Phần
Hai
14
Quả Báo rất nhẹ
15
Đối Xử với Tăng.
16
Giả Dạng.
17
Phỉ Báng Bậc Thánh.
18
Tu Tập Từ Tâm.
19
Khinh Bĩ.
20
Vũ Kị̣ch
21
Muối và Nước.
22
Vua và đất nước
14
– QUẢ BÁO RẤT NHẸ
(Trích Tăng Chi Bộ kinh 3 A, tr 230)
"Này
các Tỳ Kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được
làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loài bàng
sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ
của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.
"Này
các Tỳ Kheo, lấy của không cho được thực hiện, được
tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục. Quả
dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được
làm người với sự tổn hại tài sản".
"Này
các tỳ kheo tà hạnh trong các dục được thực hiện,... đưa
đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết
sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người
với sự oán thù của kẻ địch."
"Này
các Tỳ Kheo, nói láo được thực hiện,... đưa đến địa
ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của
nói láo là được làm người, bị vu cáo không đúng sự thật."
"Này
các Tỳ Kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, đưa đến địa
ngục, bàng sinh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của
nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ
vỡ."
"Này
các Tỳ Kheo, nói ác khẩu được thực hiện..., đưa đến
địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh. Quả dị thục hết sức nhẹ
của sự nói ác khẩu là được làm người với bị nghe những
tiếng không khả ý ."
"Này
các Tỳ Kheo, nói lời phù phiếm... là được làm người nghe
những lời khó chấp nhận."
"Này
các Tỳ Kheo, uống rượu lên men, rượu nấu... là được
làm người với tâm điên loạn."
NHẬN
XÉT:
Đây
là những lầm lỗi căn bản của người tại gia cư sĩ mà
Đức Phật đã đề cập đến rất nhiều. Ở đây nêu lên
tám điều, nhưng gom lại chỉ trong năm điều để Phật chế
thành ngũ giới. Ngũ giới là hàng rào gìn giữ chúng sinh có
được thân người không rơi vào ba đường ác quá đau khổ.
Thời
nay có nhiều người tu thiền, nghe nói:"Tâm bình hà lao trì
giới, hạnh trực hà dụng tu thiền", họ có quan niệm xem
thường giới luật. Họ cho rằng giữ giới là gò bó và phá
giới là... tự tại! Có người sau một thời gian dụng công,
được sức tỉnh giác rỗng rang của chánh niệm, thử uống
rượu, vẫn thấy còn giữ được tâm tỉnh giác này, liền
cho mình đã tự tại không còn bị vấn đề giữ giới phạm
giới chi phối. Hạng tà kiến này không bao lâu sẽ phạm những
trọng giới để rồi đọa vào đường ma.
Phải
biết rằng người tự tại là người đủ sức giữ giới.
Chưa đủ sức giữ giới tức là chưa tự tại. Phá giới
là chuyện dễ làm của kẻ phàm phu, đâu phải là chuyện
cao siêu khó khăn gì. Tu một thời gian rồi đủ sức... phá
giới, hạng người này là gì, nếu không là hiểu sai?
Có
thể chúng ta uống vài chung rượu, lấy lén vài món đồ mà
trình độ công phu nào giờ vẫn không thối thất. Nhưng chúng
ta đừng xem thường, phạm vài lần nữa sẽ bị thối thất
công phu. Hơn nữa chúng ta cần phải giữ giới để làm gương
cho người khác. Chúng ta phải quý kính giới luật như là
sự thể hiện chân chính của tâm hồn giải thoát. Tâm hồn
thênh thang giải thoát được thể hiện nơi giới luật kỹ
lưỡng, không phải thể hiện nơi sự bừa bãi phóng túng.
Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này nơi phần phân tích Nhân
Quả xuất thế gian.
Sự
vi phạm quá đáng những giới căn bản nêu trên đều đưa
đến địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Ở đây Đức Phật
cho biết quả báo rất nhẹ của ác nghiệp đó là những nghịch
cảnh nơi thân người. Sở dĩ có trường hợp quả báo rất
nhẹ này là do người kia có thể đã từng tạo những công
đức khác lớn lao hơn để chận đứng được sự đọa vào
ba ác đạo. Tuy nhiên nơi thân người. Họ vẫn phải gặp
nghịch cảnh tương xứng với ác nghiệp đã gây.
Người
sát sinh tức là triệt mất thọ mạng của chúng sinh. Sự
đền trả tương xứng dành cho họ là bệnh hoạn và yểu
mệnh. Sau khi nghe tin báo là đã thiêu mấy vạn quân địch
trong hang núi, Khổng Minh than thở rằng ông sẽ giảm thọ
một kỷ (mười hai năm). Quả báo hiện đời như vậy là
quá nhẹ. Có thể do công đức trong đời quá khứ của ông
rất lớn chăng?
Được
thấy cho biết rằng mình sẽ chấm dứt thọ mạng trong bảy
ngày nữa. Ông Sa Di xin về thăm nhà. Giữa đường ông vớt
một ổ kiến to trôi theo nước lũ. Công đức này đã kéo
dài thọ mạng của ông thêm một thời gian nữa.
Chúng
ta cũng thường gặp những người có vẻ hiền lành, chưa
thấy tạo nghiệp gì quá đáng nhưng vẫn chịu một đời
sống ngắn ngủi. Có khi họ nhận một tai nạn bi thảm như
đụng xe, trôi sông lửa cháy... rồi mạng sống kết thúc.
Cũng có khi họ bệnh qua loa rồi mất. Những hiện tướng
như thế đều là sự báo ứng từ nghiệp sát sinh trong quá
khứ.
Chúng
ta đặt vấn đề những chiến sĩ chiến đấu nơi tuyến đầu
để bảo vệ đất nước. Quả báo sẽ ra sao khi sự chiến
đấu kịch liệt đêm ngày luôn luôn đưa đến sự sát sanh
đầy dẫy. Dĩ nhiên cuộc chiến tranh xảy ra là do quả báo
oán thù giết hại nhiều đời, nhưng ở đây chúng ta trích
ra một phần để khảo sát Nhân Quả của một chiến sĩ cầm
súng chiến đấu. Sự kiện nào cũng vừa là nhân vừa là
quả, không chỉ đơn thuần một chiều. Quả báo đã khiến
họ phải đối đầu với nhau để một mất một còn. Nhưng
ngay lúc ấy cũng là lúc họ gây nhân mới cho vị lai.
Như
đã nói, sát sinh luôn luôn là một bất thiện nghiệp. Tuy
nhiên một bất thiện nghiệp có thể được hóa giải bởi
một đại thiện nghiệp. Đại thiện nghiệp được nhắc
đến ở đây là chiến đấu bảo vệ sự bình yên cho nhân
dân bên trong lãnh thổ. Nếu người chiến sĩ phải chiến
đấu để ngăn chặn sự xâm lăng từ bên ngoài, giữ cho phần
đất bên trong được yên ổn, cho em bé ngày ngày tới trường,
cho mẹ già say giấc ngủ trưa, cho cánh đồng xanh màu lúa
mới, cho chuông chùa văng vẳng xa đưa... thì sự chiến đấu
này là một thiện nghiệp lớn lao hóa giải bớt bất thiện
nghiệp của sự sát sinh. Chính sự cao thượng nơi lòng hy
sinh cuộc sống của mình để đem lại yên ổn cho những người
khác là một công đức lớn.
Ngược
lại, nếu đây là sự xâm lăng đúng với bản chất của
nó, có thể nó được che đậy bởi những chiêu bài khéo
léo và lý tưởng, nhưng nó đã dấy lên khói lửa loạn lạc,
dấy lên tung tóe kinh hoàng, thì sự sát sinh này đưa những
người chiến đấu đi về ác đạo lâu dài về sau.
Qua
vấn đề trộm cắp. Khi tôi còn là một Sa Di, ở nơi chiếc
thất nhỏ trên cánh đồng vắng, tôi quen với một thanh niên
hiền lành ít nói và nghèo khổ nhìn dòng chữ "Thừa phủ
ngày..." được xâm nơi bắp chân tôi chẳng hiểu gì. Sau này
anh vợ của thanh niên đó là một phật tử cho tôi biết thanh
niên kia đã từng ở tù tại nhà lao Thừa phủ Huế, vì tội
trộm cắp. Vì chứng kiến một quả báo hiện đời mà anh
trở nên tin luật Nhân Quả Nghiệp báo. Có một lần anh cuỗm
mất cái giỏ xách tay của một thiếu phụ chuẩn bị đồ
đạc để đi nhà bảo sanh vì cơn đau đẻ đã xuất hiện.
Mất giỏ đồ, người thiếu phụ khóc hết nước mắt. Sau
này anh vào nam lập gia đình. Đêm trước ngày đưa vợ đi
sanh, cướp vào nhà lấy đúng cái giỏ xách đựng đồ đạc
để đem đi nhà bảo sanh. Vợ anh khóc hết nước mắt còn
anh thì ngậm ngùi thống hối ăn năn. Biết chuyện như vậy
tôi thường khuyên anh ráng đem công sức đắp lại những
đoạn đường hư trong xóm làng. Có khi chính tôi phải tìm
đoạn đường cần đắp và rủ anh cùng làm. Sau này tôi rời
vùng đó đi về nơi khác, mọi chuyện chìm vào quên lãng theo
thời gian phôi pha. Chợt người anh vợ đến tìm tôi,
trao tôi món quà của người thanh niên năm nào, và cho biết
vợ chồng anh ta đã trở nên khá dả rất nhiều.
Sự
mất mát đồ đạc không chỉ đơn thuần là thiếu thốn,
nó còn là nỗi bế tắc tuyệt vọng trong đời sống của
con người. Bạn có thể tưởng tượng ra sự đau khổ tuyệt
vọng của một người tới ngày sanh đẻ bị lấy mất hết
đồ đạc. Đây là một trường hợp, còn vô số những trường
hợp đau đớn hơn nhiều. Có khi người bị mất đã phải
dùng đến biện pháp tự vẫn. Vì kẻ trộm cướp đã lấy
đi chút tài sản nương tựa cuối cùng trong đời họ. Có
khi vì món đồ bị mất, vợ chồng cha con nghi kỵ
chia rẻ với nhau, ở đây sự trộm cắp đã tác thành sự
bất hòa. Món đồ bị mất không chỉ đưa đến sự giảm
thiểu tài sản mà thật sự đã đưa đến nhiều đổ vỡ
tinh thần của mọi người. Sự đau khổ do trộm cắp gây
nên đã nhiều như núi như biển. Vì vậy, quả báo chờ đợi
cho kẻ tội lỗi này là hình phạt và khổ cảnh nơi địa
ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nếu sự đền trả đã vơi, hoặc
nếu kẻ kia đã tạo được nhiều công đức to lớn để
vẫn được thân người, thì quả báo rất nhẹ chờ đợi
cho y là tài sản bị tổn hại. Nếu đời này chúng ta thỉnh
thoảng bị mất trộm, hãy thản nhiên chấp nhận một cách
vui vẻ vì tin rằng đây là nghiệp quả từ thuở lâu xa nào
rơi rớt đến tận hôm nay.
Aùc
nghiệp thứ ba là tà dâm, tức là ngoại tình. Sinh ra giữa
cuộc đời cấu uế này, chúng ta đã có mặt trong vũng bùn
dâm dục. Bản chất của chúng sinh là ái dục, là dâm dục.
Vì thế hết lớp người này nối tiếp lớp người kia đều
phải lẩn quẩn trong ái dục của đời sống vợ chồng. Tuy
nhiên khoái lạc trần gian luôn luôn là sự chực chờ của
bất an và tội lỗi. Kẻ thỏa mãn phủ phê mọi dục vọng
của mình, chắc chắn là kẻ tắm mình trong tội lỗi, không
có Đạo Đức và bình an nơi một kẻ thỏa mãn dục vọng
lẫy lừng của mình. Chỉ có bớt đi dục vọng, người ta
mới tránh được bất an và tội lỗi.
Trong
một chừng mực ước lệ nào đó, sinh hoạt tính dục được
chấp nhận giữa hai vợ chồng chính thức không có liên hệ
về huyết thống. Nếu sinh hoạt tính dục xảy ra giữa hai
người không phải vợ chồng chính thức, đây là ngoại tình;
nếu xảy ra giữa hai người có liên hệ huyết thống, đây
là loạn luân; nếu xảy ra giữa người và thú, đây là cuồng
dâm; nếu xảy ra giữa hai người cùng phái, đây là bệnh
đồng tính; nếu xảy ra giữa người trưởng thành và đứa
trẻ chưa phát triển, đây là bạo dâm... Chung quanh khoái lạc
trần gian đều là tội lỗi giăng bủa!
Bệnh
AIDS đang hoành hành làm điên đầu các cơ quan y tế, chung
quy cũng xuất phát từ những kẻ hưởng thụ quá đáng khoái
lạc xác thịt và sai lầm trong quan hệ tính dục. Khi hệ thống
thần kinh được rung động theo khoái cảm, nó tự đánh mất
khả năng đề kháng của cơ thể. Không phải virus nào đó
đã gây thành bệnh AIDS, mà chính khoái cảm của họ đã gây
thành tình trạng mất khả năng miễn nhiễm nơi chính họ.
Kẻ nào tiếp tục tìm kiếm khoái cảm – quá đáng và sai
lầm – sẽ không bao giờ thoát khỏi nanh vuốt của hội chứng
AIDS.
Thế
nên, quan hệ tính dục sai lầm tức là gây mê muội ô nhiễm
cho mình và người. Riêng vấn đề ngoại tình không phải
đơn thuần là lén lút thụ hưởng khoái cảm tính dục, mà
nó là sự cướp mất hạnh phúc của người khác. Không thể
có sự thương yêu săn sóc đầy đủ đối với vợ con khi
mà người chồng còn phải chia xẻ tình thương và khoái lạc
với tình nhân khác. Sự trộm cắp tài sản đã gây nên đau
khổ thế nào thì tương tự và hơn thế, ngoại tình là sự
trộm cắp hạnh phúc gắn bó của gia đình người ta. Hạnh
phúc vắng bóng có nghĩa là đau khổ lấp đầy. Những điều
có thể tìm thấy sau sự đổ vỡ của hạnh phúc gia đình
là ghen tuông, hờn giận, mắng nhiếc, đánh đập và nghèo
nàn. Trong tất cả sự thụ hưởng khoái lạc của trần gian
thì tính dục (sex) là sự thụ hưởng thấp hèn nhất. Đó
là lý do tại sao con người biết tự trọng phải sinh hoạt
tính dục nơi kín đáo. Chỉ có người mất hêt nhân cách,
gần gũi với thú tính mới lộ liễu phơi bày những sinh hoạt
của tính dục nơi công cộng hoặc trên màn ảnh và sách vở.
Tận trong lương tâm của con người, khoái cảm tính dục luôn
luôn đi kèm với sự xấu hỗ. Chính vì sự thấp hèn quá
đáng của khoái lạc tính dục mà người thụ hưởng nó –
quá đáng và sai lầm – đều bị tổn phước và tội lỗi.
Nếu liệt kê những hưởng thụ từ thanh bai đến thô tục
của con người thì nhạc không lời là sự thưởng thức thanh
bai nhất, kế đó là hội họa phi tính dục. Còn thô tục
nhất là hưởng thụ tính dục. Nhưng dù thanh bai hay thô tục
thì nó vẫn còn nằm trong giới vức của khoái cảm trần
gian. Người tu hành cầu giải thoát phải từ chối mọi khoái
cảm này, chỉ có tâm hồn an tĩnh sâu xa, không bất an xao
động, mới là hạnh phúc chân thật và vĩnh cữu.
Nếu
vượt qua được quả báo nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc
sinh, người tà hạnh trong ái dục phải gặp gỡ sự oán thù
của kẻ địch, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, không tìm
được sự chung thủy chân thành.
Aùc
nghiệp thứ tư là nói láo. Ý nghĩa nói láo ở đây là kết
tội người khác sai sự thật, hoặc khen ngợi người khác
sai sự thật. Khen sai sự thật đã được đề cập ở bài
“Bút Máu”, ở đây chúng ta phân tích sự kết tội sai sự
thật vì ác tâm. Tuy nhiên, nói láo có ý nghĩa rộng hơn nhiều,
có nói không, không nói có, trình bày sai sự thật, làm người
khác hiểu lầm. Nhưng sự tác hại của việc nói láo không
dừng ngang ở chỗ khiến cho người khác hiểu lầm, phía sau
sự hiểu lầm đó là máu đổ thịt rơi, là nhà tan cửa nát.
Lời
tuyên bố quả quyết rằng ai không tin Thánh kinh Coran cần
phải được giết chết để không làm dơ bẩn trần gian.
Đấng Allah sẽ ban thưởng cho những chiến sĩ chiến đấu
để tiêu diệt ngoại giáo, để truyền bá Hồi giáo. Sau những
lời tuyên bố đó, ngựa của những đạo quân Hồi giáo phải
khó khăn lội qua dòng sông ngập máu người đến gối, dẫm
qua xương thịt nhầy nhụa của thây người đầy cả cánh
đồng. Cuộc “thánh chiến” kéo dài ngót năm thế kỷ còn
là nỗi kinh hoàng đến hôm nay.
“Không
có Nhân Quả Nghiệp báo!” Phía sau lời tuyên bố sai sự
thật này là tội phạm lan tràn khắp nơi. Nhà tù không đủ
sức giáo dục con người trở thành Đạo Đức. Victor Hugo
đã phê phán điều này gay gắt qua tác phẩm vĩ đại “Những
kẻ khốn cùng”. Khi con người không tự kiểm soát những
hành vi thiện ác của mình bằng nguyên lý Nhân Quả, thì không
còn có thể có một biện pháp nào ngăn chận tội lỗi của
họ được thực hiện qua nhiều cách tinh vi.
Lịch
sử cũng đã ghi đầy những trường hợp vu cáo sai lầm bởi
những kẻ tranh giành quyền lợi với nhau, và sau đó là giết
hại thù oán lê thê. Chính vì tác hại của sự nói láo nặng
nề như thế nên địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là quả báo
dành cho họ. Còn quả báo rất nhẹ ở thân người là bị
vu khống oan ức khó tỏ bày.
Aùc
nghiệp thứ năm là nói lời hai lưỡi nghĩa là gây chia rẽ
mọi người với nhau. Người này đã dùng lời khích động
sự tự ái của đôi bên để đôi bên căm tức nhau, hoặc
hắn dựng đứng những sự kiện không có thật để đôi
bên hiểu lầm nhau. Với mọi thủ đoạn thâm độc, hắn đã
làm đôi bên nghi kỵ, thù hận với nhau. Phía sau sự đổ
vỡ đoàn kết đó là đấu tranh tàn hại, là cửa mất nhà
tan, là lửa khói điêu tàn. Thế giới ngày nay đã chia rẽ
quá nhiều bởi vô số lý thuyết. Trong tất cả nguyên nhân
đưa đến chia rẽ, thì anh hùng cá nhân là một nguyên nhân
đáng kể. Ai cũng muốn mình là lãnh tụ duy nhất, muốn mình
là người được công đầu, muốn mình là vì sao chói sáng.
Để trở thành anh hùng giữa muôn người, chúng ta phải phủ
nhận những cái hay của người khác, tiêu diệt phe phái
khác, công kích những ngôi sao khác.
Nhiều
người rất sở trường về môn này. Họ rất thông minh tài
giỏi nhưng không thể hợp tác với nhau một cách lâu dài
vì ai cũng muốn mình trở thành nhân vật số một. Chỉ
khi nào họ biết vì lợi ích chung mà bỏ đi chủ nghĩa anh
hùng cá nhân thì tài năng của họ mới có thể góp lại để
tạo nên những thành tích phi thường.
Ai
cũng tuyên bố đường lối mình là đúng và cực lực công
kích tất cả đường lối khác. Sự độc tôn này đưa đến
ít nhất hai điều tai hại:
–
Một, gây sự chia rẽ với mọi người.
–
Hai, làm cho những người tin theo mình có mặc cảm tự cao,
và tự cao là điều sai lầm trước hết.
Các
tôn giáo đã độc tôn và phủ nhận tôn giác khác. Rồi trong
một tôn giáo các tông phái đã độc tôn và phủ nhận tông
phái khác. Điều chúng ta có thể khẳng định là sự chia
rẽ chỉ xuất phát từ một quan điểm sai lầm. Người có
quan điểm chân chính không bao giờ ưa thích sự độc tôn
và chia rẽ có thể họ đã chứng nghiệm một chân lý tuyệt
vời nơi tự thân, nhưng nếu nó là chân lý, nó luôn luôn
đưa đến sự khiêm hạ và dung hòa. Khiêm hạ và dung hòa
là sự thể hiện của những tâm hồn chân chính.
Chư
Thánh tàng ẩn vào các nơi để giáo hóa. Tùy theo căn cơ tâm
tính của mỗi hạng người mà chư Thánh lập bày những phương
tiện sai biệt để đưa lần về một chân lý chung duy nhất.
Nếu chúng ta độc tôn phe nhóm của mình, công kích phe nhóm
người, có thể chúng ta sẽ công kích nhằm những bậc
Thánh cao cả. Điều này đưa đến đọa lạc nặng nề.
Chúng
ta muốn tình thương yêu chan hòa giữa mọi người, muốn
thế giới này không có oán thù, ganh ghét hãy cẩn thận dè
dặt về sự phán xét đối với bất cứ ai. Khi nào có sự
khiêm hạ và dung hòa, lúc đó chúng ta gần gũi với chân lý.
Chẳng những chúng ta không gây nên sự chia rẽ mới, mà còn
phải tích cực hàn gắn những chia rẽ có sẵn giữa mọi
người. Những chia rẽ có sẵn đó là gì, đó là bức
tường vô hình giữa các tôn giáo, giữa các triết thuyết.
Muốn
đánh đổ những bức tường ngăn cách giữa các chủ thuyết,
chúng ta có hai phương pháp áp dụng tùy theo mỗi trường hợp.
Nếu
các chủ thuyết đó có chỗ giống nhau, hãy khai thác
triệt để điều này. Ví dụ để bớt sự hiềm khích giữa
Thiên chúa giáo và Phật giáo, chúng ta dẫn chứng lời chúa
Jésus:
“Thiên
quốc không ở bên này, không ở bên kia, mà ngay trong chính
chúng ta.”
Như
thế thì Thiên Quốc chính là chân tâm, là Niết Bàn của Phật
giáo. Krishnamurti cũng nói:
“Cái
mà Phật gọi là Niết Bàn, Jésus gọi là thiên quốc, thì
cái đó tôi gọi là cuộc sống”
(What
The Buddha called Nirvana, Jésus called The Heaven, I call
it the living)
–
Nếu các chủ thuyết đó cố giữ những quan điểm trái ngược
lẫn nhau, hãy phủ nhận tất cả. Chính lý tánh không Trung
Quán của Bồ Tát Long Thọ, phủ nhận mọi quan điểm đương
thời, thế mà đã xóa sạch hai mươi bộ phái để đưa Phật
giáo qui về một mối.
Krishnamurti
đã phủ nhận mọi giá trị của tất cả tín điều, triết
thuyết, thế mà đã cởi bỏ mọi cố chấp của con người,
đưa họ lại gần với nhau hơn.
.....
Mãi
về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ
chẳng nói lên để ca ngợi tình yêu
Vì
tình yêu là hình ảnh buổi chiều
Tuy
êm ái nhưng sẽ vào đêm tối.
Mãi
về sau tôi có viết những dòng thơ để nói.
Sẽ
chỉ nói lên để ca ngợi tình thương
Của
những người vì nhân loại quê hương
Của
hạnh phúc thoát ra ngoài tội lỗi.
Mãi
về sau tôi có viết những dòng thơ để nói
Sẽ
nói lên để ca ngợi sự an nhiên
Hạnh
phúc nào thong thả tự thần tiên
Rất
thanh thoát ung dung và đĩnh đạc.
Mãi
về sau tôi có viết những dòng thơ để hát
Sẽ
đoàn kết mọi người trong một trái tim chung
Hạnh
phúc thiêng liêng và vĩ đại vô cùng
Một
là tất cả và tất cả mọi người chỉ là một.
Trong
đời sống gần gũi hằng ngày, hãy sẵn sàng hàn gắn những
chia rẽ tỵ hiềm giữa các cá nhân.
Đoàn
kết thương yêu là một trong những hạnh phúc của con người.
Thế nên hành vi ly gián chia rẽ là một tội lỗi. Tùy theo
mức độ nghiêm trọng của tội lỗi này mà kẻ tạo nghiệp
sẽ phải chịu khổ báo ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Nếu được làm người, y sẽ là người với nỗi cô độc,
cô đơn, bạn bè đổ vỡ. Môi bị sứt đôi, chia đôi cũng
là hiện tướng của lời nói chia rẽ trong quá khứ.
Ác
nghiệp thứ sáu là ác khẩu. Nghĩa là chưởi rủa nhục mạ
quá đáng.
Dân
chúng từ Kosambi nghe lời xúi giục của thứ hậu Magandiya,
vợ vua Udena, đã nói những lời ác khẩu nặng nề với Đức
Phật. Với tâm hồn nhẫn nhục bao dung, cuối cùng Đức Phật
đã cảm hóa những kẻ sai lầm ấy.
Ác
khẩu còn là những lời đe dọa ghê gớm đòi giết đòi đánh
hoặc những tiếng chưởi thề kém nhân cách.Những lời ác
khẩu như vậy chỉ xuất phát từ những tâm hồn thấp
kém, thiếu giáo dục. Ca dao Việt Nam có câu:
“Kim
vàng ai nỡ uốn câu
Người
khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”
Thật
vậy, người khôn ngoan sáng suốt không bao giờ buông ra những
lời ác khẩu bỉ ổi dành cho người khác. Trừ những người
thuần thục trong Thiền Định mới không bị đau khổ bởi
những lời ác khẩu, còn những chúng sinh khác đều bị mất
bình tĩnh, đau đớn, tự ái, khổ sở, nhục nhã khi bị xúc
phạm bởi những lời ác khẩu. Ở đây, đau khổ gây ra không
bởi đánh đập, giết hại, mất mát, ngoại tình...nhưng bởi
sự nhục nhã từ ác khẩu.
Kinh
Hiền Ngu và luật Sa Di của Phật Giáo Bắc phương có ghi lại
trường hợp một chú Sa Di vì vô tình đã chê một vị Alahán
tụng kinh giống tiếng chó sủa. Do biết sám hối nên chú
Sa Di thoát được quả báo địa ngục nhưng vẫn phải thọ
thân chó năm trăm đời.
Phỉ
báng người thường tội nhẹ hơn phỉ báng bậc Thánh. Phỉ
báng bậc Thánh thì không lường được những hậu quả ghê
gớm của nó. trước hết, họ phải bị mất hết danh dự
đang có trong hiện đời, mất hết địa vị quyền chức,
tuột xuống chỗ tầm thường hạ liệt. Người được làm
tăng, nếu lỡ công kích nhằm bậc Thánh sẽ mất phước làm
tăng, bị thối chuyển trở lại thế tục.
Ngược
lại với ác khẩu là lời nói nhu hòa, khả ái, khen ngợi
dành cho nhau. Trong quan hệ giao tiếp giữa con người,
hạnh phúc đến với nhau từ những lời nói lễ độ, tôn
trọng, nhu hòa, khả ái. Người có được ái ngữ như thế
tức là đã có một lợi khí để ban phát hạnh phúc cho mọi
người chung quanh mình. Ai cũng cần được tôn trọng, vì thế
hãy đem sự tôn trọng đến với mọi người bằng lời nói
và cử chỉ. Lịch sự cũng chính là hình thức ái ngữ của
người văn minh. Đừng đem lời thô lỗ cộc cằn xúc phạm
đến với nhau làm cho nhau đau khổ. Sự đau khổ của mọi
người hiện tại sẽ biến thành sự đau khổ cho chính mình
ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh mai sau. Nếu được làm
người, sẽ phải chịu đựng những lời nói nhục mạ cay
chua.
Ác
nghiệp thứ bảy là nói lời phù phiếm– theo tạng Pàli–
nhưng theo Hán tạng lại là ỷ ngữ có hàm ý khoe khoang phô
trương. Chúng ta có thể kết hợp cả hai tạng để định
nghĩa cho trường hợp này là: Nói lời vô ích và khoe khoang.
Nói
lời vô ích đùa cợt làm loạn động tâm người, không đưa
đến sự tăng trưởng của thiện pháp. Những lời này thường
được nghe từ các kẻ ăn không ngồi rồi tụm năm tụm ba
bàn chuyện thị phi, nói chuyện tiếu lâm, cười cợt vô nghĩa.
Những lời tục tỉu dơ bẩn, những tiếng chưởi thề “đệm”
theo câu nói... cũng là nói phù phiếm. Những câu chuyện huyền
hoặc mê tín, những lời đồn nhảm cũng là nói phù phiếm
.
Câu
chuyện phù phiếm làm mất thì giờ, tăng trưởng ác pháp,
rối loạn tâm người, gây ảnh hưởng xấu cho những người
chung quanh. Một người cha có thói quen văng tục thì khó có
những đứa con đàng hoàng. Hầu như không tìm thấy người
đứng đắn trong đám người nói chuyện có quá nhiều tiếng
tục tỉu kèm theo. Người tự trọng không bao giờ để miệng
mình phát ra những tiếng dơ bẩn như vậy. Chỉ có tâm hồn
thấp kém mới để rơi rớt những tiếng thô tục bẩn thỉu
mà thôi.
Là
người đệ tử Phật có tâm hồn chân chính khi gặp nhau,
chúng ta chỉ nên bàn sâu về đạo lý để sách tấn nhắc
nhở nhau áp dụng tu hành trong đời sống hằng ngày. Đừng
để mất thời giờ vì những câu chuyện vô nghĩa trống rỗng
vu vơ. Nếu câu chuyện đạo lý làm tăng trưởng thiện pháp
bao nhiêu thì câu chuyện phù phiếm làm tăng trưởng ác pháp
bấy nhiêu. Như vậy, tội và phước cũng theo đó lập thành.
Còn
lời khoe khoang thì làm tổn đức người nói. Khi gặp một
người thường kể về những cái hay của họ, bạn có thể
đánh giá lập tức mà ít sai lầm là người này chưa thật
là người tốt. Thiền sư Zenzetsu (Nhật) căn dặn đệ tử
:
“Đừng
nói cho người chung quanh biết về con trước khi tự họ khám
phá ra con.”
Thật
vậy, người chân chính không nói về cái hay của mình, nhưng
trong đời sống, từ nơi họ toát ra mọi sự tốt đẹp đến
với mọi người. Mọi người chỉ biết cái hay của một
người chân chính do hành vi của người ấy, chứ không phải
do sự kể lể thành tích của người ấy.
Chúng
ta có lẽ đã từng chứng kiến vài trường hợp, khi một
người khoe ra cái hay của họ để rồi ít lâu sau cái không
hay hiện bày trái hẳn với lời khoe khoang hôm trước.
“Tôi
có sức nhẫn nhục sâu xa, không bao giờ sân hận.”
Vài
bữa sau, người nói lời này đã gặp chuyện phải đỏ mặt
tía tai mất tự chủ.
Một
đạo sĩ Ấn độ tuyên bố ông ta có khả năng đi được
trên mặt nước. Thế rồi khi rất nhiều người ùn ùn kéo
tới chứng kiến đã thấy ông đạo sĩ rơi tỏm xuống hồ.
Lời
nói khoe khoang làm tổn phước là như vậy.
Riêng
Đức Phật trong những bài kinh Nguyên thủy thường nêu ra
Lục thông như là một chỗ y cứ để người tu biết mình
đã viên mãn Niết Bàn hay chưa. Có thể vị này đã nhận
rõ chân tâm, đủ khả năng sử dụng thiền ngữ tài tình,
nhưng nếu chưa đủ Lục thông, thì có nghĩa là vô minh chưa
hết, Niết Bàn chưa viên mãn. Thế nên nêu ra Lục thông, Đức
Phật không làm công việc khoe khoang thường tình nhưng muốn
lập ra một tiêu chuẩn để người sau tự đánh giá chỗ
tu tập của mình mà không rơi vào chủ quan tự mãn.
(Lục
thông là:
1.
Thiên nhãn thông: Thấy được những nơi rất xa, những vật
rất nhỏ, những cõi giới khác với cõi giới này, sự lưu
chuyển tái sinh của chúng sinh.
2.
Thiên nhĩ thông: Nghe được những tiếng rất xa, những tiếng
rất nhỏ như tiếng chân của con kiến, những tiếng của
chúng sinh trong cõi giới khác.
3.
Tha tâm thông: Biết được tâm suy nghĩ của chúng sinh, biết
chỗ chứng đắc của thiền giả, biết được dù ở rất
xa.
4.
Túc mạng thông: Nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ với từng
chi tiết nhỏ của chính mình hoặc của người khác.
5.
Thần túc thông: Có khả năng phi hành biến hóa, hiện thân,
ẩn thân, phân thân ra nhiều nơi, thần lực phi thường.
6.
Lậu tận thông: Chấm dứt mọi Vô minh, lậu hoặc không còn
thừa, Niết Bàn hiển lộ viên mãn, hợp nhất với chư Phật,
tâm chấp thủ sở đắc tan biến, tự biết không còn bị
sinh tử luân hồi chi phối.
Đủ
Lục thông nói trên, vị này là bậc Alahán, giải thoát tự
tại, thắng trí sáng ngời, đại bi viên mãn)
Quả
báo rất nhẹ của việc nói lời vô ích và khoe khoang là được
làm người nghe những điều khó chấp nhận, kém uy đức,
ít được kính trọng, miệng xấu.
Aùc
nghiệp thứ tám là uống rượu say sưa. Lúc này khắp trên
thế giới đang đấu tranh chống nạn nghiện rượu, một tệ
nạn đã gây đau khổ cho con người từ rất lâu. Không phải
rượu đã làm say sưa mê loạn cho người uống mà thôi, nhưng
sau đó nó đã đưa chiếc xe tông vào những người đi đường
vô tội, nó đã đánh vợ, đập con, đốt nhà, nó đã đưa
đến cưỡng bức vô luân, nó đưa đến nghèo nàn túng thiếu.
Trước
hết rượu có vẻ không ác độc như giết người, không xấu
xa như trộm cắp, không bẩn thỉu như tà dâm, không hiểm
trá như vu khống... Chẳng những thế nó còn có vẻ lễ nghĩa
theo phong tục Á châu: “Vô tửu bất thành lễ”, nó chỉ
có một tác hại đơn giản là làm say sưa, khiến người uống
trở nên cuồng nhiệt, không còn phân biệt phải trái, không
kiểm soát được hành vi và lời nói của mình. Phía sau sự
si mê này, nó đưa người đến những tội ác tày trời nguy
hiểm nhất, cũng độc ác như sát sinh, cũng xấu xa như trộm
cắp, cũng bẩn thỉu như tà dâm... Nếu gia đình bạn có một
người nghiện rượu, bạn sẽ cảm thấy nỗi khổ tâm khó
bày tỏ của mình, vừa hư hao trong gia đình, vừa nhục nhã
với hàng xóm. Không gì chán nản bằng sự chứng kiến một
người trong cơn say sưa đánh mất mọi tư cách của mình.
70%
tai nạn giao thông đều do say rượu. Rượu làm thần kinh của
người lái xe không quan sát tinh anh, không phản ứng kịp thời.
Chỉ cần chậm một giây, tai nạn đã xảy ra rồi.
Nhan
nhãn trong xã hội, những người say rượu về hành hạ vợ
con, cha mẹ rất là tệ bạc. Tiền bạc trong gia đình không
được dùng vào việc no cơm ấm áo, sản xuất, học hành,
mà chỉ để phung phí vào ly rượu nồng nàn, đĩa thịt béo
ngậy của cá nhân người nghiện. Hắn đã bóc lột gia đình
một cách vô trách nhiệm. Và trong cơn say sưa hắn đã gây
phiền hà cho láng giềng bằng lời nói xằng bậy ồn náo,
bằng cư chỉ khiếm nhã thô bạo. Rượu còn làm kích thích
tính dục hơn bình thường, lúc uống rượu say, người này
dễ có hành vi dâm bạo, xúc phạm đến phụ nữ, để rồi
mang tiếng không tốt về sau. Trong nhiều lần nghiên cứu,
các Bác sĩ Đức đã xác nhận rằng những đứa con được
thụ tinh khi cha mẹ đang nghiện rượu đều là những đứa
con đần độn, kém cỏi về thể chất và trí tuệ. Họ gọi
là những đứa con của chiều thứ bảy (The children of Saturday
evening) vì người Đức thường uống rượu thoải mái vào
chiều thứ bảy.
Nhiều
người tự cho mình không thoát khỏi tứ đổ tường nên đã
chọn rượu như là một chỗ bám đỡ tai hại hơn ba thứ
kia. Chiêu bài tự an ủi này rất là gượng gạo và lấp liếm,
để rồi sau đó họ sẽ thấy họ làm khổ bản thân và gia
đình quá đáng.
Có
những hạnh phúc cao thượng hơn, thanh bai hơn các khoái cảm
thô tục, đó là âm nhạc, hội họa, thể thao. Chúng ta có
thể tìm kiếm niềm vui trong các môn nghệ thuật văn hóa thể
thao này hơn là tìm niềm vui trong rượu nồng thịt béo. Những
tâm hồn hướng thượng thì thích những giải trí thanh bai,
còn những tâm hồn thấp kém thì thích những khoái lạc hạ
liệt. Nhìn sự giải trí của một người, chúng ta có thể
đánh giá ít sai về tâm hồn của người đó. Người Nhật
Bản có tâm hồn khá thanh bai nên họ đã tìm được niềm
vui tế nhị trong hương vị của trà theo trà đạo, trong chiếc
hoa cắm nơi độc bình theo hoa đạo...
Ở
những lĩnh vực phức tạp nhất như kinh doanh, bạn vẫn thấy
người Nhật có phong cách ung dung, nhẹ nhàng điềm đạm.
Chính sự thanh khiết của tâm hồn vốn đã thấm nhuần Thiền
đạo Phật giáo, người Nhật đã leo đến đỉnh cao của
văn minh và nghệ thuật như hôm nay. Tạp chí Sông Hương đầu
năm Mậu Thìn có dịch một đoạn văn Nhật “Tiếng xúc xắc
trong đêm khuya” diễn tả một trò chơi tầm thường như
việc gieo xúc xắc, nhưng qua con người Mitiko, trò chơi này
trở thành một phương pháp nhiếp tâm kỳ diệu.
Nếu
cần phải giải trí, chúng ta hãy tìm sự giải trí trong những
hình thức nghệ thuật thanh khiết hơn là tìm trong thú vui
hèn kém. Tuy nhiên, vượt hơn mọi sự giải trí của thế
gian, tọa thiền chính là niềm vui tối thượng về Đạo Đức,
về sự đơn giản, về sự cao cả, về trí tuệ và phúc lạc.
Ở giai đoạn đầu, tọa thiền gần như một cực hình vì
chân bị đau trong thế ngồi kiết già, tâm bị loạn vì chưa
quen điều phục. Nhưng càng về sau, một giờ tọa thiền là
một giờ an vui hạnh phúc. Nhiều cư sĩ tại gia can đảm vượt
qua giai đoạn đầu vất vả để rồi hôm nay họ đã bắt
đầu tìm thấy niềm an lạc vĩ đại thanh khiết nơi pháp
môn tọa thiền này. Cái vui của tọa thiền không nồng nhiệt
như men rượu, không xao động như ái dục, không khoái trá
như thắng lợi trong một cuộc chơi... Những ngôn từ của
thế gian nào giờ không đủ để diễn tả niềm vui của Thiền
Định, chỉ những người thật sự tìm thấy mới tự biết
rằng không một trò vui nào của thế gian có thể so sánh được.
Thiền Định là một hạnh phúc và cũng là con đường phát
triển trí tuệ. Càng thâm nhập Thiền Định, người này càng
trở nên thông minh nhạy bén. Khi những suy luận quanh co đã
dừng lắng thì trực giác phát sinh. Họ không còn biết bằng
tư duy lý luận, nhưng họ biết trực tiếp thẳng vào sự
kiện của vấn đề. Ai đã tu tập Thiền Định đều nhận
thấy rõ rằng mình trở nên sáng suốt hơn ngày xưa. Còn rượu
bia nồng nặc, ngược lại, đã đem lại sự si mê trong hiện
đời, đem lại khổ báo trong địa ngục, ngạ quỷ, trong đời
sau, và cũng đem lại điên loạn ở thân người sau nữa.
Nêu
lên khổ báo của tám ác nghiệp này, Phật đã gián tiếp
ca ngợi giá trị của sự trì giới. Người Phật tử tại
gia cần phải giử gìn Năm giới một cách chu đáo, phải xem
giới luật như là một biểu hiện thiêng liêng của đạo
Phật, đừng khinh thường giới luật để đánh mất tư cách
và phúc lạc của chính mình. Giới luật được gìn giữ bởi
ba điều kiện:
–
Một, bằng sự nhận định đứng đắn về giá trị và lợi
ích của giới luật.
–
Hai, bằng tác ý dõng mãnh quyết tâm cao độ, có một thái
độ dứt khoát với những hành vi phi giới luật.
–
Ba, bằng định lực sâu xa bởi công năng tọa thiền.
Hội
đủ ba điều kiện này, giới luật được gọi là viên mãn.
Còn
những cư sĩ tại gia không may mắn, không gần được những
bậc xuất gia trì giới viên mãn nên ít được nghe những
lời nhắc nhở chân thành, đã trở nên phá giới, uống rượu,
rất là mất tư cách. Dĩ nhiên chúng ta cũng quy một phần
trách nhiệm nơi vị thầy kém giới, nhưng hơn tất cả, người
cư sĩ phải nhận lấy trách nhiệm về chính mình. Giới luật
và giáo pháp của chính Đức Phật (nhất là Đức Phật Nguyên
thủy) mới thật là bậc thầy vững chắc cho chúng ta nương
tựa. Đừng vì sự sơ xuất của vài vị xuất gia mà chúng
ta tự đánh mất công đức của mình qua hành vi phá giới.
15–
ĐỐI XỬ VỚI TĂNG
(Trích
kinh bộ Tăng chi 2, tr 246)
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến
với gia đình cư sĩ, tại đấy, do năm trường hợp, các người
cư sĩ được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến
với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này tâm họ được tịnh tín. Này các Tỳ kheo, như vậy
trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân lên con đường đến
cõi trời.
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến
với gia đình cư sĩ. Khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này, họ đứng dậy đảnh lễ và mời ngồi. Này các
Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân
lên con đường đưa đến sự cao sang.
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới
đi đến gia đình cư sĩ. Khi trông thấy những vị xuất gia
giữ giới này, họ từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các
Tỳ kheo, như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân
trên con đường đưa đến đại uy lực.
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến
gia đình cư sĩ. Khi trông thấy... họ tùy theo khả năng, tùy
theo năng lực, liền san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ kheo,
như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con
đường đưa đến tài sản lớn.
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến
với gia đình cư sĩ, khi trông thấy... họ thưa hỏi những
câu hỏi (về giáo pháp), lắng nghe chánh pháp. Này cácTỳ
kheo, như vậy trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên
con đường đưa đến đại trí tuệ.
Khi
nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi dến
với gia đình, tại đấy do năm trường hợp, họ được nhiều
công đức.”
NHẬN
XÉT:
Trong
bài kinh này, Đức Phật nêu ra năm trường hợp dùng để
đối xử với một vị xuất gia khi họ được vị này đến
thăm tại gia đình. Tuy nhiên, nhấn mạnh nhiều lần, Phật
chỉ đề cập đến người xuất gia xứng đáng đó là người
giữ giới thanh tịnh. Chỉ khi nào họ viên mãn về giới luật,
họ mới thật sự là phước điền chân thật cho chúng sinh
gieo trồng căn lành lên đó. Nếu người xuất gia kém khuyết
về giới luật, họ không phải là mảnh ruộng tốt cho chúng
sinh nương tựa. Nói lên điều này, Phật muốn nhắc nhở
bổn phận của người xuất gia trước khi dạy cư sĩ cách
thức đối với chư Tăng. Chúng tôi sẽ phân tích về vấn
đề trì giới của chư tăng trong phần nói về Nhân Quả xuất
thế gian phía sau. Ở đây, chúng tôi chỉ nói lên điều này
để người cư sĩ làm tròn trách nhiệm hộ trì Tam bảo của
mình, nghĩa là họ phải đánh giá đúng ai là người xuất
gia giữ giới thanh tịnh, ai chưa giữ giới thanh tịnh, để
biết rằng sự hộ trì của họ phải hướng về cho bậc
trì giới, vì chỉ có bậc trì giới mới thật sự là người
duy trì Phật pháp. Đã có nhiều cư sĩ vì lòng tin mù quáng,
không đánh giá đúng sự quan trọng của vấn đề “Tăng
giữ giới”, đã tin tưởng theo một số tà sư kém giới
luật giảng những giáo lý huyền hoặc sai lầm. Những tà
sư này đã biện minh cho sự kém giá trị của mình bằng những
lý luận cao siêu dường như hợp lý. Người cư sĩ vì kém
hiểu biết đã chấp nhận những tín điều sai lầm này, đặt
cuộc đời mình theo tà sư ác giới tức là tự đoạn mất
những thiện căn quí giá của mình. Đức Phật dạy:
“Hãy
nhìn bậc đạo sư theo cái nhìn của tai mắt”
(Tương ưng bộ kinh)
Nghĩa
là đánh giá bậc thầy theo những giới luật oai nghi được
thể hiện ra bên ngoài. Thật là khó khi muốn tìm hiểu chỗ
đến trong Thiền Định của một người. Hàng cư sĩ tại
gia chỉ việc tìm đến những người thanh tịnh trong giới
luật để nương tựa cũng đủ được nhiều công đức. Bởi
vì chỉ có những người giữ giới và người tinh tấn Thiền
Định mới mạnh dạn răn nhắc sự tu hành cho người khác.
Còn những kẻ giải đãi và khuyết giới thường tránh né
nói về đạo lý. Đã đến lúc chúng ta phải khôi phục lại
giá trị của giới luật như là một nền tảng vững chắc
cho sự tu hành. Tuy cách Phật đã xa, hoàn cảnh và tâm tình
đã biến đổi, tập quán và sinh hoạt đã sai biệt, có những
giới luật không còn thích hợp, nhưng những giới căn bản
càng được giữ nhiều chừng nào thì Phật Pháp càng được
hưng thịnh chừng nấy. Hàng cư sĩ tại gia phải phán xét
về giới luật để đặt sự tôn trọng của mình, cũng có
nghĩa là khuyến khích những người xuất gia cố gắng hộ
trì giới luật.
Rồi
một ngày đẹp trời, một vị Sa Môn trang nghiêm đạo mạo
đến viếng gia đình bạn vì một duyên sự nào đó. Khi trông
thấy vị Sa Môn thanh tịnh trong giới luật kia, bạn và gia
đình phát khởi niềm kính tin thuần tịnh. Gia đình bạn được
Phật công nhận là đã đặt chân lên con đường đưa đến
cõi trời. Như vậy lòng tịnh tín đối với chư tăng tịnh
giới là nhân lành để sinh thiên. Chỉ có ý nghiệp đơn giản
là phát khởi niềm kính tin đối với bậc tịnh giới, một
nhân lành lớn lao đã xuất hiện. Thật ra việc sinh thiên
không dễ. Những cõi giới khác với cõi người được liên
hệ với nhau theo chiều sâu tâm linh. Những tác nghiệp của
tâm là những yếu tố quan trọng để chúng sinh thay đổi
cõi giới. Nếu ác tâm thuần thục, chúng sinh chuyển về địa
ngục, ngạ quỷ. Nếu thiện tâm thuần thục, chúng sinh chuyển
về các cõi trời. Đó là kết quả của ý nghiệp. Ở phần
sau chúng ta sẽ gặp gỡ trường hợp Nhân Quả có chúng sinh
quán từ bi được sinh về cõi trời Phạm thiên. Ý nghiệp
làm thay đổi cõi giới của chúng sinh còn khẩu nghiệp và
thân nghiệp tạo nên hoàn cảnh trong cõi giới đó. Ví dụ
người có thiện tâm được sinh về cõi trời, nhưng người
này ít có dịp bố thí, thuyết pháp, in kinh, đắp đường,
phóng sinh... thì tuy được thân thiên tử nhưng là một thiên
tử tầm thường không bằng các thiên tử khác có thân nghiệp
tốt về phương diện trí tuệ, quyền lực, tài sản, dung
mạo...
Trong
trường hợp đối xử với tăng, Phật nêu lên ý nghiệp ban
đầu là niềm kính trọng tin tưởng của cư sĩ đối với
chư tăng, và ý nghiệp này đủ để đưa họ về Thiên giới.
Tâm kính trọng xuất hiện tức là tâm ngã mạn biến mất.
Khi nhìn một người tại gia đến chùa với cung cách thiếu
sự kính trọng, phải biết người này còn có ngã mạn ẩn
núp trong tâm. Không gì đưa chúng sinh đến chỗ thấp hèn
mạnh bằng tâm niệm ngã mạn. Những kẻ sinh vào nơi hạ
liệt thấp kém, hầu hết đều do tâm niệm ngã mạn chi phối.
Đối trị với tâm niệm ngã mạn là tâm khiêm hạ, nhưng
tâm khiêm hạ được hình thành do lòng kính trọng đối với
bậc đáng kính. Không gọi là tâm khiêm hạ nếu lòng kính
trọng vắng bóng. May mắn hơn nữa là bạn biết đặt lòng
tịnh tín vào bậc xuất gia thanh tịnh trong giới luật. Chỉ
với ý nghiệp đơn giản này, là phát lòng tịnh tín với
vị Sa Môn tịnh giới, một công đức lớn đã thành tựu
cho bạn rồi.
Kế
đến, gia đình cư sĩ này vui mừng đứng dậy, lễ bái và
mời ngồi, nghĩa là tiếp đón ân cần khi được bậc xuất
gia tịnh giới đến thăm. Đây là thân nghiệp thể hiện lòng
tịnh tín của họ.
Không
gì trơ trẽn e ngại bằng sự thờ ơ lạnh nhạt của chủ
đối với khách. Người khách gặp phải sự lạnh nhạt thờ
ơ này thật là khó xử và rồi phải ra về trong hiu quạnh
buồn tủi. Nếu chủ nhà dúng lối đối xử như thế nghĩa
là dành cho khách một vị trị thấp kém, quả báo sẽ trở
lại với họ tương tự là họ sẽ trở thành kẻ hèn kém
trong tương lai. Dù không phải là bậc Sa Môn đến nhà, chúng
ta đều nên cố gắng dùng lối đối tiếp ân cần dành cho
người, tức là đặt cho họ vào địa vị sang trọng. Quả
báo trở lại từ sự đối xử đó là địa vị cao sang ở
vị lai.
Trong
các mẫu chuyện trong quyển “1001 đêm”, tôi đánh giá câu
chuyện “Hoàng đế một ngày” rất là phù hợp với luật
Nhân Quả Nghiệp báo (bản dịch của Lệ Hoa xuất bản 1963).
Nhân vật Thanh Lam được cha để lại một gia tài đồ sộ.
Chàng chia làm hai phần, một là những tài sản cố định
sinh lợi hằng năm như ruộng vườn, hai là vàng bạc để
tiêu xài. Chàng dùng trọn vẹn phần thứ hai để tiếp đãi
bè bạn. Họ kéo đến rất đông để thụ hưởng yến tiệc
linh đình do Thanh Lam tổ chức. Đến khi vàng bạc đã hết,
Thanh Lam không còn tổ chức yến tiệc như xưa nữa thì bạn
bè cũng xa lánh. Thanh Lam buồn bã và bất mãn, xin mẹ cho phép
từ nay chỉ tiếp đãi những khách lạ ghé ngang một đêm
duy nhất, không lưu lại ngày thứ hai. Từ đó, mỗi chiều
chàng đón khách lạ tại đầu cầu mời họ về nhà, nhờ
mẹ nấu nướng các món ăn, ân cần trò chuyện thết đãi
họ, sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm, rồi tiễn họ ra đi vào
sáng hôm sau, kèm theo lời yêu cầu họ đừng trở lại lần
thứ hai nữa.
Thời
gian trôi qua cho đến một hôm Thanh Lam gặp người khách lái
buôn mang tên Quốc Anh, chính là hoàng đế đương triều đang
cải dạng thăm dò dân tình cùng với một thị vệ khỏe mạnh.
Nhà vua tò mò theo Thanh Lam về nhà để được thết đãi,
trò chuyện để nghe than van về nhân tình thế thái. Sau khi
biết lòng tốt của Thanh Lam, nhà vua hỏi chàng có mong mỏi
điều gì không. Thanh Lam từ chối nói rằng chỉ thích sống
như vậy để tiếp đãi khách phương xa và không cưu mang một
ước vọng nào cả. Chợt Thanh Lam nhớ tới mấy ông thầy
tu và bốn ông lão gần nhà chuyên họp nhau nói chuyện thị
phi của thiên hạ. Chàng buộc miệng nói:
–
Ước gì tôi được làm vua một ngày, tôi sẽ trừng phạt
lũ đó thích đáng.
Nhà
vua chợt nảy sinh một sáng kiến kỳ lạ, bèn chuốc thuốc
mê vào ly rượu của Thanh Lam rồi sai thị vệ vác chàng vào
hoàng cung. Vua căn dặn tất cả mọi người cung phi mỹ nữ,
bá quan phải xem Thanh Lam như chính nhà vua. Sáng hôm sau khi
được cung nữ lay thức dậy, Thanh Lam vô cùng ngạc nhiên
trước sự kiện lạ lùng này, ở giữa cung vàng điện ngọc
với các cung tần quan tướng mà ai cũng xưng tụng mình là
đương kim hoàng đế. Ban đầu chàng cải chính mạnh mẽ,
nhưng các quan khoác áo long bào, đội mũ thiên triều và hướng
dẫn chàng ra sân chầu lên ngai vàng để phán xét công việc.
Trong tâm trạng nữa thực nữa hư đó, chàng nhanh nhẹn xét
đoán công việc do các quan báo cáo một cách sáng suốt phân
minh, khiến cho nhà vua núp sau rèm cũng phải tấm tắc khen
ngợi. Chợt chàng gọi quan hình cảnh đến ra lệnh đến bắt
tội mấy ông thầy tu và bốn ông lão đánh cho mỗi người
một trăm roi và chở lên lưng lừa diễu qua các phố cho mọi
người làm gương về tội ngồi lê đôi mách nói chuyện thị
phi. Quan hình cảnh vâng lệnh ra đi. Chàng sai quan giữ kho cho
xuất nghìn đồng tiền vàng dặn đem cho mẹ Thanh Lam ở dưới
phố. Quan giữ kho vâng lệnh thi hành. Sau khi giải quyết mọi
việc triều đình quốc sự xong, các cung nữ đưa chàng về
vui vầy yến tiệc, nhạc vũ xênh xang khiến cho chàng sung sướng
khôn xiết. Chiều đến, Thanh Lam lại bị đánh thuốc mê và
được cõng về trả lại chỗ cũ.
Sáng
dậy, chàng còn mang mặc cảm hoàng đế hôm qua, đã lên giọng
nạt nộ mẹ mình, và hơn thế nữa đã đánh mẹ vì tội
khi quân, dám coi chàng là con!
Khi
được biết rằng mấy ông thầy tu và bốn ông lão đã bị
trừng phạt đúng như lệnh và mẹ chàng được tặng nghìn
tiền vàng, chàng càng đoán chắc mình chính thực là vua. Hàng
xóm kéo đến trói chàng vì tội đánh mẹ và dám nhận là
hoàng đế, bảo chàng điên và đưa đến nhà thương điên
trên lưng một con lừa. Dọc đường chàng bị nhiều người
đấm đá túi bụi. Thời gian ở tại nhà thương điên, chàng
còn bị quất năm mươi roi gân bò in hằn trên lưng. Sau một
thời gian nguôi ngoai chàng từ bỏ mặc cảm hoàng đế và
nhờ mẹ xin cho về.
Chàng
cho chuyện vừa rồi là quỷ ám do ông lái buôn kia ra đi đóng
cửa không kỹ. Chàng trở lại thú vui tiếp khách một đêm
như trước. Đến một hôm thì vô tình nhà buôn Quốc Anh gặp
lại. Chàng quay mặt không tiếp. Nhưng nhà vua đến vồn vã
hỏi thăm. Chàng buồn rầu kể lại mọi việc khiến nhà vua
thương xót và xin theo chàng về nhà đêm nay. Bất đắc dĩ
chàng lại tái diễn sự thết đãi như lần trước và cũng
bị chuốc thuốc mê cõng vào nội cung.
Sáng
ra khi trông thấy cảnh lộng lẫy của hoàng cung, chàng sợ
hãi và nhắm mắt ngủ tiếp cho qua cơn ác mộng. Nhưng rồi
các cám dỗ khoái lạc của cung nữ, bầy tôi, yến tiệc,
nhạc vũ lôi chàng vào thưởng thức mê ly. Chợt nhà vua phì
cười bước ra và mọi chuyện được giải đáp thỏa đáng.
Sau đó vua kết nghĩa anh em với Thanh Lam và dành cho chàng trọn
đời giàu sang quyền quí.
Thói
quen hào phóng đời trước đưa chàng đến sự thừa hưởng
gia tài hôm nay. Sự tiếp đãi ân cần với mọi người đưa
chàng đến ngôi vị Hoàng đế “như thật” trong hiện đời.
Nhưng chỉ tiếp một đêm nên chỉ được làm vua một ngày.
Vì ra lệnh đánh những tu sĩ và mấy ông già nên chàng cũng
bị đánh đập trở lại. Sự bêu riếu mấy ông già trên
lưng lừa cũng đưa chàng lên lưng lừa nhiễu qua đường phố.
Nhưng dù sao thiện nghiệp của chàng cũng khiến chàng được
giàu sang quyền quí trọn đời còn lại.
Điểm
đáng chú ý của câu chuyện này là sự tiếp đãi ân
cần của Thanh Lam đã đưa chàng dến sự cao sang giống như
Đức Phật cho biết qua bài kinh này. Nhưng khác đi một chút,
Phật nhấn mạnh sự tiếp đãi dành cho những vị xuất gia
trong sạch nơi giới luật sẽ đưa đến phước báo thù thắng
hơn với những kẻ không được tịnh giới.
Thiện
nghiệp thứ ba là do được chư tăng tịnh giới đến viếng,
người cư sĩ từ bỏ cấu uế của xan tham.
Có
những chúng sinh đã từng tác ý tu tập nhiều đời, bây giờ
dù chưa được nghe giảng dạy giáo pháp, chỉ cần trong thấy
bậc chân tu, lương tâm họ liền trổi dậy biết phân biệt
thiện ác, biết từ bỏ xan tham, biết thúc liễm trong giới
luật. Điều này không phải là chuyện huyền thoại. Đa số
những đệ tử sống gần chân sư thường được sự tinh
tấn hơn những đệ tử xa thầy. Công đức gần gũi chân
sư quan trọng là như vậy. Nhưng không phải ai cũng có đặc
điểm đó. Phật khen ngợi hàng cư sĩ khi được chư tăng
tịnh giới đến viếng liền phát sinh sự tàm quí và từ
bỏ cấu uế của xan tham. Sự từ bỏ xan tham này sẽ đưa
đến thành tựu đại uy lực. Uy lực nghĩa là được người
khác khâm phục kính trọng. Người không xan tham tức là người
không còn nhỏ mọn ích kỷ, đã có tâm hồn rộng rãi bao
dung đối với mọi người. Chính sự thanh khiết của không
xan tham khiến cho họ trở nên đáng kính; chính tâm hồn rộng
rãi bao dung khiến cho họ trở nên đáng được khâm phục.
Nhưng sự khả kính trong trường hợp này được thù thắng
hơn bởi sự hiện diện của vị tăng tịnh giới, vì kính
trọng tin tưởng nơi vị xuất gia tịnh giới này mà người
cư sĩ từ bỏ xan tham, thế nên uy lực thành tựu về sau được
gia tăng gấp bội.
Thiện
nghiệp thứ tư tiếp theo là sau khi từ bỏ xan tham, họ biết
san sẻ cúng dường.
Nếu
sự không xan tham thành tựu cho gia đình cư sĩ đại uy lực,
một giá trị tinh thần, thì hành vi cúng dường thành tựu
cho gia đình đại tài sản, một giá trị vật chất. Dĩ nhiên
Phật đã bảo tùy khả năng mà người cư sĩ san sẻ, không
phải họ san sẻ quá đáng để đưa đến thiếu hụt cho gia
đình họ trong hiện tại. Tuy nhiên sự thanh tịnh trong
giới luật đã làm cho phước báo của cư sĩ thù thắng gấp
nhiều lần hơn sự bố thí cho người phàm phu tầm thường.
Giá trị cúng dường cho một bậc chân tu đã được đề
cập nhiều ở phần trước, không cần phải nhắc lại, vì
cúng dường có nghĩa là giúp cho chư tăng sống qua một ngày,
một ngày thúc liễm trong giới luật, chuyên chú trong Thiền
Định, sáng suốt trong trí tuệ, an lạc trong giải thoát, khác
với một ngày của phàm phu đầy tham lam thù hận, ích kỷ,
oán hờn. Chính giá trị sống cao quí của chư tăng đã khiến
cho người san sẻ được phước báo vô cùng thù thắng.
Thiện
nghiệp thứ năm là biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp.
Bốn thiện nghiệp trước có một trình tự rõ ràng là, trông
thấy vị xuất gia tịnh giới đi đến, trước hết gia đình
cư sĩ phát sinh lòng tịnh tín; kế đó tiếp đón ân cần
bằng hành vi đứng dậy, đảnh lễ, mời ngồi; kế đó là
hình ảnh vị chân tu khiến họ biết từ bỏ xan tham; kế
đó họ san sẻ vật thực để cúng dường. Tuy nhiên những
công đức đó chưa đủ cho họ có được lợi ích lớn lao
cho đời này và những đời sau nếu họ chưa biết thưa hỏi
và lắng nghe giáo pháp. Chính vì biết thưa hỏi và lắng nghe
giáo pháp, người cư sĩ sẽ áp dụng đạo lý vào cuộc
sống một cách xít xao hơn. Giáo pháp sẽ dạy họ biết nghiêm
trì giới cấm, biết từ ái với muôn loài, biết chiết phục
sân hận, biết tùy hỉ với người, biết tu tập Thiền Định.
Vô số những khúc mắt éo le trong đời sống sẽ được đạo
lý soi sáng khiến cho họ thấy manh mối để giải quyết một
cách thích đáng hài hòa. Không có đạo lý, họ dễ giải
quyết công việc một cách cực đoan một chiều, mà cực đoan
thì luôn luôn đưa đến sai lầm đổ vỡ. Ví dụ khi con cái
phạm lỗi, hoặc họ chủ trương trừng phạt bằng roi rọt
một cách khắc nghiệt để nó sợ hãi đừng tái phạm, hoặc
họ chủ trương thả lỏng để nó tự ý thức, hoặc họ
chủ trương dùng thuần lời nói để nhắc nhở. Dĩ nhiên
sự dạy dỗ bằng lời nói với sự phân tích kêu gọi là
xương sống của sự giáo dục, nhưng nếu thiếu uy lực, lời
nói không đủ chuyển hóa tâm hồn đứa trẻ. Sự sợ hãi
về hình phạt cũng khá giống như sự sợ hãi về khổ báo
của một người am hiểu đường đi của Nhân Quả, khiến
cho đứa trẻ rụt rè trước hành vi phạm tội. Tuy nhiên,
phải là lời nói ôn tồn phân tích về giá trị Đạo Đức
sâu xa mới nhổ sạch mầm mống phạm tội của đứa trẻ.
Bậc cha mẹ không nên chỉ nhìn một chiều, phải trang bị
cho mình một lòng bao dung từ ái đối với con cái, trang bị
sự nghiêm khắc về kỷ luật đối với hành vi phạm tội,
trang bị những lời nói sâu sắc về Đạo Đức nhất là
đạo lý Nhân Quả Nghiệp báo. Đầy đủ cả ba mặt này,
sự giáo dục trong gia đình được gọi là hoàn chỉnh.
Giáo
pháp sẽ cho người cư sĩ cái nhìn minh triết toàn diện trên
mọi vấn đề để họ giải quyết các công việc trong cuộc
sống được sáng suốt hơn. Họ được lợi ích về lối
sống trong hiện tại gieo trồng những thiện căn cho vị lai,
và nếu thuận duyên tăng trưởng, họ vẫn có thể tu tập
Thiền Định để chứng từ quả vị Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm
và A Na Hàm. Ở trường hợp này Đức Phật tán thán gia đình
cư sĩ đã đặt chân lên con đường đưa đến đại trí tuệ.
Thật vậy, những cư sĩ đến với phật pháp, mà ít chịu
thưa hỏi lắng nghe giáo pháp, chỉ đến vì hình thức lễ
bái tán tụng, chỉ đến vì tìm cầu phước báo hữu vi, người
này không được tăng trưởng trí tuệ trong chánh pháp. Còn
những cư sĩ biết thưa hỏi và lắng nghe, sinh ra trong đời
nào họ cũng đều là những người tuệ căn minh mẫn. Và
nếu họ khéo áp dụng tu tập thì lợi ích của chánh pháp
đến với họ thật là vô hạn vô biên.
Năm
trường hợp để thành tựu công đức nói trên đã hình thành
từ hai điều kiện:
Một,
người xuất gia là vị trong sạch nơi giới luật.
Hai,
năm thiện nghiệp sinh khởi tại gia đình cư sĩ.
Nếu
thăng tiến hơn, người cư sĩ chịu khó đến với chư tăng
nơi Tinh xá và cũng sinh khởi được năm thiện nghiệp như
trên. Sự sai biệt này cũng đưa đến sự sai biệt về quả
báo. Nếu đợi chư tăng đến tận nhà rồi người cư sĩ
mới tác thành năm thiện nghiệp, về sau họ phải rời khỏi
trú xứ mới được hưởng quả báo. Đó là trường hợp
những người phải đi đây kia kinh doanh, tranh đấu, học hỏi...
và được thành công. Nếu họ đến tận nơi để thừa sự
thưa hỏi với chư tăng nơi tinh xá, về sau họ ở yên tại
trú xứ mà vẫn hưởng được quả báo. Đó là trường hợp
những người có điều kiện kinh doanh, học hỏi tại nhà
và được thành công.
16
– GIẢ DẠNG
(Góp chung Nam Hải Dị Nhân và Thiền Sư Việt Nam)
Thiền
sư Từ Đạo Hạnh vốn là con nhà nho tên Từ Vinh. Từ Vinh
có sự trái ý với Diên Thành Hầu, Hầu nhờ pháp sư Đại
Điên đánh chết. Sư muốn trả thù cho cha, định sang Aán
Độ học thuật linh dị để giết Đại Điên. Nhưng
khi đi tới xứ mọi răng vàng, vì thấy đường xá hiểm trở
sư đành trở về vào ẩn trong hang đá Từ Sơn chuyên trì
Đại Bi Tâm Đà La Ni. Sư thành tựu đại định và thần thông,
trở về tìm đến Đại Điên đánh ông ta mang bệnh rồi chết.
Từ đây, oan nghiệp xưa đã trả, các việc đời lặng như
tro lạnh, sư trải khắp tùng lâm tìm học pháp thiền.
Sau
này sư đắc ngộ từ thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân.
Sư trước có kết bạn với Minh Không (Nguyễn Minh Không) và
Giác Hải, cả ba đều thành tựu thần thông diệu dụng phi
thường.
Có
một lần, Đạo Hạnh đùa cợt đón đường Minh Không và
Giác Hải, hóa thân thành cọp gầm lên dữ dội nhảy tới
dọa chụp hai người bạn này. Minh Không biết quở:
“Muốn
làm hổ thì sẽ được!”
Đến khi Đạo Hạnh sắp tịch, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi
y phục, gọi các môn đồ đến dạy:
–
“Túc nhơn của ta chưa hết, phải còn sinh lại thế gian làm
tạm vị quốc vương. Sau mạng chung ta lại sinh lên cõi trời
Ba Mươi Ba (Ba Mươi Ba là một danh từ riêng, không phải thứ
bậc) làm thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị hư hoại thì ta
mới thật vào Niết Bàn, chẳng còn trụ trong vòng sinh diệt
này nữa”.
Môn
đồ nghe lời dạy này ai đấy đều buồn thảm rơi lệ. Sư
cũng dặn dò Minh Không.
–
“Ở thân quốc vương tới đây tôi sẽ bị ách tật, nhờ
huynh lo liệu giùm.”
Sư
an nhiên ngồi tịch để nhục thân đến tận sau này (Đời
giặc Minh sang đã đốt nhục thân của sư tan mất), rồi sinh
vào cung vua để trở thành vua Lý Thần Tông. Năm vua Lý Thần
Tông 21 tuổi (1148) bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp,
gầm thét suốt ngày, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn
đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó.
Khi ấy có đứa bé tên Chân Định hát rằng:
“Nước
có Lý Thần Tông
triều
đình muôn việc thông
muốn
chữa bệnh thiên hạ
cần
được Nguyễn Minh Không.”
Lại
có tương truyền bài khác rằng;
“Tập
tầm vông
Có
nguyễn Minh Không
trị
vua khỏi hóa
Tập
tầm vá
muốn
vua khỏi hóa
có
Nguyễn Minh Không.”
Triều
đình sai quan chỉ huy đón sư Minh Không. Đến am, sư cười
bảo: “Đâu không phải là việc cứu cọp ư?”
Quan
chỉ huy hỏi:
“Sao
thầy biết trước?”
Sư
bảo:
“
Ta đã biết việc này trước ba mươi năm.”
Sư
đến cung vua sai nấu một chảo dầu bỏ một trăm cây kim
vào, dùng tay không thọc vào chảo dầu nóng lấy kim ghim vào
thân vua (châm cứu), nói:
“Quý
vi thiên”
Tự
nhiên lông, móng, răng đều rụng hết, thân vua hoàn phục
như cũ. Vua tạ ơn sư một ngàn cân vàng, một ngàn khoảnh
ruộng để hương hỏa cho chùa, ruộng này không có lấy thuế,
và tôn Minh Không làm quốc sư.
NHẬN
XÉT
Phước
báo của sư Đạo Hạnh rất lớn, được làm vua cõi người
và lại được làm vua cõi trời. Nhưng trong truyền sử không
ghi rõ sư đã gây tạo những công đức lớn lao trong đời
đó ra sao. Có lẽ Sư cũng tác thành rất nhiều thiện nghiệp
trong đời đó và nhiều đời trước nữa, cộng với công
đức tu tập Thiền Định nên đưa đến phước nghiệp như
vậy. Tuy nhiên, trong phạm vi điển tích này chúng ta chỉ xét
đến quả báo hóa hổ một thời gian ngắn trong đời vua Lý
Thần Tông.
Đánh
chết pháp sư Đại Điên để trả thù cho cha cộng với một
lần đùa cợt hiện hình hổ để dọa hai người bạn đạo.
Dù sao hai người này, Minh Không và Giác Hải, đều là những
vị tu hành đắc lực nếu không muốn nói đã vào hạng hiền
thánh. Hai tác nghiệp này khiến cho vua Lý Thần Tông đang ở
thân người phải chịu đọa làm hổ một thời gian.
Khi
con cọp Đạo hạnh gầm lên nhảy tới, Sư Minh Không liền
biết đó là người bạn mình đùa cợt và cũng biết luôn
quả báo của hành động vô ý này ra sao nên ngài quở “muốn
làm hổ thì sẽ được!” Quả nhiên 30 năm sau lời quở trách
kia đã biến thành sự thật.
Trong
tất cả tài liệu về y khoa của Đông Tây kim cổ không bao
giờ đề cập tới chứng bệnh hóa thành cọp như trường
hợp trên đây.
Bệnh
lý có rất nhiều dạng sai khác bởi vì nghiệp quả của chúng
sinh sai khác. Trị bệnh tức là trị nghiệp. Không trị được
nghiệp thì bệnh không bao giờ hết. Dù cho y học hiện đại
tiến bộ đến đâu với vô số dụng cụ thuốc men tối tân
đến đâu nhưng, khi chúng sinh còn gây nghiệp thì sẽ luôn
luôn có những chứng bệnh mới mà y học hiện đại không
thể nào trị nổi. Nếu y học có khả năng điều trị được
bệnh đó thì bệnh khác sẽ xuất hiện để cho thế gian này
luôn luôn tồn tại hai tiếng “nan y”. Nếu chúng sinh từ
bỏ mọi ác nghiệp, giữ gìn giới cấm, bố thí lợi ích,
họ sẽ được xa lìa cõi người khổ đau bệnh hoạn này
để sinh về sống chung với chư thiên không mang thân tật
ách bệnh khổ.
Theo
truyền sử, khi bị hóa thành hổ, vua Lý Thần Tông nghe trong
mình đau nhức ghê gớm (quả báo giết hại Đại Điên) nên
mở miệng rên la, nhưng tiếng rên la kia lại giống như tiếng
gầm thét của loài hổ. Dù được phước báo làm vua, nhưng
hai bất thiện nghiệp kia vẫn còn rơi lại ảnh hưởng rất
mạnh khiến cho vua Thần Tông phải đền trả sòng phẳng mà
không hóa giải hết hẳn được. Nếu là người tầm thường
không biết tu tập, có lẽ sư Đạo Hạnh phải chịu hẳn
mấy đời làm cọp nhưng vì sư là người có tác phước và
đạt đạo, dù chưa chứng Niết Bàn viên mãn như Alahán nhưng
công năng của thiện nghiệp công đức kia giúp cho sư chỉ
phải trả khổ báo trong thời gian ngắn.
Sự
giả dạng hình hổ để dọa người đã đưa đến quả báo
thọ lấy thân hổ. Nếu giả dạng để cứu người thì không
sao, nhưng giả dạng để phá người ắt bị ác báo. Có người
giả dạng làm ma để nhát khách qua lại trên đường vắng,
hoặc để thực hiện những âm mưu đen tối nào khác, đều
sẽ đọa làm ngạ quỷ cô hồn sau khi mất thân người.
Có
người giả tiếng chuột kêu, mèo gọi để hẹn hò tà dâm,
sẽ được làm thân mèo thân chuột ở đời sau đó. Nhưng
cũng có người giả dạng nhà sư uy nghi đạo mạo để kiếm
sống, hoặc để lừa gạt, họ sẽ đọa thân gì? Dĩ nhiên
như thế là có chút chủng tử làm thầy tu, nhưng trước hết
người này phải đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ vì lạm
nhận hình tướng của bậc trì giới thanh tịnh. Chỉ có bậc
trì giới thanh tịnh mới được quyền khoác lấy chiếc y
casa của Đức Phật truyền lại. Lạm nhận hình thức này
mà tâm hồn đen tối, nhận lấy sự cung kính cúng dường
mà nhân phẩm hoen ố không xứng đáng, sự đau khổ và hèn
hạ là sự chờ đợi dành cho họ ở mai sau.
17–
PHỈ BÁNG BẬC THÁNH
(Trích
Tăng Chi Bộ kinh 3B, tr 163)
Rồi
Tỳ kheo Kokalika đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống
một bên. Kokalika bạch Thế Tôn:
“Bạch
Thế Tôn, Sariputta và Moggallana là ác dục, bị ác dục chinh
phục.”
“Này
Kokalika, chớ nói vậy, này Kokalika, chớ có nói vậy. Hãy để
tâm tịnh tín đối với Sariputta và Moggallana, hiền thiện
là Sariputta và Moggallana!”
Lần
thứ hai Koakalika bạch Thế Tôn:
“Dầu
Thế Tôn có lòng tin tưởng, đối với con, Sariputta và Moggallana
là ác dục, bị ác dục chinh phục.”
Ba
lần Kokalika công kích, ba lần đức Thế Tôn cải chính.
Rồi
tỳ kheo Kokalika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế
Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Kokalika
ra đi không bao lâu, toàn thân nổi lên những hạt to bằng
hạt cải, rồi lớn bằng hạt đậu, lớn bằng hạt sỏi,
hạt táo, trái cau, trái dưa (dưa hường), trái dưa chín. Rồi
chúng bị nứt nẻ, mủ và máu chảy ra. Tại đấy Kokalika
nằm trên lá chuối như con cá ăn phải đồ độc.
Rồi
Phạm Thiên độc giác Tudu (Tudu là bổn sư của Kokalika. Khi
Tudu mệnh chung, được Thế Tôn nói là chứng được Nhất
lai) hiện trên hư không nói với Kokalika:
“Này
Kokalika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sariputta và Moggallana. Hiền
thiện là Sariputta và Moggallana!”
“Ngươi
là ai?”
“Ta
là độc giác Phạm thiên Tudu.”
“Thưa
hiền giả, có phải hiền giả là người được Thế Tôn
công nhận đã chứng Bất lai. Sao người lại đến đây? Phải
chăng người không thật chứng Bất lai?”
Phạm
thiên Tudu thốt lên bài kệ:
“Con
người được sinh ra
với
chiếc búa trong miệng
Người
ngu nói điều xấu
là
tự chém vào mình
Ai
khen người đáng chê
ai
chê người đáng khen
đều
chất chứa bất hạnh
do
từ miệng tạo thành
và
bởi bất hạnh ấy
nên
không được an lạc
.................................
Ai
chỉ trích bậc Thánh
Với
lời, với ác ý.
Trải
qua trăm ngàn thời
Với
địa ngục Nirab
còn
thêm ba mươi sáu
với
ngục Abuda
phải
sanh vào địa ngục
chịu
khổ đau tại đấy.”
Rồi
Tỳ Kheo Kokalika do chứng bệnh ấy mệnh chung và sanh vào địa
ngục sen hồng (Padina) vì tâm khởi ác ý đối với Sariputta
và Moggallana. Rồi Phạm Thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn,
với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana hiện thân
trước Thế Tôn đảnh lễ và đứng một bên, bạch Thế Tôn,
thuật lại sự kiện Kokalika sinh về địa ngục, rồi đảnh
lễ biến mất.
Rồi
Thế Tôn, sau đêm đã qua, bảo các Tỳ Kheo về việc Phạm
Thiên Sahampati thuật lại. Một Tỳ Kheo hỏi Thế Tôn về thời
gian của địa ngục Padma. Thế Tôn dùng một thí dụ để
các Tỳ Kheo hình dung thời gian không thể tính kể của địa
ngục này (xin xem nguyên bản).
NHẬ
N XÉT:
Kokalika
phải chịu một bất hạnh lớn vì đã phỉ báng các bậc
Thánh, nhất là vị Thánh này lại chính là hai đại đệ tử
của Đấng Chánh Đẳng Giác. Ác tâm của Kokalika nặng
nề đến nổi chính Thế Tôn ba lần cải chính mà Kokalika
vẫn không thay đổi quan niệm của mình. Ác ý đối với hai
đại tôn giả Sariputta và Moggallana đã khiến Kokalika mất
hết thiện căn, hiện đời cảm báo bệnh hoạn dơ dáy, khốn
khổ. Rồi thêm một lần chính bổn sư của Kokalika là Phạm
thiên Tudu, vị đã vào quả vị, hiện đến khuyên bảo mà
Kokalika vẫn không đổi quan niệm lại còn chê Tudu chưa phải
vào vị Thánh. Như người bị té xuống hầm phân không còn
một chỗ sạch sẽ nào trên người để cho người ở trên
có thể nắm lấy kéo lên, Cũng vậy ác tâm của Kokalika che
phủ hết mọi thiện căn để có thể được người khác
cứu vớt.
Cuối
cùng Kokalika qua đời và sinh về địa ngục Padma với thời
gian dường như vô hạn. Những vị Thánh giải thoát giống
như thửa ruộng mầu mỡ tốt tươi, gieo một sẽ được
trăm ngàn, người gieo hạt ớt, sẽ nhận lấy muôn ngàn cay
đắng, người trồng hạt lê sẽ nhận lấy muôn nghìn thơm
ngọt. Kokalika đã gieo vào thửa ruộng Sariputta và Moggallana
hạt giống phỉ báng, ganh ghét để rồi phải nhận lấy khổ
báo trong hiện đời bướu ghẻ đau đớn, nhận lấy khổ
báo trong đời sau tại địa ngục mà sự đau khổ muôn vàn
lần bi thảm hơn không thể diễn tả hết được.
Sự
phỉ báng những vị Thánh giải thoát, những vị Tăng giữ
giới thanh tịnh sẽ đưa người này đến địa ngục là điều
không thể tránh khỏi.
Tuy
nhiên trong hiện đời, y sẽ bị lìa khỏi địa vị cao sang
để trở thành thấp hèn hạ liệt. Người làm tăng sẽ mất
phước làm tăng, người uy quyền sẽ bại hoại danh vọng.
Khi
chư thiên sắp mệnh chung từ bỏ cõi đời để sinh xuống
cõi nhân gian, các vị này có năm tướng xấu hiện ra báo
trước, trong đó, họ khởi tâm nhàm chán thiên sứ hiện tại
của mình. Chính nghiệp đã tác động đến tận trong tâm
thức của chúng sinh. Cũng vậy, người xuất gia chợt khởi
tâm nhàm chán địa vị làm tăng của mình, thích sống đời
cư sĩ, có khi tự biện hộ bằng những lý lẽ siêu thoát
rằng đạo vượt ngoài hình tướng tăng tục, rồi cởi áo
casa khoác thế y. Phải biết trường hợp này nghiệp đã xen
vào tác động trong vô thức. Vì một lý do nào đó, phước
làm tăng của người này đã hết và ý tưởng bất thường
khởi lên. Trong nhiều nguyên nhân mất phước làm tăng, có
một nguyên nhân là chỉ trích, khinh thường, ganh ghét bậc
Thánh.
Người
đang ở địa vị cao sang, nếu khởi ba nghiệp bất kính đối
với bậc Thánh, y sẽ đánh mất địa vị của mình không
lâu để lui lại vị trí thấp kém. Những quả báo nặng hơn
ở phía sau khi mệnh chung là địa ngục, ngạ quỷ và súc
sanh.
Người
phỉ báng chánh pháp, chỉ trích bậc Thánh, quả báo ít nhất
trong hiện đời là những khuyết tật về miệng. Miệng méo,
sứt môi, câm, ngọng,... là sự thể hiện của nghiệp phỉ
báng này. Và những kiếp được làm người về sau, họ thường
bị công kích nhục mạ chê bai.
Chúng
ta dễ mắc ác nghiệp này trong trường hợp bênh vực tôn
giáo mình và công kích tôn giáo khác, tôn vinh giáo chủ mình
và hủy báng giáo chủ khác. Có một thời gian Kitô giáo và
Hồi giáo công kích nhau kịch liệt. Người Kitô giáo theo sự
xúi giục của Euloge (thế kỷ 4) nổi lên công kích Mahomet
là “tên gian dâm, bịp bợm và đại ác” là “tay sai của
quỷ Satan”. Ngược lại sau này, Alibm Hazm (994 – 1064) viết
trong cuốn “Tôn giáo và Thừa phái” phê bình:
“Chúng
ta không nên ngạc nhiên về óc mê tín của con người. Những
dân tộc đông người nhất và văn minh nhất cũng không thoát
khỏi tật mê tín... Số tín đồ Kitô giáo nhiều vô kể,
chỉ Thượng đế mới đếm nổi, và họ có thể tự hào
rằng có những ông vua sáng suốt, những triết gia danh tiếng...
Họ tin rằng Chúa Kitô chính là đấng sáng tạo, đã bị quất,
bạt tai, đóng đinh lên Thập tự giá và trong ba ngày vũ trụ
không có ai làm chủ”.
Kinh
Cựu Ước có nhiều điểm sơ hở khiến cho giới trí thức
khoa học sau này mất niềm tin luôn cả Chúa Jésus. Những đoạn
Phúc Aâm trong Tân Ước của Chúa Jésus rất cảm động, nhưng
người có ác cảm vẫn moi móc đủ điều.
Kokalika
được sinh ra với cái búa trong miệng, dễ dàng bất tín và
chỉ trích mọi người. Ngay cả khi nghiệp quả bướu ghẻ
nổi lên, được bổn sư từ cõi trời thương xót hiện đến
nhắc nhở, Kokalika vẫn phớt lờ lại còn hạch sách tại
sao Tudu đã chứng Bất lai còn trở lại đây, phải chăng điều
này không đúng! Qua sự kiện này chúng ta hiểu thêm một điều.
Quả vị của đạo Phật là năng lực tự tại đối với
sinh tử, không phải là sự gò bó bắt buộc. Một vị chứng
Bất lai có nghĩa là không còn bị nghiệp lôi kéo để trở
lại cõi đời này, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện
trở lại làm lợi ích chúng sinh. Cũng vậy, Niết Bàn Alahán
là vô sinh, không còn bị nghiệp lôi kéo để thọ thân trong
tam giới, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện trở lại
làm lợi ích chúng sinh. Niết Bàn không phải là sự kềm tỏa
trong khô tịch mà phải là năng lực đại tự tại nên bậc
Alahán có khả năng đi vào sinh tử hóa độ chúng sinh mà khắp
trời, người, ma, phạm không tìm thấy dấu vết.
Chúng
ta chưa thực chứng Niết Bàn, theo ngôn từ trong sách vở,
chia đôi Niết Bàn Tiểu thừa Đại thừa, rồi bênh vực Niết
Bàn này, công kích Niết Bàn kia, không ngờ đó là gây tạo
một bất hạnh lớn cho mai sau mà Bồ tát Long Thọ đã cảnh
cáo:
“...
vì công kích quả vị Alahán, kẻ này bị đọa vào địa ngục.”
Chúng
ta thường độc tôn nơi cá nhân mình, chủ thuyết mình đi
theo, tôn giáo mình quy hướng, giáo chủ mình phụng thờ, tông
phái mình chọn lựa để rồi công kích sạch sẽ mọi phe
nhóm khác. Chiến tranh tàn khốc máu đổ thịt rơi cũng chỉ
vì khuynh hướng độc tôn sai lầm này. Biết bao nhiêu triều
đại đã qua trong lịch sử, càng công kích chỗ dở của triều
đại trước chừng nào thì họ càng vi phạm sai lầm nhiều
hơn địch thủ của họ nhiều chừng nấy. Nhưng sở dĩ chúng
ta thích công kích hơn ca ngợi chỉ vì chúng ta có cảm tưởng
kẻ khác bị ngã quỵ tức là chúng ta vinh quang hơn, tài giỏi
hơn, chúng ta thấy được cái dở của người khác tức là
chúng ta giỏi hơn họ (!) Vì nghĩ vậy nên chúng ta chỉ trích
thường xuyên. Muốn mặt mình đẹp bằng cách bôi nhọ lên
mặt người khác mà không biết tự sửa soạn lại chính mình,
muốn tông phái mình nổi bật bằng cách chê bai tông phái
khác mà không biết hoàn thiện lại chính tông phái mình.
Phật
dạy chúng ta phải biết ẩn ác dương thiện đừng bêu cái
xấu của người ra, chỉ nên đưa cái tốt của họ ra mà
thôi. Lòng từ bi không để cho chúng ta thấy người khác mất
danh dự.
Tuy
nhiên điều này không nên cố chấp một chiều. Rồi một
ngày đẹp trời nào đó, người anh em của chúng ta muốn đến
thọ giáo với một ông đạo có nhiều quyền năng phép lạ,
tự xưng là Phật xuất thế, là giáo chủ ra đời, phong thánh
cho người này người kia,... nếu chúng ta không kịp thời
ngăn chận chỉ trích để cho người anh em chúng ta lạc vào
đường tà, chúng ta cũng có lỗi lớn.
“Không
khen người đáng chê
không
chê người đáng khen.”
Đặt
ngược vấn đề phỉ báng, nếu tán thán bậc thánh sẽ đưa
đến quả báo ra sao?
Thiên
giới, vinh quang và hạnh phúc là sự chờ đợi dành cho những
người khởi tâm tịnh tín và tán thán đối với bậc thánh.
Nếu chúng ta kính trọng ai về ưu điểm nào, chúng ta sẽ
thành tựu về ưu điểm đó.
Nếu
chúng ta kính trọng thánh Francisco bởi nhân cách nghèo nàn
đơn giản, bởi lòng thương yêu phụng sự mọi người, chúng
ta sẽ dần dần trở nên thành tựu những nhân cách đó.
Sở
dĩ chúng ta khát khao sự giải thoát trong khi chúng ta chưa từng
nếm qua mùi vị giải thoát, bởi vì trong quá khứ, có một
bậc thánh giải thoát nào đó đã làm cho chúng ta kính phục.
Sự kính phục phong cách, oai nghi, dung mạo, tâm hồn của vị
thánh giải thoát đã ươm thành niềm khát khao giải thoát
cho chính ta. Để rồi đời này, chúng ta chấp nhận bao nhiêu
khó nhọc, bao nhiêu giới cấm và tiến tu Thiền Định mãi
mãi.
18
– TU TẬP TỪ TÂM.
(Trích
Tăng Chi Bộ kinh 3a, tr 146)
TỪ:
Như
vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana,
khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ
kheo.
“Này
các Tỳ kheo!”
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!”
“Với
Từ tâm giải thoát, này các Tỳ kheo! Được sử dụng, được
tu tập, được làm sung mãn, được làm như cỗ xe được
làm như căn cứ địa, được tùy trú, được tích tập, được
khéo tác thành, sự chờ đợi là tám lợi ích. Thế nào là
tám?
“
Ngủ được an lạc, dậy được an lạc, không thấy ác mộng,
được người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư thiên hộ
trì, lửa hay thuốc độc hay kiếm không gia hại, nếu không
thông đạt thượng vị sẽ đạt được Phạm thiên giới.
Với Từ tâm giải thoát... sự chờ đợi là có tám lợi ích
này.
Ai
tu tập Từ tâm
Vô
lượng, thường ức niệm
Các
kiết sử yếu dần
Thấy
được sanh y diệt
Với
tâm không ác độc
Từ
mẫn một chúng sinh
Do
vậy vị ấy thành
Bậc
thuần nhất chí thiện
Với
tâm ý từ mẫn
Đối
với mọi chúng sinh
Bậc
Thánh khéo thực hiện
Nhiều
công đức tốt lành
Sau
khi đã chinh phục
Rất
đông đảo loài người
Các
ẩn sĩ, vua chúa
Theo
nghi lễ tế tự
Lễ
tế ngựa tế người
Lễ
uống nước thắng trận
Lễ
ném cầu may rủi
Lễ
rút lui khóa cửa
Không
được phần mười sáu
Bậc
khéo tu Từ tâm
Như
ánh sáng mặt trăng
Đối
với các quần sanh
Không
giết, không bảo giết
Không
thắng, không bảo thắng
Từ
tâm mọi chúng sinh
Không
hận thù với ai.”
NHẬN
XÉT:
Phật
cho biết nếu người tu tập Từ tâm một cách thuần thục
sẽ đạt được tám lợi ích. Trước hết chúng ta định
nghĩa Từ tâm là gì.
Từ
tâm là lòng thương yêu không điều kiện. Thông thường chúng
ta thương yêu ai vì người đó có sự tương quan nào với
mình. Hoặc họ là cha, là mẹ, là anh chị, bà con, thân quyến,...
hoặc
họ là bạn bè đối xử ưu ái với mình, và đậm đà tha
thiết hơn cả nếu họ là tình nhân hay vợ chồng với mình.
Lòng thương yêu của chúng sinh được chi phối thúc đẩy
bởi nghiệp nó có điều kiện hẳn hoi. Chúng ta thương yêu
cha mẹ vì người đã nuôi nấng sinh dưỡng săn sóc cho chúng
ta từ thơ ấu, và có khi còn để lại cả gia tài sự sản
về sau. Chúng ta thương yêu bạn bè vì họ đáp ứng những
nhu cầu giao tiếp vui chơi, đỡ đần qua lại với chúng ta;
chúng ta thương yêu tình nhân vì họ đem lại cho chúng ta khoái
lạc của nhục dục; chúng ta thương yêu con cái vì chúng nó
là sự kéo dài hình ảnh, tên tuổi, dòng họ của chúng ta
ở lại với cuộc đời khi chúng ta đã nhắm mắt.
Tình
thương có điều kiện như thế, bị chi phối bởi nghiệp
như thế luôn luôn kéo theo ô nhiễm, bất an và phiền động.
Nó luôn luôn đòi hỏi sự đáp ứng trở về cho tự ngã.
Nếu không được đáp ứng trở lại, tình thương sẽ biến
mất và đôi khi sẽ được thay thế với thù hận. Lịch sử
đã chứng minh và tiểu thuyết đã diễn tả khá nhiều về
loại tình thương có điều kiện này với kết quả sau cùng
là sự chiếm chỗ của thù hận. Tình thương có điều kiện
ràng buộc nhau, là sự đòi hỏi nhau. Cha mẹ thương con cũng
vẫn đòi hỏi một sự hiếu để trở lại, con thương cha
mẹ cũng vẫn đòi hỏi sự chăm sóc chu đáo. Vợ chồng thương
nhau cũng vẫn đòi hỏi sự cung phụng về xác thịt. Có khi
chỉ vì không thỏa mãn nhục dục, họ sẵn sàng ngoại tình
và bỏ nhau. Tình thương yêu như thế không phải là Từ tâm
được Phật tán thán.
1*
Muốn biết Từ tâm này là gì, bạn hãy hướng tâm đến bất
cứ một chúng sinh nào, không có chút liên quan gì với mình
và tác ý khởi lên lòng yêu mến đối với chúng sinh đó.
Trong lòng yêu mến hướng về chúng sinh đó, bạn không nghe
lòng mình đòi hỏi nơi họ bất cứ sự đáp ứng nào, cũng
không cần họ biết rằng bạn đang thương mến họ. Chỉ
một sự thương yêu trìu mến, ưu ái, chứa chan thắm thiết
của bạn dành cho họ một cách thuần khiết vô nhiễm mà
thôi.
2*
Rồi bạn hướng tâm đến những người quen biết trong cuộc
đời mà từ lâu bạn vẫn phớt lờ đối xử hời hợt với
họ, để chan rãi lòng thương mến với họ.
3*
Rồi bạn hướng tâm đến từng người từ lâu ác cảm với
bạn, hoặc đã mưu hại bạn. Phải khởi tâm họ chân thành
bình đẳng như những chúng sinh khác. Thoạt đầu bạn sẽ
nghe tình thương mới này đụng chạm với niềm thù hận bấy
lâu, nhưng sau giây phút tỉnh giác, niềm thù hận cũ sẽ tan
để nhường chỗ cho tình thương ngự trị.
4*
Rồi bạn hướng tâm đến những thú vật lớn, những côn
trùng nhỏ, những ngạ quỷ vô hình, những chúng sinh ở địa
ngục. Khi khởi