Phần
Một
Mở
đầu.
Chứng
Kiến và Chứng Minh.
Môi
trường của Nhân quả.
Một
số trường hợp điển hình về NHÂN QUẢ.
A.-
NHẬN QUẢ THẾ GIAN
01
Thiên Nhản của A La Hán
02
Đẹp và Giàu.
03
Hứa Hẹn.
04
Sống Khắc Khổ Hà Tiện.
05
Phóng Sanh.
06
Không cố ý.
07
Đồ Tể.
08
Bố Thí Trân Trọng.
09
Làm tròn Bổn Phận.
10
Dụng Tâm khi Bố Thí.
11
Giáo Hóa Thập Thiện.
12
Bình Đẳng.
13
Ảnh hưởng của Văn Hóa
LUẬN
VỀ NHÂN QUẢ
I–
MỞ ĐẦU:
Nói
đến đạo Phật là nói đến luật Nhân Quả Nghiệp báo,
một nguyên lý mà con người phải chịu lấy trách nhiệm hành
động của mình. Không phải thần linh nào khác đã qui định
thưởng phạt kiếp sống của con người, chính con người
thật sự là Thượng đế tối cao của họ, họ muốn làm
chủ đời sống hay muốn mất quyền làm chủ, họ muốn khổ
hay muốn vui, hoàn toàn bởi họ, không do một ai khác. Luật
Nhân Quả là nền Đạo Đức nhân bản cao cả hơn mọi nền
Đạo Đức nào khác, trong đó giá trị con người được nâng
cao không còn giới hạn. Câu chuyện về ông già chồn được
truyền mãi trong nhà thiền như sau.
“
Thoáng nhìn Tổ Bá Trượng đã biết đây không phải là người
bình thường trong khi ông già chầm chậm tiến về phía tổ.
Những đệ tử khác đều ra ngoài khi buổi giảng đã xong.
–
Ông là ai? Tổ hỏi.
–
Bạch Hòa Thượng, con không phải là người. Nguyên đời Đức
Phật Ca Diếp con là tăng. Có một đệ tử hỏi con "Bậc đại
tu hành có còn bị Nhân Quả chi phối hay không?”
–
Con đáp: "không bị Nhân Quả chi phối!" (Bất lạc Nhân Quả)
–
Thế là từ đó con đọa làm thân chồn đến nay đã năm trăm
đời. Không biết chỗ sai ở đâu, con xin Hòa Thượng đáp
lại cho đúng, để con thoát được thân chồn.
Tổ
Bá Trượng bảo:
–
Bây giờ ông hỏi lại ta.
–
Bạch Hòa Thượng, bậc đại tu hành có còn bị Nhân Quả
chi phối hay không?
Tổ
bảo:
–
Không còn mơ hồ về Nhân Quả! (Bất muội Nhân Quả)
Ngay
câu nói ông già liền đại ngộ, thưa:
–
Thế là từ nay con thoát được thân chồn, dám xin Hòa Thượng
lấy theo lễ Tăng chết tống táng cho con.
Nói
rồi ông già biến mất. Tổ Bá Trượng sai bạch kiền chùy
bảo chúng sau giờ ngọ trai sẽ đưa đám một vị tăng. Tăng
chúng đều ngạc nhiên vì thấy không ai chết, nhà bệnh không
ai nằm.
Sau
giờ thọ trai, Tổ dẫn chúng tăng vòng qua sau núi đến một
chiếc hang, lấy gậy bới ra xác một con chồn đem về làm
lễ trà tỳ.”
Lúc
được hỏi câu đó, ông già đang làm một vị tăng thời
Đức Phật Ca Diếp, có được định lực khá vững, nhưng
trong cái định đó ông chưa thấy được đường đi của
Nhân Quả nên trả lời theo chỗ thấy của mình, không ngờ
phạm một sai lầm quá nặng. Toàn bộ giáo lý của Phật đều
dựng trên nền tảng Nhân Quả, dù là thế gian, hay bồ tát
đạo. Phủ nhận Nhân Quả tức là phủ nhận toàn bộ Phật
pháp, và quả báo của tội lỗi đó là bị đọa làm thân
chồn năm trăm đời. Đến lúc tội đã mỏng, phước làm
Tăng lúc trước khởi dậy, ông găp Tổ Bá Trượng hạ một
chuyển ngữ phá tan cái định không ngơ của ông từ năm trăm
đời trước, khiến ông nhận ra Bản thể trí tuệ sáng suốt
hằng hiện hữu. Trí tuệ sẵn có này tuy rất thanh tịnh,
nhưng chẳng phải là hư vô, trái lại rất tinh tế nhỏ nhiệm,
bao hàm trùm khắp, biết rõ từng tác động và hậu quả của
nghiệp không chút lầm lẫn. Nếu cứu cánh cùng tột của
sự tu hành chỉ đưa đến không ngơ như cây đá thì đạo
Phật quả là tai hại! Nhưng sự thật không phải thế, cứu
cánh cùng tột của đạo Phật là nhận ra Bản thể sẵn có,
đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi, đầy dủ hoạt dụng,
nhưng vắng bóng phiền não khổ đau, không một sự trói buộc
nào còn tồn tại. Đó đích thật là sự làm chủ cho chính
mình, không bị tham sân si chi phối thúc đẩy tạo nghiệp
khổ đau, chỉ sống và làm vì lợi ích cho những chúng sinh
khác.
Đối
với đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến:
Một
là sống trong luân hồi bớt khổ đau, có phước báo cõi trời
cõi người.
Hai
là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử, có được Niết
Bàn an vui.
Ba
là giáo hóa cho chúng sinh cùng được thành tựu trí tuệ giải
thoát, gọi là hành đạo Bồ Tát.
Tuy
nhiên muốn thành tựu mục đích thì phải biết Nhân Quả,
biết nhân nào sẽ thành tựu được mục đích này. Lý Nhân
Quả là nền tảng của Đạo Phật, nếu chưa hiểu biết thâm
sâu về lý Nhân Quả tức là chưa hiểu đạo Phật và chưa
thực hành đúng đạo Phật.
Con
người sinh ra đã không đồng nhau trên mọi phương diện như
giàu nghèo, mạnh yếu, trí ngu, dòng tộc, gia đình... Những
thăng trầm may rủi trên đường mưu sinh lại càng muôn trùng
sai khác. Nguyên nhân của sự bất đồng đó quá sâu kín,
vượt khỏi tầm hiểu biết của người thường và họ đã
dựng lên Thượng đế, quy tất cả cho Thượng đế như là
một đấng sáng tạo để che dấu sự mơ hồ của mình. Họ
ngủ yên nơi niềm tin đó, thỏa mãn với sự tin tưởng đó,
vẽ vời và truyền bá thêm quan niệm đó cho con cháu họ.
Từ nay con người trở thành kẻ nô lệ cho chính một thần
linh mà họ dựng lên. Thật vậy, chính con người đã sáng
tạo nên Thượng đế, nhưng lại bảo Thượng đế sáng tạo
con người (Men created God but said that God had created men). Chỉ
có chân lý mới cứu vớt con người khỏi sự sai lầm này,
phục hồi lại quyền làm chủ cho con người để tự họ
quyết định cuộc đời họ theo ý muốn. Chân lý đó chính
là luật Nhân Quả Nghiệp báo giúp người thoát khỏi hai quan
niệm sai lầm về nhân sinh và vũ trụ, một cho Thượng đế
định liệu, hai cho mọi việc ngẫu nhiên. Những sự kiện
gần gũi quanh cuộc sống đều có nguyên nhân xa gần của
nó, chỉ vì không thấy được những nguyên nhân mà một số
người kết luận vội vàng là ngẫu nhiên. Cũng như quan niệm
thiên mệnh, quan niệm vạn vật ngẫu nhiên cũng là biểu lộ
sự dễ dãi nơi tri thức của con người mà những người
chín chắn kinh nghiệm không bao giờ vấp phải.
Tuy
nhiên, vì luật Nhân Quả chi phối qua nhiều kiếp sống quá
khứ đến đời sống hiện tại và kéo dài mãi đến đời
sống vị lai nên cặp mắt của con người còn nhiều loạn
động trong tâm thức không thể nào thấy được. Có những
hiện tượng tái sinh được nhiều người biết đến, được
báo chí đăng tải trên thế giới khi một người nhớ đến
đời sống quá khứ của mình và những người có trách nhiệm
đã kiểm chứng thấy là đúng khiến nhiều người mơ hồ
chấp nhận có nhiều kiếp luân hồi. Những người chỉ tin
vào khoa học thì yên lặng chờ đợi sự chứng minh của khoa
học rồi mới tin có luân hồi từ đời sống này sang đời
sống khác. Nhưng khoa học thì phải tiến bộ dần dần qua
nhiều thế kỷ. Có những điều lúc trước chưa được khám
phá, nhưng đã được khám phá thời gian sau đó và chắc hẳn
là tương lai về sau khoa học còn khám phá thêm những điều
mà bây giờ con người chưa biết đến.
Các
nhà khoa học đã cố gắng giải thích về tâm lý và sinh lý
của những đứa trẻ khi mà nó hoàn toàn không giống gì với
môi trường chung quanh của nó. Trong gia đình những người
con khác nhau đến kỳ lạ về tài năng và tính khí. Rồi những
thần đồng học một biết một ngàn hay chưa học đã biết.
Những hiện tượng đó vẫn còn là bí mật khi người ta chỉ
cố gắng tìm hiểu bằng tâm suy nghĩ lăng xăng của mình.
Thượng
đế ư? Lỗi thời quá!
Ngẫu
nhiên ư? Dễ dải quá!
Di
truyền ư? Khập khiểng quá!
Phải
chăng con người đã mang những khuynh hướng, những tình cảm,
năng khiếu từ đời sống quá khứ theo đến đời sống hiện
tại và tiếp tục gánh hành trang của đời sống này đi về
đời sống ở vị lai? Tại sao người em say mê nghiên cứu
khoa học trong khi người anh chỉ thả hồn theo tiếng nhạc
du dương? Tại sao người cha kỹ lưỡng chi li trong khi người
con thờ ơ hời hợt? Tại sao cả cha mẹ đều là giáo sư
dạy sinh vật ở trường Đại học Tổng hợp trong khi người
con duy nhất của họ không thể nào nhai nổi môn học chán
ngấy này? Có đời sống trước đời sống này chăng, có
sự luân hồi thay đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống
khác chăng, và nếu có thì làm sao biết được, hay phải chấp
nhận điều này bằng niềm tin? Chúng ta đã chán ngán cái
niềm tin không trí tuệ này quá rồi, bây giờ nếu có phải
tin, xin cho chúng ta một niềm tin sau khi đã suy xét bằng trí
tuệ.
Nếu
chúng ta không chấp nhận có đời sống quá khứ tức là cũng
không chấp nhận có đời sống vị lai. Đời sống hiện tại
chỉ bắt đầu từ lúc gặp gỡ giữa cha mẹ và chấm dứt
khi hơi thở hắt ra lần cuối. Ngoài ra không có gì trước
và sau đó nữa.
Với
quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được những
sự khác biệt nhau về trí tuệ, khuynh hướng, sở thích tính
khí và năng khiếu của con người dù họ cùng sống trong một
hoàn cảnh nhất định. Cũng đành ngạc nhiên trước những
hiện tượng thần đồng phi thường mà cha mẹ và môi trường
không thể đào tạo nổi. Nhưng tai hại này ít hơn tai hại
kế đó. Khi con người không tin luân hồi, thấy kiếp người
chỉ tồn tại vài mươi năm, họ sẽ sinh ra khuynh hướng hưởng
thụ vội vàng cho bản thân, từ khuynh hướng đó, nền Đạo
Đức tốt đẹp của con người sụp đổ không có cách nào
kéo lại được nữa. Lúc này mỗi người là một kẻ phá
hoại xã hội, là một kẻ cắp giật tranh giành, dù lộ liễu
hay kín đáo. Nền an ninh xã hội sẽ khủng hoảng trầm trọng.
Người ta sẽ tham nhũng, ăn cắp của tập thể, lơ là với
việc chung và kỹ lưỡng với việc riêng, những tội ác hình
sự sẽ đầy dẫy khắp nơi mà không một quyền lực nào
dập tắt được. Tình trạng kinh tế của một quốc gia chỉ
kéo lê thê như cơn hấp hối bởi vì mỗi con người trong
guồng máy đó chỉ nghĩ đến hưởng thụ cá nhân, che mắt
dư luận tranh giành xâu xé nhau, gạt bỏ người có tài ra
ngoài để kết bè phái củng cố địa vị của mình,
tuy là cán bộ của quốc gia nhưng lại chính là kẻ phá hoại
quốc gia. Họ không sợ tội lỗi chỉ cần kín đáo che mắt
xã hội, vì chết rồi không còn quả báo nữa, không đời
sống nào nữa, chết là hết!
Chẳng
phải Luật Nhân Quả Nghiệp báo là sự đối phó với tình
trạng xã hội, mà sự thật luật Nhân Quả là một chân lý
tồn tại khách quan. Luật Nhân Quả nằm trong sâu kín của
con người thì gọi là lương tâm, trùm phủ chi phối tất
cả sự việc của con người thì gọi là báo ứng. Tận trong
thâm tâm chúng ta ai cũng đồng ý rằng người có công đáng
được thưởng, kẻ có tội đáng bị phạt. Chính vì lương
tâm con người đã là luật Nhân Quả thế nên ai phát triển
lương tâm đến tột cùng minh bạch sẽ thốt lên câu:
" KHÔNG
CÒN MƠ HỒ VỀ NHÂN QUẢ "
Đồng
với Tổ Bá Trượng một cái nhìn khách quan sáng suốt. Thật
vậy, người lắng dừng mọi tâm thức vọng động, trí tuệ
sáng tỏ sẽ thấu hiểu lý Nhân Quả Nghiệp báo tinh vi hơn
bao giờ hết. Luật Nhân Quả là nền Đạo Đức công bằng
hơn mọi nền Đạo Đức nào khác và chính luật Nhân Quả
cũng chính là lương tri của nhân loại.
Vì
quá khứ đã đem lại an vui cho người nên hiện tại chúng
ta được hạnh phúc. Vì quá khứ chịu ơn của người nên
bây giờ phải nhận người sai khiến. Nếu đã lầm lỡ làm
khổ người thì bây giờ đành chuốc lấy tai ương. Tuy nhiên
luật Nhân Quả không cố định cứng ngắt, biến thiên vô
cùng phức tạp, nếu chúng ta không trầm tĩnh sáng suốt dễ
bị kết luận vội vàng thiếu sót.
II–
CHỨNG KIẾN VÀ CHỨNG MINH:
Các
nhà khoa học đã tinh tế chứng kiến những nguyên lý của
thiên nhiên, suy diễn thành những định lý và áp dụng vào
đời sống con người được hiệu quả gấp vạn lần hơn
trước. Tôi không nói là hiệu quả lợi hay hại vì Đạo
Đức chưa được kết hợp vào đấy. Khoa học luôn luôn bắt
đầu bằng sự chứng kiến, chứng kiến những nguyên lý khách
quan có sẵn và phát triển thành những định lý được chứng
minh. Như vậy nguyên lý là do chứng kiến và định lý
là do chứng minh.
- Ví
dụ người ta đã chứng kiến được nguyên lý Bảo toàn động
lượng và chứng minh được vấn đề có thể di chuyển ngoài
lớp khí quyển. Tuy nhiên nếu những nguyên lý khách quan chưa
được chứng kiến đầy đủ thì chúng ta đừng đòi hỏi
chứng minh những định lý khác. Căn bản là chứng kiến,
nếu chưa có sự chứng kiến thì các việc khác bế tắc.
Với những năng lực trí tuệ thông minh khác mọi người,
các nhà khoa học đã chứng kiến những nguyên lý mà người
thường không thấy được. Những người khác chỉ áp dụng
những điều khám phá của khoa học vào đời sống của mình
và được hiệu quả hơn. Nếu muốn tự mình chứng kiến
khám phá các nguyên lý khoa học họ phải trải qua thời gian
dài miệt mài học tập. Sau đây là một câu chuyện khoa học
giả tưởng dí dỏm.
“Sau
một thời gian khá lâu theo dõi quan sát những sinh hoạt của
địa cầu, Zed cho điã bay trở về hành tinh mình với vận
tốc vượt hơn vận tốc ánh sáng. Ở vận tốc này, mọi
vật thể đều bị triệt tiêu về kích thước và khối lượng,
nhưng không phải mất hẳn, chỉ cần cho một giao động đặc
biệt là con tàu trở thành tàng hình và lao đi vượt khỏi
vận tốc ánh sáng. Chỉ có phương pháp này, vũ trụ mới
trở nên nhỏ bé lại. Tại hành tinh của mình, Zed đã trình
bày mọi dữ kiện đã chứng kiến tại địa cầu cho hội
đồng khoa học. Vì nơi hành tinh của Zed không có thực vật,
không có cây cối nên đã có sự nghi ngờ xảy ra. Zed nói:
–
Ở hành tinh đó (địa cầu) loài vật thông minh nhất đã
lấy một hạt nhỏ như chiếc nút này, vùi xuống đất ẩm,
vài ngày sau hạt nảy mầm thành một cây bé xíu, vài năm
sau cây ấy lớn, lớn đến nổi có tàng che kín cả một khoảng
đất rộng. Chúng gọi việc đó là trồng cây.
Những
người khác hỏi lại:
–
Tại sai một hạt nhỏ xíu lại biến thành cây quá lớn như
vậy? Những sinh vật ấy có chứng minh sự kiện đó ra sao
không? Nếu có anh hãy chứng minh cho chúng tôi biết tại sao
một hạt nhỏ lại biến thành cái cây quá lớn như vậy?
Zed
lúng túng vài giây rồi đáp:
–
Loài vật ấy không có chứng minh về việc đó, từ ban sơ
của hành tinh, sự việc này đã tự nhiên diễn tiến. Loài
vật kia chỉ chứng kiến như một nguyên lý thông thường
và áp dụng cho đời sống của chúng. Chúng chỉ chứng kiến
chứ không chứng minh vì việc đó quá hiển nhiên và phổ
biến, chúng không còn gì phải thắc mắc về điều đó. Cây
cỏ mọc đầy cả đất liền và đáy biển, chúng không có
chứng minh tại sao cây lại mọc vì đó là nguyên lý tự nhiên
quá rõ rệt.
–
Câu trả lời của anh chưa ổn thỏa. Có khi vì sự theo dõi
của anh còn thiếu sót nên chưa chứng minh được việc đó.
–
Không phải vậy!”
Thôi
để họ tiếp tục cãi nhau đi, còn chúng ta trở lại công
việc của mình. Cây cối mọc đầy cả địa cầu và chúng
ta không có gì thắc mắc. Đó là một nguyên lý tự nhiên
rồi. Chỉ những người chưa chứng kiến thì đòi hỏi phải
chứng minh, còn người đã chứng kiến rồi thì biết đó
là SỰ THẬT.
Cũng
vậy, cây Nhân Quả bám rễ vào lòng đất quá khứ, vươn
ngọn tới bầu trời vị lai và rơi rụng hoa quả trên mặt
đất của hiện tại. Người chưa chứng kiến thì đòi hỏi
phải chứng minh, còn người có tâm an định lặng lẽ thì
chứng kiến rõ ràng đó là một nguyên lý chân thật. Đường
đi của Nhân Quả tuy vô hình đối với người tâm còn loạn
động, nhưng bày hiện rõ ràng với người có nội tâm an
tĩnh sâu xa, giác ngộ được tự tánh chân thật. Những đệ
tử của Phật khi vào Thiền Định chứng được Thiên nhãn
minh, có thể thấy rõ những nghiệp duyên, báo ứng của chúng
sinh, biết rõ do hạnh nghiệp gì từ quá khứ mà chúng sinh
kia phải chịu khổ hay được vui, thấy rõ chúng sinh chết
từ nơi này và sang nơi khác theo duyên nghiệp thế nào. Các
Ngài trông thấy rõ ràng như chúng ta cúi nhìn bầy kiến bò
trên mặt đất.
Các
nhà khoa học đã chế tạo được máy bay di chuyển rất nhanh
trên không trung và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng mua vé
ra phi trường lên máy bay đi đến nơi mong muốn, hoặc bạn
đợi học đến khi nào tự chứng minh được những nguyên
tắc hoạt động của máy bay rồi sẽ chịu du hành bằng máy
bay. Bạn muốn chọn con đường nào?
Các
bậc đạt đạo đã chứng kiến luật Nhân Quả Nghiệp báo,
và bây giờ, hoặc là bạn tin tưởng áp dụng tạo những
nhân lành để đi về nơi mong muốn, hoặc bạn đợi tu cho
đến khi tự chứng kiến được những tính cách của luật
Nhân Quả rôøi mới chịu sống Đạo Đức gây tạo nhân lành,
sống vì mọi người, tận lực phụng sự quê hương đất
nước. Bạn muốn chọn con đường nào?
Chúng
ta nên nhớ, luật Nhân Quả là một nguyên lý khách quan để
chứng kiến, không phải để chứng minh. Nếu bạn đã chứng
kiến được đường đi của Nhân Quả thì không còn gì để
bàn cãi thêm, tôi xin chân thành cúi đầu đảnh lễ bạn như
tôi đã kính trọng các bậc Thánh giải thoát từ trước.
Nếu bạn chưa chứng kiến được sự chi phối trùm khắp
của luật Nhân Quả, nhưng công nhận là đúng với lương
tri loài người, thật sự tin tưởng và áp dụng cho cuộc
sống của mình, thì tôi xin chúc mừng cho bạn vì từ đây
bạn sẽ là niềm vui cho mọi người, là công dân tốt cho
đất nuớc, là cá nhân tiêu biểu trong tập thể, là con người
đáng kính trong gia đình. Đất nước chúng ta đang cần nhiều
những con người tin hiểu Nhân Quả để chuyển mình phát
triển, để Đạo Đức văn minh sáng tỏ trong lòng người,
trên đường phố, chốn đông người, trong xanh nơi đôi mắt
em thơ, cao cả nơi lời nói cụ già, thật thà trong hành vi
người trai trẻ. Thiếu hiểu biết Nhân Quả, con người đã
mưu tìm hạnh phúc cho mình bằng cách chiếm đoạt của tha
nhân, của tập thể, của đất nước. Trái lại người hiểu
biết Nhân Quả sẽ mưu tìm hạnh phúc cho mình xuyên qua việc
làm lợi ích cho tập thể trước, từ bỏ cuộc sống ích
kỷ riêng mình, hòa vào đời sống công cộng vui vẻ vì môi
trường tập thể là nơi để chúng ta có dịp phụng sự nhiều
hơn đời sống cá nhân.
Chúng
ta chưa đủ trình độ chứng kiến quy luật Nhân Quả Nghiệp
báo đã chi phối như thế nào, nhưng không thấy đâu có nghĩa
là không có! có nhiều điều khoa học chưa khám phá, nhưng
nó vẫn tồn tại hiện hữu, và mãi về sau khoa học mới
tìm thấy. Cũng vậy, dù trí óc con người suy luận không tới,
dù chúng ta không đủ sức định tâm để chứng kiến nhưng
luật Nhân Quả vẫn trùm phủ chi phối một cách khách quan.
Luật Nhân Quả phù hợp với lương tâm loài người, có tính
cách công bằng tự nhiên, đặt trách nhiệm nơi chính con người
vì việc làm của họ, không có sự nô lệ nơi một thần
linh bên ngoài, cũng không có tính cách vô luân như kẻ chủ
trương ngẫu nhiên hoạ phúc. Chúng ta đã kêu gào đánh thức
lương tâm nhân loại trước tội lỗi đang lan tràn trên thế
giới, nhưng nếu không đánh thức sự hiểu biết Nhân Quả
của con người thì sự kêu gào đó chỉ là tiếng than van
giữa sa mạc hoang vu.
Luật
Nhân Quả là một quy luật khoa học khách quan như mọi quy
luật khoa học khác của tự nhiên, chỉ khác ở chỗ muốn
chứng kiến được đường đi của luật Nhân Quả thì phải
có một trình độ định tâm khá sâu. Các đất nước có
nền văn minh phát triển cao bởi do khéo áp dụng các khám
phá của khoa học cho đời sống con người làm tăng thêm hiệu
quả các việc làm của họ. Cũng vậy, nếu ai áp dụng được
sự hiểu biết luật Nhân Quả thì đời sống họ sẽ trở
nên tốt đẹp hơn lúc trước, ích lợi hơn cho gia đình họ,
cho tập thể và cho đất nước họ. Nếu trong một quốc gia
có đại đa số người hiểu biết quy luật Nhân Quả một
cách thấu đáo, quốc gia đó sẽ chuyển mình phát triển không
bao lâu. Bởi vì sự áp dụng được một quy luật tự nhiên
đều đem đến hiệu quả lớn lao hơn trước. Nhưng ưu việt
hơn những quy luật khoa học khác chỉ đem đến cho con người
hiệu năng, luật Nhân Quả sẽ đem đến cho con người Đạo
Đức chân thật.
Ở
mức độ dao động tâm thức nào giờ, con người đã chứng
kiến và chứng minh nhiều quy luật khoa học tự nhiên khác.
Ở mức độ lắng định tâm thức sâu hơn, con người sẽ
chứng kiến và chứng minh nhiều quy luật đang còn gọi là
bí ẩn của nhân sinh và vũ trụ. Nếu chỗ an định tột cùng
của tâm thức, người ta còn sẽ chứng kiến vô số những
quy luật vô cùng phong phú phức tạp đa dạng của con người
và vũ trụ mà dù cho một kẻ thông minh nhất cũng không thể
nào suy luận nổi. Ở tập hợp N không có các con số âm.
Ở tập hợp Z không có các con số vô tỷ, và ở tập hợp
R không có các hình thức số phức như tập hợp C. Cũng vậy,
những quy luật khám phá được ở mức độ tâm thức dao
động không thể nào so sánh được với những quy luật được
khám phá ở mức độ tâm thức lắng định. Người ta bây
giờ và mãi mãi, không thể nào dùng những kiến thức khoa
học hiện nay để chứng minh được luật Nhân Quả, chỉ
bởi vì kiến thức khoa học hiện nay thuộc tập hợp của
tâm thức dao động, còn luật Nhân Quả thuộc tập hợp của
tâm thức an định. Thật là quê mùa nếu chúng ta đòi hỏi
phải chứng minh luật Nhân Quả bằng những kiến thức khoa
học hiện nay. Chỉ có chứng kiến, khách quan chứng kiến,
khi tâm thức chúng ta đã vào sâu trong an định mà thôi. Người
khôn ngoan là người nhận thấy rõ tính cách hợp lý của
luật Nhân Quả và chấp nhận nếu họ chưa đủ định lực
để tự chứng kiến sự vận hành của nó.
III–
MÔI TRƯỜNG CỦA NHÂN QUẢ:
Một
hòn đá rớt xuống hồ nước yên lặng, thế rồi những vòng
sóng tỏa đi càng lúc càng xa. Mặt nước là môi trường để
cho sóng lan tỏa sau khi nhận được kích động bởi sự va
chạm của hòn đá.
Không
khí là môi trường truyền đi của âm thanh. Nước là môi
trường sinh sống của cá. Vật trong suốt là môi trường
của ánh sáng.
Những
gì có biến thiên thay đổi đều có môi trường của nó và
luật Nhân Quả cũng vậy, cũng có một môi trường để cho
một tác nhân biến đổi thành quả báo.
Chị
Chín đã khóc khá nhiều sau cái chết đột ngột của anh Chín.
Hôm anh Chín từ nhà đi bộ qua thăm Bác Ba bên kia làng. Anh
đã chọn lối đi bên trái thay vì lối đi bên phải và giữa
đường một cành cây khô gãy rơi xuống trúng vào đầu anh.
Anh tắt thở khi được đem đến bệnh viện.
Tai
nạn của anh được kết thành bởi hai điều kiện, do ý tưởng
của anh chọn lối đi bên trái (điều kiện nội tại) và
do cành cây khô gãy đúng lúc anh đi ngang (điều kiện ngoại
tại).
Luật
Nhân Quả đã chi phối và tác động khắp nơi, tận trong tư
tưởng và trùm phủ nơi vạn vật. Môi trường để cho Nhân
Quả vận hành quả là lớn lao và thấu đáo, thẳm thấu nơi
tâm và vật, ứng hiện nơi loài có tri giác và loài không
tri giác, rõ ràng nơi từng tâm niệm vi tế và trùm khắp mênh
mông trong vũ trụ, nhỏ nhiệm như mũi kim và thênh thang như
pháp giới. Môi trường này mắt không thể thấy tai không
thể nghe, rờ không thể chạm, không có hình tướng, rất
là thanh tịnh vắng lặng, nhưng khi đã khởi tác dụng thì
giông bão quay cuồng, quả đất rung chuyển, gió thổi sóng
xô, bốn mùa thay đổi. Tốt đẹp thì mưa gió thuận hòa,
nắng ấm xuân sang, mùa màng tươi tốt. Xấu xa thì ngập lụt
bão tố, hạn hán khô cằn, cây trồng trơ trụi. Ứng nơi
vạn hữu thì gọi tên là Pháp tánh, Chân như, nếu cần gọi
là Thượng đế cũng được nhưng không phải Thượng đế
theo quan niệm sai lầm từ trước. Ứng nơi con người cũng
thành
nhiều tên gọi. Theo tính cách biết rõ Nhân Quả thì gọi
là lương tâm, theo tính cách bất sanh bất diệt (không có
bắt đầu, không có chấm dứt) thì gọi là Chơn tâm, theo
tính cách sáng suốt liễu tri thì gọi là Trí tuệ, theo tính
cách giải thoát thanh tịnh thì gọi là Niết Bàn, theo tính
cách thương yêu bình đẳng vạn loài thì gọi là Thể Đại
bi, theo tính cách vượt khỏi tâm thức sinh diệt thì gọi
là Vô ngã... Chính vì có môi trường kỳ diệu này mà có
sự vận hành của Nhân Quả Nghiệp báo. Nếu không có môi
trường kỳ diệu này thì không có sự vận hành của Nhân
Quả.
Nếu
người nào có thể lắng tâm mình đến tột cùng và giác
ngộ được môi trường này, thể tánh này sẽ thấy rõ sự
vận hành của Nhân Quả. Có nhiều người tu tập Thiền Định,
tuy có phần định tâm nhưng chưa thể giác ngộ toàn triệt
thể tánh kỳ diệu này vẫn không thấy được đường đi
của Nhân Quả. Phải là bậc giác ngộ viên mãn thể tánh
đó mới "KHÔNG MƠ HỒ VỀ NHÂN QUẢ".
Thiền
sư Tổ Giác Hoa Nghiêm sau khi triệt ngộ đã làm bài kệ:
"Ra
rừng như cũ vào bồng hao (2 loại cỏ)
Lưới trời lồng lộng trốn được nào
Ai tin nghiệp duyên không thể trốn
Trở về chẳng sợ lời nói cao"
Nếu
ngộ đến chỗ thấy không lầm Nhân Quả mới có thể không
còn lúng túng trước sự gạn hỏi của người khác về thiền
đạo.
Thể
tánh này vừa trùm khắp không gian, tuy có nơi tâm một người
mà vẫn bao hàm cả pháp giới, tuy rõ ràng tại một sát na
mà vẫn phủ trọn cả ba đời (Quá khứ, hiện tại, vị lai).
Với người chưa giác ngộ thể tánh này, còn nhìn vạn hữu
theo tâm thức dao động, những kiến thức hạn chế trong tập
hợp này thì thấy không gian là sai khác. Điểm A không phải
là điểm B, lúc 5 giờ không phải là lúc 6 giờ. Nhưng người
có tâm thức an định, giác ngộ thể tánh này một cách viên
mãn thì không phải vậy. Thể tánh này hiện hữu nơi điểm
A nhưng vẫn rõ ràng tại điểm B, chẳng những riêng tại
A và B mà còn đầy đủ cả pháp giới. Dòng thời gian đều
đặn trôi chảy nhưng không trôi chảy khỏi thể tánh này,
dòng thời gian vô vùng vô tận vẫn nằm gọn trong thể tánh
kỳ diệu kia.
Đây
là điều mà người chưa giác ngộ không thể nào thấy được,
không thể nào tưởng tượng suy nghĩ tới được. Bởi vì
sao? Chỉ vì tâm suy tưởng quá nhỏ hẹp và hạn chế. Cũng
như không thể tìm thấy số vô tỷ trong tập hợp N chỉ
gồm các số nguyên tự nhiên.
Với
con mắt phàm tục đầy loạn động như chúng ta, quá khứ
là cái gì đã qua mất không còn tìm thấy được nơi hiện
tại, và vị lai là cái gì chưa đến cũng không tìm thấy
được nơi hiện tại. Nhưng người giác ngộ lại thấy rõ
cả quá khứ, hiện tại và vị lai đều nằm gọn trong thể
tánh. Tác nhân từ quá khứ trôi chảy trong môi trường thể
tánh đến hiện tại và vị lai, kết thành quả báo khi duyên
đã đầy đủ. Chính vì môi trường thể tánh thông đạt
cả tâm và vật nên có những quả báo sinh ra nơi tâm như
được thông minh trí tuệ, hoặc sinh ra nơi vật như mùa màng
thuận lợi, hoặc kết hợp vừa tâm vừa vật như một người
dự định công chuyện lại được hoàn cảnh may mắn để
thành công.
Cái
dụng của thể tánh rất lớn người chưa giác ngộ còn si
mê tạo các nghiệp, đến khi quả báo thành có thể làm đất
sụp, núi lở, cuồng phong, lửa cháy. Hoặc người tạo thiện
nghiệp đến khi quả báo thành có thể gió yên sóng lặng,
nắng ấm trời trong, thú dữ qui phục, cây trái tốt tươi,
mùa màng thạnh mậu. Khi có phước tâm người ta dễ ứng
thành những trực giác bén nhạy quyết đoán công việc mau
lẹ chính xác, hoặc đoán ra thủ đoạn của đối phương
để đối phó, hoặc ứng ra qui luật chinh phục lòng người.
Những nhà lãnh tụ chính trị đều có cái phước này. Tuy
nhiên đó là dụng lực theo nghiệp. Đối với người
đã giác ngộ đạt được quả báo lớn lao, có thể từ nơi
thể tánh này khởi lên những dụng lực phi thường. Đây
là dụng theo nguyện. Những thần thông của Phật và chư vị
đệ tử Alahán ghi đầy trong kinh điển đều là dụng lực
theo nguyện. Các vị có thể một thân hóa thành nhiều thân,
dập tắt một cơn cháy rừng, hóa ra lửa cháy, biến ra nước
trôi, thâu ngắn kéo dài không gian thời gian... tùy ý tự tại
rất là kỳ diệu.
Có
nhiều thể tánh hay chỉ có duy nhất một thể tánh?
Đây
là câu hỏi tế nhị và cần thiết.
Thể
tánh này là tịch lặng và vô ngã.
Bản
ngã là riêng nhưng VÔ NGÃ thì không phải riêng. Tất cả những
ai đã thể nhập được thể tánh này thì cùng hòa chung nhau
trong tính chất trí tuệ và từ bi. Tất cả đều cảm ứng
giao hòa với nhau không còn ngăn cách. Một vị khởi dụng
thì các vị khác đều biết rõ. Trong thể tánh này, mọi cái
riêng rẻ đều vắng bóng. Tuy nhiên, nếu một vị chợt khởi
niệm quan sát, khởi công hạnh từ bi thì vẫn là thuộc về
riêng của vị đó mà tất cả vị Alahán, tất cả chư Phật
đều biết rõ và hỗ trợ. Thể thì không phải riêng, nhưng
dụng và hạnh thì riêng. Tất cả chư Phật đã nhập Niết
Bàn đều trở thành duy nhất.
Chính
vì tính chất chung của thể tánh nên có hiện tượng cộng
nghiệp (nghiệp chung).
–
Người dân Koweik cùng sống trên cái túi dầu và chính phủ
phải phát lương cho học sinh vì thu nhập quá nhiều.
Cánh
đồng phù sa màu mỡ, sông nước mênh mông nên người dân
miền nam bộ Việt Nam được dễ dàng lương thực.
Cơn
bão vừa rồi làm ngập lụt cuốn trôi cả làng ven biển và
phá hoại cánh đồng lúa của huyện.
Cơn
động đất ở Tây Ban Nha làm chết nhiều người và hư hại
tài sản khá nặng của dân chúng trong vùng.
Những
trường hợp tương tự như trên đều là nghiệp chung của
nhiều người. Chính vì các loài sống trên hành tinh này cộng
nghiệp nên trăng quay quanh trái đất hơn 29 ngày một vòng,
trái đất quay quanh mặt trời nghiêng nghiêng hơn 365 ngày một
vòng, các mùa thay đổi như thế, không khí nhiệt độ như
thế, biển trời mây gió như thế. Tất cả biển, trời, sông,
núi, ghềnh thác đều do nghiệp chung của chúng sinh nơi đây
mà hiện thành, chẳng phải ngẫu nhiên bừa bãi.
Cái
dụng của thể tánh thật vô hạn. Người có thể giác ngộ
được thể tánh rồi thì ứng nơi mình được đầy đủ
lương tâm, đầy đủ trí tuệ, đầy đủ từ bi, được niềm
vui của sự giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc của khổ đau
nhân thế. Thể tánh này thênh thang như bầu trời tự do mà
cuộc sống tâm thức xao động hiện tại của chúng ta như
ngục tù nhỏ bé. Trong bài kệ Pàli từ nguyên thủy (Tiểu
bộ kinh, XLH, DUK II 6, T 37) Phật đã xác nhận về thể tánh
này với nguyên văn:
"Này
các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác
thành, không làm ra (không bởi một cái gì làm ra cái đó)
(Asarkhatan). Này các Tỳ kheo, nếu không có cái không sanh, không
hiện hữu, không tác thành, không làm ra thì ở đây không
có vấn đề xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác
thành, khỏi làm ra (những tướng hữu vi sanh diệt). Do vì,
này các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không
tác thành, không làm ra nên mới có vấn đề xuất ly khỏi
sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra."
Ví
như nếu không có vùng trời tự do thì không thể có vấn
đề ra khỏi nhà ngục. Chính vì thật sự có vùng trời tự
do nên mới có thể ra khỏi nhà ngục. Nhà ngục chính là tâm
thức xao động đầy dẫy những tham lam, sân hận, si mê, kiêu
mạn, ích kỷ. Chính những tâm niệm này trói buộc chúng ta
trong đau khổ và tội lỗi từ vô lượng kiếp đến nay. Sự
giải thoát an vui chỉ thật sự có khi chúng ta mở cửa nhà
ngục tham sân si để bước ra bầu trời tự do của thể tánh
bất sinh bất diệt kia. Người giác ngộ thể tánh đó, kinh
Nguyên thủy gọi là bậc vô sanh (Arhat) kinh Đại thừa gọi
là bậc Giác ngộ hữu tình (Bodhisatva), Thiền tông gọi là
Đấng giác ngộ (Buddha).
Chính
chúa Jésus cũng đã định nghĩa Thiên chúa theo ý nghĩa này
trong khi cả dân tộc Do Thái cứ đinh ninh Thiên Chúa là hình
ảnh ông già râu dài toàn quyền sinh hóa và thưởng phạt.
Một
hôm Chúa cùng các môn đệ đến xứ Samaria một xứ có
thù hằn với Do Thái. Chúa ngồi nghỉ tại bờ giếng ngoài
làng trong khi các môn đệ vào làng tìm lương thực. Có một
cô gái Samaria đến giếng gánh nước. Chúa bảo:
–
Cô hãy cho ta xin miếng nước.
Cô
gái khinh khỉnh đáp:
–
Ông là người Do Thái mà lại xin nước của tôi à?
–
Nếu cô biết người xin nước của cô là ai thì có lẽ cô
đã trở lại xin ta mạch nước của sự sống đời đời.
–
Ông là ai mà có mạch nước đó trong khi giếng này là của
tổ phụ Jacobe tôi đào nên. Ông hơn Jacobe sao!
Chúa
bảo:
–
Nước giếng này không làm người ta vĩnh viễn hết khát,
còn nước của ta có thể đưa đến sự sống đời đời.
–
Nếu có ông hãy cho tôi đi!
Chúa
bảo:
–
Cô hãy gọi chồng cô ra đây!
–
Tôi không có chồng.
–
Đúng! cô đã ở với năm người đàn ông và người thứ
sáu này cũng không phải là chồng cô.
Cô
gái kinh ngạc thưa:
–
Ngài thật là bậc tiên tri... Thưa Ngài, tổ tiên con thì bảo
phải thờ Thiên Chúa trên đỉnh núi kia, tại sao người Do
Thái lại thờ nơi đền thánh ở Jérusalem?
Chúa
bảo:
–
Này cô gái, đã đến lúc không phải thờ Thiên Chúa trên
đỉnh núi hay trong đền thánh, mà phải thờ Thiên Chúa trong
tinh thần và trong sự thật, bởi vì Thiên Chúa chính là tinh
thần và sự thật!
Tôi
vô cùng kính trọng Chúa Jésus từ khi được đọc đoạn Phúc
Âm trên và cũng buồn vì người Thiên Chúa không hiểu ý Chúa.
Tôi cũng nghi ngờ người dịch sau này tách đôi hai chữ tinh
thần và sự thật, nếu ghép lại hai chữ đó nghĩa là
Chân tâm.
Nếu
hiểu Thiên Chúa theo nghĩa này thì sự thưởng phạt của Thiên
Chúa chính là luật Nhân Quả công bình và tự nhiên.
Bạn
muốn rõ thêm về thể tánh này có thể xem kinh Lăng Nghiêm
của Đại thừa Phật giáo.
MỘT
SỐ TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH VỀ NHÂN QUẢ:
Bởi
vì kẻ phàm phu tâm thức còn nhiều dao động như chúng ta,
bị che mờ bởi những tình cảm thương ghét chủ quan nên
lương tâm chưa sáng tỏ minh bạch, thế nên chúng ta không
biết sợ một nhân này sẽ kết thành quả báo như thế nào,
hoặc một quả báo này phải bắt đầu bằng những tác nghiệp
ra sao? Muốn đánh thức sự hiểu biết của lương tâm để
chúng ta có thể biện rõ đường đi của Nhân Quả, chúng
ta nên bắt đầu bằng cách tham khảo lại những trường hợp
Nghiệp báo đã được giảng giải phân tích bởi Phật và
các vị Thánh từ trước. Qua những trường hợp điển hình
cũ chúng ta sẽ có kinh nghiệm, làm sống dậy sự hiểu biết
của lương tâm và sau đó chúng ta có thể tự mình suy luận
lấy những trường hợp Nghiệp báo khác bớt sai sót hơn.
A–
NHÂN QUẢ THẾ GIAN
I–
THIÊN NHÃN CỦA ALAHÁN:
(Trích trung bộ kinh I, kinh Randarara, B)
..."Với
tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bất động
như vậy, vị ấy hướng tâm trí tuệ đến sanh tử của chúng
sinh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy
sự sống và chết của chúng sinh. Vị ấy tuệ tri rõ rằøng
chúng sinh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ
thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp
của chúng. Vị ấy nghĩ rằng thật sự những chúng sinh này
thành tựu những ác hạnh về thân, lời nói, ý nghĩ, phỉ
báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà
kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải
sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những
chúng sinh khác thành tựu những thiện hạnh về thân, lời
nói, ý nghĩ, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến,
tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau
khi thân hoại mạng chung, được sinh lên các thiện thú (chỗ
đến), thiên giới, cõi đời này. Như vậy vị ấy với thiên
nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng
sinh, vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sinh, người hạ liệt
kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn
kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng."
NHẬN
XÉT:
Trình
độ để một hành giả thành tựu thiên nhãn siêu nhiên là
Tứ thiền. Người nhập được Tứ thiền tâm thanh tịnh đến
nổi hơi thở dừng lại. Thuần thục Tứ thiền vị này hướng
tâm về những đời sống quá khứ của chính mình và nhớ
lại vô lượng đời sống quá khứ ấy. Khả năng này gọi
là Túc mạng minh. Rồi vị ấy hướng tâm quan sát sự lưu
chuyển sanh tử của chúng sinh và thấy chúng sinh khổ vui theo
nghiệp thiện ác của quá khứ. Khả năng này gọi là Thiên
nhãn minh. Rồi vị ấy hướng tâm về đầu mối của sanh
tử triền phược, tìm ra nguồn gốc của khổ, tìm ra ý nghĩa
của giải thoát và con đường đưa đến giải thoát. Liền
đó vị ấy thoát khỏi mọi lậu hoặc vô minh, thành tựu
Niết Bàn an ổn. Khả năng này gọi là lậu tận minh. Đủ
ba minh này, vị ấy được gọi là Alahán.
Phải
là người chứng Thiên nhãn minh mới thấy được đường
đi của Nhân Quả. Chúng ta đừng dùng mắt thịt nhìn vào
cõi không gian thô thiển này mà mong tìm đường đi của Nhân
Quả.
Khoa
học chưa đủ khả năng để khám phá những tầng lớp không
gian sâu thẳm hơn, chỉ có người lắng sâu trong Thiền Định
mới thấy được điều này. Và ở đây, đường đi của
Nhân Quả Nghiệp báo là một sự thật được chứng kiến
rõ ràng. Một người mù từ thuở lọt lòng, dù được nghe
diễn tả chứng minh đủ mọi cách về màu sắc, vẫn không
thể nào tin hiểu được. Chúng ta là những người mù từ
thuở lọt lòng, không khai phát thiên nhãn, dù được nghe diễn
tả chứng minh đủ cách về đường đi của Nhân Quả vẫn
không thể nào tin hiểu được. Nhưng hạnh phúc thay cho những
ai nghe được lương tâm mình lên tiếng nói để có thể tin
hiểu lý Nhân Quả Nghiệp báo rất là công bằng và mầu nhiệm.
Chúng
ta muốn làm việc nghĩa, muốn đem nhiệt tình, tài năng và
bạo lực để thay đổi hoàn cảnh của mọi người, dành
lấy tài sản của người này đem phân phát cho người khác.
Nhưng điều này không phải là nguồn gốc cho hạnh phúc của
xã hội. Chính hạnh nghiệp quá khứ đã đưa đến hoàn cảnh
đời sống khổ vui cho họ như hiện tại. Nếu chúng ta thương
yêu họ, những kẻ khốn cùng, hãy giáo hóa cho họ biết thương
yêu giúp đỡ mọi người hơn là phẫn nộ và tàn ác. Kẻ
càng nghèo càng dễ trở thành tội lỗi, và tội lỗi làm
cho họ khốn đốn hơn. Con người phải chịu trách nhiệm
lấy mọi hành động của mình, không phải thần linh qui định
cho họ, nhưng cũng không phải ngẫu nhiên vô cớ. Hai quan niệm
một chiều cực đoan và sai lầm rất phổ biến nơi mọi người.
Một, trút hết mọi trách nhiệm cho một thần linh tưởng
tượng, và mình trở thành kẻ cầu nguyện van xin. Hai, xem
họa phúc là việc ngẫu nhiên của hiện tại, chỉ do tài
năng để đạt thành và như thế họ trở thành kẻ tự cao
ác độc.
Họ
phải can đảm nhận lấy khổ vui như là hậu quả của chính
mình và phải dè dặt cẩn thận trong từng hành động của
hiện tại. Một người như thế, mọi người như thế, thế
giới này bỗng trở thành cõi tịnh lạc vinh quang.
Những
câu nói mộc mạc của ông bà như "Ở hiền gặp lành", "Gieo
gió gặt bão"... đã tuôn chảy vào lòng người Việt Nam thành
một truyền thống Đạo Đức tốt đẹp. Đánh mất truyền
thống Đạo Đức này, nền Đạo Đức của thế hệ trẻ
Việt Nam sẽ đổ vỡ sa đọa không còn hàn gắn xây đựng
được nữa. Tương lai của xã hội tùy thuộc vào thế hệ
trẻ. Nếu thế hệ này không còn Đạo Đức, trước mắt
chúng ta là buổi chiều ảm đạm bên cạnh vực thẳm đau
thương. Cần phải dựng lại nền Đạo Đức nhân bản này
để ánh sáng của tình thương phả khắp vào lòng người
mãi mãi.
2–
ĐẸP VÀ GIÀU:
Khi chưa trở thành hoàng hậu, Mallika (Mạt Lợi) là cô gái
bán bánh và không đẹp. Một lần cúng dường bánh lên Đức
Phật, được Đức Phật cho biết cô sẽ là hoàng hậu. Sau
này trở thành vợ vua Pasenadi, bà đến gặp Đức Phật và
hỏi về nguyên nhân của giàu nghèo, đẹp xấu, Đức Phật
trả lời như sau. (Xem Tăng chi bộ kinh, 2A,1đ7, tr264) "Ở đây,
này Mallikà, có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại nhiều, tuy
bị nói ít, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ
gây hấn, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn, không bố
thí cho Sa Môn hay Bà La Môn, món ăn vật uống, vải mặc, xe
cộ vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn
đuốc, tánh tình keo kiệt. Thấy người khác được lợi dưỡng,
cung kính, nó ganh tỵ tức tối, bị trói buộc bởi ganh tỵ.
Người ấy sau khi từ bỏ đời sống trở lui lại trạng thái
này, tại đấy nó tái sanh hạ liệt, dung sắc xấu, sắc đẹp
xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu
ít, ảnh hưởng uy tín ít.
"Ở
đây, này Mallikà, có nữ nhân phẫn nộ nhiều não hại,...
gây hấn, bất mãn. Nó bố thí cho Sa Môn hay Bà La Môn..., tánh
không keo kiệt, thấy người khác được lợi dưỡng tôn trọng...
nó không ganh tỵ. Người ấy sau khi từ bỏ đời này, trở
lui lại trạng thái này, tại đấy, nó tái sinh, dung sắc xấu,
sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nhưng giàu sang, tài sản
lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn!"...(lượt đoạn
một)..."Ở đây, này Mallikà, có nữ nhân không phẫn nộ,
não hại không nhiều, tuy bị nói nhiều không có nổi giận,
nổi nóng... bất mãn. Nó bố thí cho Sa Môn hay Bà La Môn món
ăn... đèn đuốc, tánh tình không keo kiệt. Thấy người khác
được lợi dưỡng cung kính... nó không ganh tỵ... người
ấy sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này,
tại đấy nó tái sanh dung sắc đẹp, sắc đẹp tốt, tịnh
tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, giàu sang, tài sản
nhiều, sở hữu lớn, ảnh hưởng uy tín lớn".
Sau
những lời giải thích này, hoàng hậu quy y Đức Phật.
NHẬN
XÉT:
Xã
hội Ấn Độ chia thành bốn giai cấp, trong đó giai cấp Bà
La Môn được xem là tối thắng, là giai cấp lãnh đạo tinh
thần của xã hội. Mặc dù được qui định bởi dòng tộc
huyết thống nhưng những vị Bà La Môn phải sống rất đạo
hạnh, trường trai, giữ giới và Thiền Định. Những giới
luật dành cho họ khắc khe hơn những giai cấp khác. Họ là
tiêu biểu cho Đạo Đức của xã hội. Đến khi đã làm tròn
bổn phận tại gia, họ có thể lìa gia đình làm vị Sa Môn
ẩn tu Thiền Định chuyên chú. Chính vì Đạo Đức của giai
cấp này (ít ra trong thời Đức Phật) mặc dù không hoàn toàn,
nhưng cũng khiến cho người cúng dường được nhiều phước
báo.
Như
thế Phật đã chỉ ra rằng sân hận là nguyên nhân của xấu
xí và từ ái là nguyên nhân của đẹp đẽ. Khi người nổi
cơn thịnh nộ, họ đã thể hiện sự tức giận đó bởi
những nét mặt hung dữ, thô bạo, khó coi. Thường xuyên sân
hận như vậy, nét mặt ấy trở thành tướng trạng cố định
dành cho họ ở mai sau. Nếu người có gương mặt xấu xí
đời này, họ cũng thường mang theo thói quen sân hận từ
đời trước.
Ngược
lại, người có lối xử sự ôn hòa và tâm hồn từ ái thương
người, thương vật, họ sẽ cảm thành gương mặt đẹp đẽ
dịu dàng, ánh mắt bao dung xanh biếc. Người được nét đẹp
này cũng vẫn còn mang theo đức tánh hiền lành từ quá khứ.
Tuy
nhiên trong cuộc sống chúng ta vẫn thường gặp gỡ những
người xấu xí, không sân hận thịnh nộ, nhưng ích kỷ nhỏ
nhoi và thường phạm ác pháp. Nét xấu xí không được gây
bởi nhân sân hận, nhưng được gây bởi nhân hẹp hòi và
phá giới.
Rồi
cũng có những người rất đẹp và cũng rất dữ, hoặc rất
đẹp nhưng cũng rất hẹp lượng độc ác. Có một công đức
tác thành sự đẹp đẽ là đã từng dâng hoa cúng Phật, tô
vẽ hình tượng chư Thánh để cầu xin phước báo. Có thể
họ sẽ trở thành đẹp đẽ như ý nguyện, nhưng trong nét
đẹp bên ngoài đó vẫn để lộ ra vài nét không hoàn toàn
mà một người có nhiều trực giác sẽ đọc thấy tính chất
đen tối còn u uẩn ngủ ngầm. Hoặc, mặc dù rất đẹp
nhưng thỉnh thoảng đôi mắt lóe lên tia hung quang, hoặc đôi
mắt để lộ nét nham hiểm âm thầm... Những nghiệp thiện
ác xen lẫn từ quá khứ nên chúng sinh khó được hoàn toàn
mọi mặt. Tuy nhiên Phật nêu ra công đức từ ái hiền lành
như là một nhân chơn chánh hơn những nghiệp giả tạm bên
ngoài nào khác.
Mọi
sự giàu sang đều bắt nguồn từ bố thí. Không bố thí,
vĩnh viễn không có sự sung mãn tài vật. Tuy Phật khen ngợi
hành vi cúng dường cho các bậc tu hành đức hạnh như là
một phước điền tươi tốt khiến cho thí chủ thu hoạch
được nhiều phước báo, nhưng nếu người có lòng nhân ái
sẽ không bỏ qua một chúng sinh khốn khổ nào dù đó là kẻ
tội lỗi. Bố thí là sự biểu hiện chân thật của tình
thương. Không thể có tình thương ở đầu lưỡi mà phải
có tình thương nơi đôi bàn tay dâng tặng. Bố thí không những
đem lại phước báo cụ thể mà nó còn là một phương pháp
để tu tập những đức hạnh khác. Bắt đầu bằng công hạnh
bố thí, người này sẽ buông xả những chấp trước dễ
hơn, tâm quảng đại thêm lớn, lòng tham mỏng nhạt dần.
Hãy tập bố thí từng chút và bạn sẽ cảm nghe tâm hồn
mình thay đổi. Đừng tiêu xài hết những gì mình có, hãy
san sẻ với mọi người, dù đó chỉ là gói bánh ngọt, đĩa
trái cây, hoặc to tát như lợi nhuận thu được bởi mồ hôi
nước mắt. Người mới biết tu tức là biết trích ra 1/10
số tiền kiếm được để san sẻ với kẻ khác. Người đã
thuần thục trong công hạnh bố thí sẽ san sẻ nhiều hơn
nữa. Tài vật vô thường tạm bợ, không chắc ở lại lâu
dài với mình. Một cuộc thay đổi thời thế, một cơn hỏa
hoạn ngập lụt, một lần bị trộm cướp đều có thể lấy
đi những gì đã được tích lũy từ lâu. Khi không còn tài
sản mà muốn bố thí cúng dường cũng không có cơ hội để
làm. Chi bằng trong từng giờ phút hiện tại vừa được lợi
nhuận hãy chia sớt ngay cho người, đừng để cơ hội trôi
qua. Người tin hiểu Nhân Quả sẽ khao khát bố thí như người
mù khao khát mắt sáng. Bố thí là phước báo thế gian, là
công đức xuất thế gian, mà cũng chính là mật hạnh của
Bồ Tát đạo. Không có bố thí, những công hạnh khát chưa
đáng tin tưởng. Bố thí như là sự bảo đảm giá trị cho
những công hạnh khác. Chúng ta có thể tu hạnh nhẫn nhục,
trì giới, tùy hỉ, tinh tấn, nhưng thiếu bố thí, những công
hạnh kia còn phải xét lại. Bố thí là cánh cửa đầu tiên
của sự tu tập, chưa vượt qua quan ải này, những quan ải
khác chưa thể đề cập đến.
Quả
báo của sự bố thí cũng đến theo hai cách, hoặc bạn phải
bôn ba ra khỏi nhà để kiếm tài vật, hoặc bạn ở tại
nhà mà công việc tài lộc đến tận nơi. Nếu bạn đã từng
đến tận nơi để giúp đỡ mọi người, hiện đời bạn
ở tại một chỗ mà vẫn có cơ hội làm ăn khá giả. Nếu
bạn đợi người đến yêu cầu mới giúp thì đời này phải
bôn ba ra khỏi nhà mới có cơ hội làm ăn. Thế nên để thể
hiện tình thương trọn vẹn hơn nữa, chúng ta hãy đến tận
nơi để giúp đỡ người.
Người
sống vị tha thì luôn luôn nghĩ đến nhu cầu của người
chung quanh để giải quyết. Không gì vui sướng bằng âm thầm
mong ước cây viết tốt đã lâu, bỗng một hôm người thân
đem đến tặng đúng như sở nguyện. Đôi khi người chung
quanh ta có những nhu cầu mà không tiện nói ra, chúng ta giàu
lòng thương người nhận xét thấy được nhu cầu sâu kín
đó và giải quyết cho họ. Người như thế đời sau mơ ước
điều gì đều được như ý.
3–
HỨA HẸN:
(Trích trong Tăng chi bộ kinh 11 A trang 108)
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi Phật về nguyên nhân một người buôn
bán thành công hay thất bại.
Phật
bảo:
..."Ở
đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa Môn hay
Bà La Môn và hứa hẹn như sau: “Thưa Tôn Giả, hãy nói lên
điều Tôn Giả cần giúp đỡ", nhưng người ấy không cho
như đã hứa. Nếu từ chỗ đấy mạng chung đi đến chỗ
này, dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến
chỗ thất bại".
..."Và
người ấy cho như đã quyết định hứa cho,... nếu buôn bán
gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn".
"Và
người ấy cho nhiều hơn như đã quyết định muốn cho...
nếu buôn bán gì, buôn bán ấy được thành tựu ngoài ý muốn".
NHẬN
XÉT:
Cũng
như đa số những bài kinh khác, Phật khuyến khích sự cúng
dường cho các bậc đức hạnh tu hành. Chúng ta có thể hiểu
rộng hơn, phổ cập đến tất cả hạng chúng sinh. Như vậy,
việc thực hiện lời hứa dâng tặng giúp đỡ đã đem lại
quả báo kinh doanh thành công.
Khi
một người được hứa giúp đỡ, họ sẽ khắc khoải trông
chờ, dù lộ liễu hay kín đáo, về sự thực hiện lời hứa
của người kia. Nếu người hứa không thực hiện, thì người
được hứa sẽ phải thất vọng dù nhiều hay ít. Tạo niềm
hy vọng bằng lời hứa rồi gây nổi thất vọng bằng thất
hứa, việc này đã sản sinh một quả báo tuyệt vọng ở
mai sau. Chúng ta phải tập cho mình một thói quen nghiêm khắc
là giữ đúng lời hứa. Trước khi hứa hẹn hãy xét kỹ mình
có đủ khả năng thực hiện lời hứa hay không. Đừng hứa
lấy lòng trong lúc hứng chí bồng bột để rồi phải thất
hứa làm thất vọng cho người.
Ngược
lại, sự thực hiện đúng như đã hứa hoặc vượt hơn lời
hứa khiến cho người vui mừng sung sướng đã đem lại quả
báo thành công ở mai sau. Thật là quý hóa khi hứa một mà
sự thực hiện gấp hai ba.
Giữ
lời hứa là điều quan trọng. Giữ giới đã lãnh thọ cũng
là một hình thức giữ lời hứa với Tam Bảo, đối với
chúng sinh. Khi chúng ta long trọng tuyên bố lãnh thọ giới
pháp, lúc đó chúng ta trở thành niềm tin cho mọi người,
chúng ta ban cho họ sự tịnh tín, chỗ nương tựa, niềm an
ủi nơi sự thanh tịnh của chúng ta. Nếu chúng ta thất hứa,
điều BAN CHO đó đã đổ vỡ, mọi người mất tịnh tín,
mất chỗ nương tựa, mất niềm an ủi và thất vọng, chúng
ta phải chịu hậu quả nặng nề về sự thất hứa này. Ngược
lại, chúng ta giữ giới đã lãnh thọ một cách thuần tịnh,
mọi người được tịnh tín, nuơng tựa an ủi lâu dài, công
đức của chúng ta không nhỏ.
Công
đức nào cũng đều được thực hiện bằng dũng lực. Không
có dũng lực, không có tác thành công đức. Người dám san
sẻ tài sản, người kiên trì giữ gìn lời hứa, đều là
những người có nhiều dũng lực.
4
– SỐNG KHẮC KHỔ HÀ TIỆN:
(Trích Tương ưng bộ kinh 1 tr 110)
Rồi
vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa đi đến Thế Tôn, sau khi
đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn
nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên.
–
"Này Đại Vương, Đại Vương đi đâu giữa trưa thế này?"
–
"Ở đây, bạch Thế Tôn có triệu phú gia chủ ở Sàvathi bị
mệnh chung và con đến để xem tài sản của vị không có
con (thừa tự) ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn,
có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền
bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị gia chủ
ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại.
Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì
đi xe nhỏ cũ kỷ và hư nát, có gắn tán che bằng lá".
–
"Thật như vậy. Này Đại Vương! Thật như vậy, này Đại
Vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa đã bố thí thức
ăn khất thực cho một vị Bích Chi Phật tên là Tayarasikkhi.
Vị ấy nói:"Hãy bố thí cho vị Sa Môn", nói xong vị ấy từ
chỗ ngồi đứng dậy rồi bỏ đi. Nhưng sau đấy, vị ấy
tiếc rẻ nói rằng: "Tốt hơn, thức ăn này dành cho người
phục dịch hay làm công" và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng
sống đứa con độc nhất của người anh vì tài sản của
nó"
"Này
Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí
đồ ăn khất thực cho vị Độc Giác Phật tên là Tayarasikkhi.
Do kết quả hành động ấy, vị ấy sinh bảy lần lên thiện
thú thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được
làm nhà triệu phú bảy lần ở tại Sàvathi này".
"Này
Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí,
về sau lại tiếc rẻ nói rằng:"Tốt hơn thức ăn này để
dành cho những người làm công phục dịch". Do kết quả của
tác ý tiếc rẻ đó, tâm nó hướng đến các món ăn, đồ
mặt không được tốt đẹp, tâm nó hướng đến các xe cộ,
về sự thọ hưởng năm dục không được tốt đẹp.
"Này
Đại Vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng
sống người con độc nhất của người anh để dành tài sản.
Do kết quả của hành động ấy, nó bị nung ở địa ngục
nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả
dư hưởng còn lại, gia tài không con thừa tự, bảy lần phải
nhập vào công khố của vua. Này Đại Vương, đối với người
triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt
và công đức mới chưa được cất chứa thêm. Và nay, này
Đại Vương người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong
địa ngục Mahàsoruva".
–
"Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh
vào địa ngục Mahàsoruva?"
–
"Này Đại Vương, đúng như vậy, người triệu phú gia chủ
ấy đã sanh vào địa ngục Mahàsoruva!".
"Lúa,
tài sản, vàng bạc,
Hay
mọi vật sở hữu.
Nô
Tỳ và lao công
Các
mạng sống tùy thuộc.
Tất
cả nó phải đi
Không
đem theo được ai
Tất
cả phải bỏ lại
Khi
nó đi một mình"
"Chỉ
có các hành động
Về
thân, miệng và ý
Mới
thật thuộc của nó
Như
bóng không rời hình
"Do
vậy hãy làm lành
Tích
lũy cho đời sau
Công
đức cho đời sau
làm
hậu cứ cho người"
NHẬN
XÉT:
Câu
chuyện Nghiệp báo này có nhiều điểm đáng chú ý. Một sự
cúng dường vật thực cho một vị giải thoát đem đến phước
báo quá lớn lao, bảy lần sinh lên cõi trời, bảy lần sinh
vào cõi người làm kẻ giàu có.
Hai,
tâm tiếc rẻ là nhân để kết thành nhân hà tiện ở đời
sau.
Ba,
phá hoại sự thừa tự của người khác nên tài sản chính
mình không có người thừa tự.
Bốn,
giết người phải đọa địa ngục.
Năm,
không tích lũy thêm công đức là điều nguy hiểm.
Chúng
ta phân tích trở lại từng vấn đề.
Tại
sao cúng dường cho bậc Thánh giải thoát lại được phước
báo quá lớn lao như vậy! Quả báo đợi chờ cho chúng ta tùy
thuộc vào phúc lạc mà chúng ta đã đem đến cho người. Chúng
ta bố thí vật thực cho một phàm phu sống qua một ngày. Nhưng
một ngày của kẻ phàm phu là một ngày tham lam, thù hận,
một ngày khổ sướng buồn vui. Vì phúc lạc của họ quá
ít ỏi nên quả báo dành cho người bố thí cũng hạn chế.
Ngược
lại, một bữa ăn dành cho bậc đạt đạo sống qua một ngày
thênh thang phúc lạc một ngày bát ngát trí tuệ từ bi, nên
quả báo trở lại cho người thí chủ cũng là vô biên vô
lượng.
Tôi
đặt vấn đề này để những người thọ thí hãy cố gắng
tu hành đắc lực cho thí chủ được nhiều phước báo chứ
không phải nói cho người bố thí chỉ lựa người tu hành
mà bỏ qua những chúng sinh khốn khổ chung quanh. Người bố
thí chỉ nên vì từ bi mà bố thí, đừng bố thí bằng cách
lựa chọn để mong cầu phước báo cho mình. Được sự hướng
dẫn của từ bi, sự bố thí đó không còn phân biệt, không
phải là việc kinh doanh phước báo cho mình. Từ bi là nguồn
mạch của công đức, thế nên chúng ta hãy san sẽ tài vật
trong ưu ái thương yêu đối với mọi người. Những bậc
Thánh giải thoát thường giấu mình trong một hình thức tầm
thường giản dị. Trong những người tầm thường giản dị
mà chúng ta đã gặp gỡ bố thí, biết đâu cũng có người
phi phàm vượt thế. Chỉ một lần dâng tặng đến người
như thế, phúc lạc chờ đợi cho chúng ta là vô hạn ở mai
sau.
Tâm
tiếc rẻ tức là không muốn cho kẻ khác được thọ hưởng
tài vật. Kết quả của nó là người đó sẽ tự mình không
muốn mình được thọ hưởng tài vật, tự mình khắc nghiệt
hạn chế với mình. Chúng ta cũng dễ thấy điều này trong
đời sống, khi người nào bỏn xẻn không muốn kẻ khác dùng
một bữa cơm trong nhà mình, đến khi lỡ đường gặp bữa,
họ rất ngượng ngùng áy náy bất an khi phải dùng cơm nơi
nhà kẻ khác. Ngược lại, người hào phóng rộng rãi ân cần
tiếp đón chiêu đãi tân khách, đến khi gặp bữõa chỗ
lạ, họ vẫn dùng một cách tự nhiên thoải mái. Tâm tiếc
rẻ của người triệu phú gia chủ đã biến thành tâm hà
tiện để đày đọa ông qua nhiều đời mệt mỏi vất vả,
tuy giàu mà sống lam lũ như người nghèo. Chúng ta khắc nghiệt
với chính mình vì chúng ta đã khắc nghiệt với mọi người.
Chúng ta phải xóa sạch tâm tiếc rẻ và tâm hà tiện để
nơi cuộc sống này chúng ta không làm khổ mình và không làm
khổ người.
Tuy
nhiên, tâm tiếc rẻ và ý thức tiết kiệm khác nhau rất xa
dù hai trạng thái mơ hồ tương tự. Tâm tiếc rẻ là không
muốn cho người khác được thọ hưởng tài vật.
Tâm
tiết kiệm là không muốn cho tài vật bị hư hao vô cớ, chỉ
nên để cho người thọ hưởng.
Ví
dụ, một người cúi xuống nhặt lấy từng chiếc đinh rơi
vãi trên đất, nhưng sẵn sàng bố thí cả nghìn đồng cho
kẻ khác khó khăn. Người này tiết kiệm nhưng quảng đại,
không phải là kẻ hà tiện hẹp hòi.
Còn
một người ky cõm từng chút không muốn mất một chút gì
với ai, đó là người bỏn xẻn hà tiện. Hà tiện, hoặc
bố thí mà tiếc rẻ là nhân đưa đến đau khổ. Tiết kiệm
và rộng lượng là nhân đưa đến an vui. Tuy nhiên, chúng ta
phải tinh tế để đừng tự lừa dối chính mình, đừng giữ
tâm hà tiện mà lại cho là tiết kiệm, cũng đừng phung phí
mà lại tự cho là rộng rãi. Phung phí là tiêu xài tài vật
không đúng cách, không hợp lý, là một bất thiện nghiệp
chứ không phải là thiện nghiệp. Ví dụ có một số tiền
cần để xây dựng lại nhà ở cho thân quyến, nhưng chúng
ta đem đổ vào một cuộc vui tạm thời. Như thế là phung
phí không hợp lý chứ không phải rộng lượng. Tặng kẻ
đánh bạc vài nghìn đồng là phung phí, trong khi tặng người
đói rách số tiền ấy là rộng lượng. Biếu vài lít rượu,
đãi một tiệc nhậu say sưa là hành vi phung phí tội lỗi
trong khi có nhiều người thiếu thốn khác cần cơm gạo để
đi qua một ngày đói kém. Chúng ta phải bỏ đi tâm hà tiện,
nhưng cũng đừng phung phí, phải cân nhắc cẩn thận khi sử
dụng tài vật sở hữu của mình.
Người
gia chủ đã giết con của anh mình để đoạt lấy tài sản,
vừa giết người vừa cướp của. Ông ta đã đền trả tội
lỗi ấy bằng nhiều năm ở địa ngục, nhưng chút nghiệp
thừa rơi rớt cũng đủ khiến cho ông không bao giờ có con
để thừa tự tài sản, nỗi đau khổ ghê gớm của những
người giàu có! Những vì vua không con nối ngôi cũng được
liệt vào loại Nghiệp báo tương tự. Tuy nhiên quan niệm này
cũng không thể nhìn một chiều. Người Trung Hoa đã từng
quan niệm đông con là có phước. Họ đã vẽ ba ông già Phước
Lộc Thọ làm biểu tượng cho ba niềm sung sướng của họ,
trong đó ông già Phước bồng bế nhiều đứa con trai. Quan
niệm này đã khiến người Trung Hoa tăng vọt dân số khủng
khiếp và đã khiến giới lãnh đạo phải bận tâm rất nhiều.
Chiến thuật biển người dùng trong chiến tranh cũng là một
lối giải quyết bi đát. Lại những gia đình đông con
thường là những gia đình nghèo khó, không có vốn liếng
tích lũy, vì phải giải quyết cơm ăn áo mặc hàng ngày. Đối
với người giàu có, đông con cũng là một vấn đề phức
tạp khi phải chia xẻ gia tài. Không người thừa tự tài sản
là nỗi đau khổ của người ích kỷ, nhưng đông con cũng
là nỗi lo lắng của mọi người. Thế gian vốn mâu thuẫn
và không hoàn hảo như vậy.
Giết
vài con vật nhỏ đưa đến quả báo đứt tay trầy chân hoặc
bệnh hoạn vài trận. Giết thú lớn đưa đến quả báo tai
nạn và bệnh hoạn nặng nề hơn nhiều. Còn giết rất nhiều
thú vật mỗi ngày để kinh doanh thì không tránh khỏi quả
báo địa ngục. Tuy nhiên, giết thú không nặng tội bằng
giết người. Giết người để tranh đoạt tài sản đã đưa
ông gia chủ chịu hình phạt ở địa ngục nhiều nghìn năm.
Chúng ta không so sánh những trường hợp phải giết người
trong một cuộc chiến đấu giữ gìn bờ cõi. Ở đây chúng
ta chỉ đề cập đến trường hợp giết người vì ác tâm
và những mục đích vị kỷ. Tội lỗi của hành vi này rất
là nặng nề nghiêm trọng. Bản chất của chúng sinh, dù loài
nào cũng đều ham sống sợ chết. Người tự tử cũng là
người ham sống, họ tìm cái chết để tránh một cuộc sống
quá đau khổ tuyệt vọng. Giết hại chúng sinh tức là gây
cho chúng sinh một sự đau đớn về thân và một sự tuyệt
vọng khi lòng ham sống bị xâm phạm. Hơn nữa, cái chết của
một chúng sinh luôn luôn đồng nghĩa với sự biệt ly thân
quyến. Một người cha mất đi cũng có nghĩa là vợ con ở
lại rơi vào túng quẩn nghèo đói. Một người mẹ mất đi
cũng có nghĩa là những đứa con còn lại sắp phải chịu
cảnh mẹ kế con chồng, thảm kịch muôn đời của nhân loại.
Những
kẻ quen tay giết hại thú vật nhỏ sẽ dễ dàng giết hại
thú vật lớn, và kẻ quen tay giết hại thú vật lớn sẽ
dễ dàng giết hại con người. Thế nên đểå ngăn chận nghiệp
giết người từ ban đầu, chúng ta phải dè dặt đừng xâm
phạm tính mạng từng sinh vật nhỏ, quí trọng sự sống của
mọi loài nhỏ nhít.
Trong
đời sống thường ngày, chúng ta cũng thường gặp những
kẻ giàu sang dư dả, nhưng họ chỉ hưởng thụ qua một đời
vô vị mà không biết tạo tác tích lũy thêm căn lành cho đời
sau. Những nghiệp thân khẩu ý hàng ngày, dù ít hay nhiều,
cũng đều trở thành bất thiện nghiệp. Nói một lời hằn
hộc, bực tức một điều gì cũng đều là những bất thiện
nghiệp nho nhỏ chất chứa dần dần theo năm tháng. Nếu không
có những thiện nghiệp lớn lao để hóa giải, chắc chắn
bỏ thân này, chúng ta sẽ đi về một đời sống thấp kém
khổ sở hơn. Ông triệu phú gia chủ không tích lũy thêm thiện
nghiệp, ôm giữ ba nghiệp theo sự chi phối của tâm hà
tiện bỏn xẻn, và kết quả là bị nung nấu ở địa ngục
Mahàsoruva.
5
– PHÓNG SANH:
Chuyện này được anh Trực Trí kể lại.
Anh
là thầy thuốc đông y khá kinh nghiệm được giới thiệu
đến một bà Thiên Chúa Giáo mang bệnh ung thư. Bệnh ung thư
là một trong bốn chứng nan y của y thuật Trung Hoa. Bà bị
mất ngủ liên tục và cơn đau đớn dày vò thân thể cả
ngày đêm. Sau khi xem mạch để đánh giá bệnh tình anh dặn
bà mua một số chim, cá, ốc, tất cả đều phải còn sống.
Bà
ngạc nhiên hỏi:
–
Tôi nghe nói thầy ăn chay trường, tại sao lại dùng những
con vật đó làm thuốc.
–
Bà cứ mua về rồi biết.
Khi
đã mua về, anh bảo bà tự tay thả từng con chim lên trời,
ốc thả xuống sông, và cùng với lời cầu nguyện hồi hướng
công đức để giải trừ căn bệnh. Sau đợt phóng sanh đầu
tiên bà bắt đầu ngủ được. Bà phấn khởi tiếp tục phóng
sanh song song với uống thuốc thang do anh Trực Trí bốc, và
cơn bệnh giảm dần.
NHẬN
XÉT:
Câu chuyện nhỏ này không nói hết những kết quả tốt đẹp
mà công đức phóng sanh đem đến cho những người thực hiện.
Có rất nhiều người thực hiện công đức phóng sanh và đã
cảm ứng được những kết quả phi thường. Do nghiệp sát
sanh nên cảm quả báo bệnh hoạn, thì cũng do nghiệp phóng
sanh để hóa giải bệnh hoạn. Điều này dễ hiểu, tuy nhiên
những quả báo phụ bên cạnh quả báo hết bệnh đóù là
sự giàu có. Thường khi muốn thực hiện việc phóng sanh,
người ấy phải dùng tiền mua chuộc sinh mạng của thú vật
sắp bị giết thịt để đem thả. Tiêu tiền cho việc từ
thiện thì tiền bạc sẽ được sung mãn trở lại, đó là
điều tất nhiên. Giải phóng những thú vật bị giam cầm
trong lồng chậu cũng hóa giải được nghiệp tù đày một
phần. Có những người không có ác tâm, hiền lành, nhưng
cũng có khi bị lưu giữ tù túng vì một lý do nào đó. Quả
báo lúc này có thể xuất phát từ nghiệp hay nuôi chim trong
lồng, nuôi cá trong chậu. Phóng sinh có nghĩa là cứu mạng
cũng có nghĩa là trả lại tự do. Hai ý nghĩa này sẽ trở
thành hai quả báo là mạng sống vững chắc và đời sống
tự do.
Trong
lời nói của dân gian Việt Nam có thành ngữ "mạng lớn" là
người thoát chết từ những tai nạn hiểm nghèo. Chiếc xe
khách lật bên đường, hầu hết hành khàch đều bị tai nạn,
duy có một người không chút hề hấn. Ông bà ta gọi người
này "mạng lớn". Em tôi thuở mới lên 7 tuổi đã từng rớt
từ độ cao bốn mét xuống nền xi măng. Sau khi đến bệnh
viện khám xét, em tôi không bị một chút nội thương
hay xây xát bên ngoài nào cả. Những sự thoát nạn lạ lùng
này xuất phát từ công đức phóng sanh trong quá khứ.
Tương
tự như vấn đề mạng sống, có những người được trả
tự do trong hoàn cảnh ngặt nghèo đáng lẽ phải bị giam cầm
bắt bớ. Sự may mắn không thể suy luận được này cũng
đều là quả báo của công đức phóng sanh.
Lại
nữa, sát sanh là nguyên nhân của chiến tranh tàn phá. Con người
giết thú vật một cách si mê, đâu biết rằng niềm oán hận
khó thể nào xóa bỏ. Đến khi thú hết tội thành người
đó là lúc ân đền oán trả. Có những cuộc chiến tranh kỳ
lạ, hai bên giết nhau như điên dại mà không bên nào có chính
nghĩa. Những nhân vật lãnh tụ vừa thiên tài, vừa tham vọng
đã xua quân đánh chiếm khắp nơi. Họ như là một trợ duyên
trong hiện tại để con người trả thù với nhau, giải quyết
nợ máu với nhau từ nhiều kiếp. Những người yêu chuộng
hòa bình đã đấu tranh, đã kêu gọi. Người ta đã tốn khá
nhiều thì giờ và bút mực để bàn luận những phương hướng
tìm kiếm hòa bình. Nhưng cái gốc của chiến tranh chính là
nghiệp sát sanh thì không ai đề cập đến. Ngày nào con người
còn giết hại thú vật ngày đó còn những người mẹ gạt
nước mắt tiễn con đi về chiến tuyến, còn những người
vợ khóc lóc nghe tin chồng tử trận, còn những đứa con bơ
vơ không biết cha là người nào... Chiến tranh không bao giờ
được giải quyết ổn thỏa khi con người còn tạo nghiệp
sát sinh, chỉ có dừng tay giết hại, chỉ có công đức phóng
sanh mới là nền tảng chân thật của hòa bình thế giới.
Người
không có nghiệp sát sanh và thường hay phóng sanh sẽ được
sống đời an ổn ở những vùng đất hòa bình. Có khi vì
cộng nghiệp, họ cũng sinh trong một đất nước chiến tranh
khói lửa, nhưng riêng khu vực họ cư ngụ, đại bác ít khi
vang tiếng vọng về.
6
– KHÔNG CỐ Ý:
(Chúng
tôi nghe câu chuyện này từ thầy Thông Pháp kể về một vùng
quê ở Mỹ Luông, cách đây hơn ba mươi năm)
Tiếng
la thất thanh của ông Ba làm người trong làng choàng tỉnh.
Tiếng gà gáy canh cuối, mặt trời còn yên ngủ ở cuối trời.
–
"Có ai mất đứa con nhỏ nào không, tôi thấy một ông già
khăn đỏ bắt một đứa nhỏ đi về hướng Long Xuyên.
Dân
làng lao xao bàn bạc. Chợt có hai vợ chồng chạy đến nhận
rằng có đứa con trai vắng nhà từ chiều qua chưa thấy về.
Theo hướng ông Ba chỉ, họ nhờ nhiều ngưôøi đi tìm phụ.
Nhưng
chuyện đó chìm dần vào quên lãng và hai vợ chồng kia vĩnh
viễn mất đứa con trai. Riêng ông Ba từ đó đổi tính hiền
lành, ít nói, về nhà lập một bàn thờ. Mỗi khi ăn cơm ông
xới thêm một chén cơm để lên bàn thờ và khấn vái lâm
râm. Bà Ba có hỏi liền bị ông gạt phắt đi.
Ông
có trồng một đám mía. Đến mùa mía chín, lũ trẻ và heo
của hàng xóm hay đến phá phách. Ông rất bực mình vì phải
canh giữ. Một hôm ông đuổi con heo đang phá mía và theo nó
về đến nhà chủ của nó. Khi được ông ôn tồn nói sự
phá phách của con heo, cô chủ ong ỏng chối ngang và thách
ông có đập chết con heo tại chỗ cô mới chịu nhận heo
mình có phá mía. Ông đuối lý và căm giận vô cùng, quyết
tâm bắt con heo làm tang chứng để mắng con mụ đó một trận.
Ông mài cây xà búp (giống như cây giáo mũi nhọn) cầm theo
để rình rập. Ông bò lết qua lại trong đám mía đến nổi
hai khủy tay thành chai cứng. Và rồi cái gì ông mong đợi
đã tới. Khi trời vừa sụp tối, ông thấy bóng "con heo" đang
sột soạt nơi hàng mía bên kia. Ông rón rén bò lại gần và
phóng mạnh cây xà búp. "Con heo" ngã lăn ra kêu không thành
tiếng, chỉ phát ra tiếng khèn khẹt. Ông mừng rỡ chạy vội
lại và thất kinh hồn vía. Thằng nhỏ giãy giụa với cây
xà búp ghim ngay bụng. Ông cuống cuồng không biết tính sao.
Rút mũi xà búp ra là đổ ruột liền, mà đem ra là đi tù
chớ chẳng chơi. Ông do dự mãi mà không biết cách nào giải
quyết. Đến khi gà gáy canh tư, ông đào lỗ chôn thằng bé
trong đám mía, phi tang mọi dấu vết và về làng la lên đổ
thừa cho ông già khăn đỏ.
Từ
đó ông hối hận vô cùng, mỗi bữa ăn đều cúng cơm cho
hương hồn thắng bé và nói lên sự vô tình và ân hận của
mình. Khi phải đi đâu vắng ông dặn bà Ba cúng chén cơm không
để gián đoạn bữa nào. Thời gian thắm thoát qua ba năm,
một đêm ông nằm mộng, thấy đứa bé đến gọi, ông giật
mình mở mắt, không thấy điều gì, lại nhắm mắt ngủ tiếp
như vậy đến ba lần. Đứa bé lại đến gọi và nói:
"Ba
năm qua tôi biết rõ lòng ông, không phải ông cố ý giết
tôi, nên tôi không oán giận gì với ông cả. Tôi sắp đầu
thai làm con của gia đình gần đây, cách nhà ông sáu căn về
phía dưới. Ngày mai ông có nghe gia đình đó sinh con, thì tức
là tôi, dưới bụng còn dấu dao cũ. Tôi báo cho ông biết
để ông đừng cúng cơm cho tôi nữa".
Ông
Ba giật mình tỉnh giấc và thức mãi không ngủ được. Sáng
ngày ông nghe ngóng và biết có gia đình cách nhà ông sáu căn
vừa sinh đứa con trai. Đến chiều, ông đem quà đến thăm
và đến tận buồng vạch bụng xem quả nhiên có dấu thẹo
mờ mờ. Từ đó ông cứ đến viếng thăm đứa bé đó luôn.
Mỗi khi đi chợ về ngang thì không kẹo cũng bánh đem cho thằng
bé. Mối thâm tình của ông và thằng bé đầm ấm mãi. Cha
mẹ thằng bé mặc nhiên xem ông như một người thân thiết
và đỡ đầu cho thằng bé. Niềm hối hận bao nhiêu năm được
đền trả trong từng hộp sữa, từng chiếc bánh, từng cái
nâng niu của ông dành cho thằng bé.
Bây
giờ thì thằng bé đã được tám tuổi rồi. Một hôm ông
đem quà đến thăm nhằm lúc cha mẹ nó đi vắng. Đứa bé
ôm ông thưa:"Ông thương con quá mà con không biết làm sao trả
hiếu cho ông".
Ông
Ba âu yếm nói:
"Con
muốn trả hiếu cho ông hả? Kìa, có trái đu đủ chín ngoài
cây kìa, con hái đãi ông đi!"
Đứa
bé mừng rỡ nhìn trái đu đủ cao hơn tầm tay với và băn
khoăn không biết hái cách nào. Ông bảo nó lấy cây dao mác
ra mà chặt, nó vâng lời lấy cây dao mác ra, mà vẫn với
không tới. Ông Ba đến gốc cây cõng nó lên muốn nó tự
tay hái đãi ông. Thằng bé thích thú cười dang tay quơ cây
mát đứt cuống trái đu đủ, nhưng khi trái đu đủ rớt tới
đất thì lưỡi mác mất đà rơi xuống ghim sâu vào bụng
ông Ba. Ông ngã lăn ra kêu không thành tiếng, chỉ phát thành
tiếng khèn khẹt mà thôi. Dĩ nhiên ông được đưa về nhà,
chịu đựng tình trạng đó hơn một ngày đêm và từ chối
mọi sự chữa trị. Qua một ngày ông bỗng tỉnh táo lạ thường
và nói trở lại được. Ông cho người nhà đi tìm gọi hai
vợ chồng mất đứa con hơn mười năm trước, gọi cha mẹ
thằng bé đến, và trước mặt đông đủ con cháu, mọi người
ông kể lại câu chuyện đã bị giữ kín hơn mười năm qua.
Ông dặn gia đình không được làm khó thằng bé và cha mẹ
nó, vì đây là nghiệp quả mà ông phải trả. Ông bảo con
cháu lấy kinh Nhân Quả đọc cho ông nghe. Sau đó ông trút
hơi thở cuối cùng.
NHẬN
XÉT:
Luận
Nhân Quả rất là công bình và khách quan. Tuy ông lão không
cố ý giết người, không ác tâm giết người, nhưng dưới
tay ông một đứa bé phải chết dần trong đau đớn. Quả
báo đã trở lại với ông trong một trạng huống tương tự.
Lưỡi dao nơi tay thằng bé đã cắm vào bụng ông khi mà ông
và thằng bé đang thương quý nhau rất mực. Lòng hối hận
và những chén cơm cúng vái đã xóa được nỗi hận thù với
nhau, hơn nữa, còn kết chặt tình thân ái giữa ông và thằng
bé trong vòng luân hồi vô tận này. Phước của sự sám hối
đã khiến ông tỉnh táo trở lại trong những giờ phút cuối
cùng để nói lên sự thật.
Sở
dĩ có xảy ra tình trạng không cố ý giết người vì trước
đó ông đã nung nấu cố tâm giết con heo. Tác ý bất thiện
này đã gây ra nỗi bất an cho ông suốt mười mấy năm và
chấm dứt bằng cái chết bi thảm. Nói là không cố ý, nhưng
thật ra đã có cái cố ý giết con heo kia rồi. Tác ý bất
thiện nào được nuôi nấng mãi cũng có ngày kết thành quả
báo đau khổ. Thế nên, bước đầu trong sự tu hành, sư phụ
chúng tôi thường dạy hàng cư sĩ tại gia kiểm soát xem tư
tưởng của mình là thiện hay ác, nếu ác thì phải đình
chỉ lập tức và thiện thì được tiếp tục. Trước khi
làm chủ tâm trong định, chúng ta tập làm chủ tâm trong thiện
niệm. Thiện niệm nào được nuôi nấng mãi mãi cũng có ngày
trổ quả an vui.
Trong
đời sống chúng ta dễ gây nghiệp vô ý rất nhiều. Chúng
ta xịt thuốc trị sâu rầy cho lúa, nhưng những ốc, tép,
cá con, cả những vi sinh vật trong ruộng cũng đều bị tác
hại. Người thợ làm bình accu để hơi acid bay sang các nhà
lân cận làm cho nhiều người nhuốm bệnh. Đoàn văn nghệ
về làng trình diễn xôn xao làm ảnh hưởng công phu tu tập
của các sư trong chùa. Sự phá rừng lấy củi làm nước lũ
kéo mạnh làm ngập lụt xóm làng. Phim ảnh tàn bạo gây thêm
thú tính cho người xem. Tài vật quý giá để lộ liễu khiến
lòng tham lam của người khác bị kích thích.v.v... Vô số những
hậu quả tai hại của việc làm chúng ta mà chúng ta không
lường trước nên không phải cố tâm. Những tác hại không
cố ý đó đều có quả báo của nó. Gọi là không có tâm
vì chúng ta si mê không đủ trí tuệ để thấy trước ảnh
hưởng việc làm của mình. Nếu đủ trí tuệ, chúng ta có
thể lường trước những ảnh hưởng phụ phía sau công việc
của mình. Khi đã gây ra tác hại, quả báo chắc chắn phải
đến.
Một
người tiều phu quê mùa thản nhiên đốn những gốc cây lấy
củi để kiếm sống, nhưng những nhà sinh thái học hết sức
lo lắng về việc này. Một nhà máy hóa chất thải ra cống
những cặn bã độc hại, những môi trường sống của sinh
vật bị ô nhiễm và những trận mưa acid xói mòn nhà cửa,
phá hoại hoa màu của nông dân. Cũng rất cần kiến thức
khoa học để biết rõ những tác hại phía sau việc làm của
mình.
Trên
đây là những bất thiện nghiệp không cố ý. Quả báo của
nó là đời sau người này rất Đạo Đức nhưng lại nghèo
khổ khó khăn bệnh hoạn. Không ác tâm tạo nghiệp nên họ
vẫn còn bản chất hiền lành, nhưng nghiệp vô tình đã gây
vẫn làm họ vô cùng khốn đốn. Ngược lại có những thiện
nghiệp không cố ý cũng đem đến quả báo công bằng. Vì
tuân lệnh cấp trên người nhân viên thừa hành phải ngày
đêm xây dựng cây cầu to nối liền hai bên bờ sông rộng.
Người thực hiện điều này có khi là một kẻ bợm nhậu,
chưởi thề bum thiên, thô bạo lỗ mãng, nhưng khi xây dựng
xong chiếc cầu vĩ đại này, y đủ phước để làm người
giàu có trong nhiều đời sau nữa. Bản chất dữ tợn thô
lỗ nhậu nhẹt vẫn còn đeo đuổi y đến đời sau, nhưng
y vẫn là một kẻ nhà cao cửa rộng, xe cộ xênh xang.
Đó
là tại sao chúng ta thường gặp những kẻ giàu có mà kém
Đạo Đức hoặc người nghèo khó lại hiền lành. Còn những
Phật tử biết rõ Nhân Quả và cố gắng tu tâm tác thiện
mới là những người vừa giàu sang vừa Đạo Đức ở đời
sau.
7
– ĐỒ TỂ:
(Trích Tương Ưng Bộ Kinh II, tr 2đ4) (viết lược)
Tôn
Giả Lakkhana và Tôn Giả Mahà Moggallanà trú ở Gijjhakuta (Linh
Thứu). Một buổi sáng hai vị vào thành đi khất thực. Trên
đường đi chợt Tôn Giả Mahà Moggallàna mỉm cười.
"Này
hiền giả Moggallàna, do nhân duyên gì hiền giả lại mỉm
cười!"
"Này
hiền giả Lakkhana, không phải thời để hỏi câu ấy. Trước
mặt Thế Tôn hãy hỏi tôi câu ấy.
Sau
khi khất thực và thọ thực xong, hai vị đi đến Thế Tôn,
đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Tôn Giả Lakkhana
lập lại câu hỏi và Tôn Giả Mahà Moggallàna đáp:
"Ở
đây, này hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakuta bước xuống,
tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên,
các con quạ, các con chim ưng đuổi theo cắn mổ xương sườn
nó, rứt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn".
"Này
hiên giả, tôi suy nghĩ như sau, thật kỳ lạ thay! thật kỳ
lạ thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng
sinh như vậy, một dạ xoa như vậy, một tự ngã như vậy".
Rồi
Thế Tôn gọi các Tỳ Kheo:
" Này
các Tỳ Kheo, sống với như thật nhãn, như thật trí (mới
xứng đáng) là các đệ tử (của ta), vì một đệ tử (xứng
đáng) sẽ biết, sẽ thấy, sẽ chứng thật như vậy!
"Xưa
kia, này các Tỳ Kheo, ta đã thấy chúng sinh ấy, nhưng ta không
có nói. Nếu ta có nói, các người khác cũng không tin ta. Và
những ai không tin ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh,
đau khổ lâu dài.
"Chúng
sinh ấy, này các Tỳ Kheo. Là một đồ tể giết trâu bò ở
Rajagaha (Vương Xá) này. Do nghiệp của nó thuần thục, sau
khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm,
nhiều nghìn năm, và với quả dư tàn còn lại, nó cảm thọ
một tự ngã như vậy".
NHẬN
XÉT:
Một
dạ xoa ngạ quỷ cảm báo thân như bộ xương, bị các loài
chim bay theo cắn phá chỉ được trông thấy bởi đạo nhãn
của Ngài Mục Kiền Liên mà người khác không thấy. Có những
cõi giới gần gũi chúng ta nhưng chúng ta vẫn không hay biết
bằng mắt thịt. Chính vì sự kiện khá huyền hoặc này mà
Phật không nói cho mọi người biết vì họ sẽ nghi ngờ.
Khoa học hiện nay chỉ khảo sát được cõi không gian thô
thiển trước mắt. Họ cũng muốn chứng minh sự hiện hữu
của các cõi không gian khác mà họ gọi là không gian bốn
chiều, không gian bội chiều... Tuy nhiên họ không ngờ các
cõi không gian được sắp xếp theo chiều sâu của tâm, khi
tâm vào định càng sâu thì những cõi không gian khác dần
dần bày hiện. Khoa học không để ý khía cạnh này nên mãi
mãi họ không thể khám phá thêm một cõi không gian nào khác.
Nghe nói địa ngục ở dưới lòng đất, trong hang núi thẳm,
họ khoan đất, dò núi. Nhưng mũi khoan không thọc vào được
cõi không gian khác. Nghe nói cõi trời ở trên mây cao, họ
phóng máy bay và tên lửa thám hiểm. Nhưng máy bay không bay
tới cõi không gian khác. Chỉ có tâm ở trong định sâu thẳm
mới có thể chạm đến các cõi không gian khác mà thôi.
Hòa
Thượng Thiền Tâm có kể một câu chuyện tương tự ở miền
tây. Có lũ trẻ chăn trâu, lùa trâu về ngang qua bờ đất,
chợt một đứa trong đám ngã lăn ra giãy giụa la hét thảm
thiết. Những đứa khác sợ hãi chạy đến giữ tay chân nó
lại, nhưng nó vẫn vùng vẫy gào thét dữ dội. Qua một lúc
lâu thì nó mệt lả và thôi làm dữ, nhưng khắp người có
nhiều vết cháy xém. Khi được hỏi nguyên do, nó kể rằng
khi đến bờ đất, chợt nó thấy hiện ra một cổng thành
lớn bên trong lửa cháy rừng rực. Nó bỗng cảm thấy kinh
hoàng tột độ. Nhưng liền khi đó như có sức mạnh vô hình
cuốn hút nó bay vào trong để bị thiêu đốt đau đớn vô
cùng. Và bây giờ thì thành lửa đã biến mất, mọi chuyện
trở lại bình thường với cái bờ đất, cánh đồng, đàn
trâu và lũ bạn, nhưng da thịt còn vết cháy xém và nỗi sợ
hãi còn đề lại dư âm.
Đây
là trường hợp thằng bé còn dư báo ở địa ngục chưa hết,
đã đến lúc phải trả nốt nghiệp còn lại nên y báo hiện
ra cảnh hỏa ngục thiêu đốt. Vì nghiệp riêng nên chỉ nó
mới thấy cảnh giới địa ngục, một cõi không gian khác,
mà không đứa nào đứng gần cùng thấy. Những cảnh lạ
như cái thành lửa, nó bị cuốn bay vào trong, lửa thiêu đốt
thân thể đã hiện ra và biến mất như một ảo ảnh. Nhưng
cũng còn để lại các vết cháy xém làm chứng cứ. Dĩ nhiên
cái thành lửa rất lớn, nhưng dù bạn nó đứng gần vẫn
không đứa nào cảm nghe nóng cháy. Chỉ nó, với biệt nghiệp,
đã cảm thọ một khổ hình đau đớn. Những cõi không gian
khác không xa với chúng ta theo chiều dài toán học, nhưng rất
xa với chúng ta theo chiều dài tâm linh. Chỉ khi nào khoa học
mở cửa đi theo chiều dài tâm linh này, họ mới có thể khám
phá những chân trời vũ trụ mới lạ khác. Còn