, liền
thấy một người mang gông có lửa. Lửa còn cháy bập bùng
không dứt. Cái đuôi gông tựa vào then cửa.