Quyển
Thứ 12
Phẩm
Phân Biệt Chân Lý thứ 12
Phần
thứ 2
Người
tọa thiền kia như thế và hiện quán về diệt. Vì do quán
về diệt nên sợ hãi. Nguyên nhơn của ấm lại cũng sợ về
ấm sanh ra. Ba cõi năm đường bảy thức trụ ở 9 loài chúng
sanh trở thành chỗ sợ hãi. Điều ấy cũng giống như thấy
người ác cầm dao nên sợ vậy. Giống như rắn độc và giống
như lửa gom lại. Như thế là do quán về sự diệt mà trở
nên sợ hãi nguyên nhơn của ấm và sự sợ ấm sanh ra. Tam
hữu, ngũ thú, thất thức ở nơi 9 loài chúng sanh. Dùng vô
thường và hiện lên những tác ý làm cho có tư tưởng lo
sợ. Lấy sự an ổn làm cho khởi lên sự vô tướng. Dùng
sự khổ hiện ra để tác ý, thành ra lo sợ về sự sanh ra.
Lấy sự an ổn làm cho khởi lên sự vô sanh. Dùng vô ngã hiện
ra để tác ý thành ra tướng sợ và sanh, thì sự an ổn làm
cho khởi lên vô tướng và vô sanh. Quán về sự lo lắng, quán
sự xa lìa sự mềm mại tùy theo tướng ấy tương tợ để
nhẫn nại. Đây là những lời nói tổng quát.
Kẻ
tọa thiền kia dùng sự sợ hãi ấy mà hiện ra sự tu hành
và làm cho khởi lên trí tuệ. Vui với trí giải thoát phát
sanh. Tướng của ấm kia là sự sợ hãi. Trí vui giải thoát
khởi lên, ấm sanh ra làm chỗ sợ hãi, trí vui giải thoát
khởi lên thì tam hữu, ngũ thú, thất thức ở nơi chín loài
chúng sanh nầy đều lo sợ. Khi trí vui giải thoát khởi thì
giống như lửa vây chung quanh chìm và từ kia vui được giải
thoát. Cũng giống như người bị giặc bao vây mà từ kia xa
rời được vui giải thoát. Như thế kẻ tọa thiền do nguyên
nhân của ấm mà ấm sanh ra, rồi tam hữu, ngũ thúc, thất
thức ở cùng với 9 loài chúng sanh. Đây là sự lo sợ. Trí
vui giải thoát khởi thì dùng vô thường hiện lên để tác
ý về nguyên nhơn của sự sợ hãi, dùng sự khổ hiện ra
tác ý sợ hãi về việc sanh. Dùng vô ngã hiện ra sự tác
ý sợ nguyên nhơn và sự sanh ra. Trí vui giải thoát khởi.
Đối với người phàm phu và kẻ có học thì trí vui giải
thoát có 2 loại dẫn dắt tâm nầy; hoặc quán về sự hoan
hỷ. Đó là dùng hiện quán. Đây chính là thành thông đạt
hiện quán hoan hỷ. Tâm ấy sẽ thành sự ưu não và sự tu
hành ấy trở nên chướng ngại. Trở thành thông đạt kiến
tư duy hạnh. Xả bỏ tùy tướng giống như sự nhẫn nhục.
Đây là những lời tổng quát.
Kẻ
tọa thiền kia như thế hiện sự tu hành vui trí giải thoát,
từ tất cả những việc làm. Vui giải thoát Niết Bàn về
các hạnh. Duy chỉ làm một tướng muốn làm cho khởi lên.
Giải thoát môn tương tợ như trí khởi lên. Dùng 3 việc làm
được trí tương tợ. Dùng 3 việc làm vượt qua chánh tụ.
Dùng ngũ ấm, vô thường hiện thấy được trí tương tự.
Ngũ ấm mất tiêu nơi Niết Bàn. Như thế hiện thấy qua khỏi
chánh tụ. Đối với ngũ ấm lấy sự khổ để hiện thấy
được trí huệ tương tợ. Ngũ ấm diệt thì vui nơi Niết
Bàn. Hiện thấy qua khỏi chánh tụ. Đối với ngũ ấm dùng
vô ngã hiện thấy được trí tương tự. Ngũ ấm diệt chính
là nghĩa thứ nhứt của Niết Bàn; hiện thấy vượt khỏi
chánh tụ.
Hỏi:
Sao lại dùng trí hiện để vượt khỏi chánh tụ? Thế nào
là dùng trí nầy để vượt khỏi chánh tụ?
Đáp:
Dùng tánh, trừ trí hiện qua khỏi chánh tụ. Dùng trí đạo
để vượt qua khỏi chánh tụ.
Hỏi:
Trí tương tợ là nghĩa gì?
Đáp:
Tương tợ có nghĩa là Tứ Niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như
ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo
phần. Dùng sự tương tợ kia. Đây nghĩa là trí tương tợ
nói tổng quát. Vô oán, thấy sự lợi ích tương tợ của
sự nhẫn. Đây là sự tương tợ về trí dùng lời nói tổng
quát vậy.
Tương
tợ trí không gián đoạn lần lượt từ tất cả các hành
tướng mà khởi lên, tạo ra Niết Bàn. Sanh tánh trừ trí.
Hỏi:
Thế nào là nghĩa của danh tánh trừ?
Đáp:
Trừ phàm phu pháp, danh tánh trừ. Phi phàm phu pháp sở trừ
cũng là danh tánh trừ. Tánh ở đây chính là Niết Bàn. Lại
nữa mầm mống của Niết Bàn nghĩa là danh tánh trừ. Như
A Tỳ Đàm có nói: Trừ sanh, danh tánh trừ. Qua khỏi vô sanh
lại là danh tánh trừ. Lại trừ nguyên nhơn sanh, danh tánh
trừ. Qua khỏi vô sanh, vô tướng, danh tánh trừ. Đối với
Niết Bàn là con đường hướng dẫn đầu tiên. Từ bên ngoài
khởi lên và chuyển thành huệ. Tánh trừ nầy nói tổng quát
các lời nói.
Tánh
trí lần lượt không gián đoạn, hiện trí, hiện khổ, hiện
đoạn tập, hiện tác chứng diệt, hiện tu đạo; sanh Tu Đà
Hoàn đạo trí và tất cả Bồ Đề pháp. Kẻ tọa thiền kia
đối với đây là chỗ tịch tĩnh. Hiện thấy hữu biên, vô
biên, giới đề hồ. Đối với một sát na dùng trí, không
đầu không sau. Phân biệt Tứ Đế, dùng sự biết khổ để
phân biệt, dùng đoạn tập để phân biệt, dùng sự tác diệt
chứng để phân biệt, dùng tu đạo để phân biệt, trở thành
sự phân biệt như kệ nói thí dụ phía sau:
Như
người bỏ bờ nầy
Dùng
thuyền qua bờ kia
Nơi
bờ kia các vật
Kẻ
lên thuyền quên đi.
Như
thuyền trên nước, chẳng đầu chẳng cuối. Đối với trong
mỗi sát na tạo ra 4 việc. Bỏ bờ nầy, trừ lậu, qua đến
bờ kia. Vật qua đó như bỏ bờ nầy. Như vậy trí phân biệt
khổ, giống như trừ hữu lậu. Như vậy sự phân biệt đoạn
tập cũng giống qua bờ bên kia. Như vậy sự tác chứng phân
biệt lại như dùng thuyền để độ vật. Như thế tu đạo
phân biệt, như đèn cùng sáng. Đối mỗi sát na chẳng đầu
chẳng cuối tạo ra 4 việc. Như ánh sáng nhỏ trừ sự tối
tăm, làm cho dầu tiêu hao và làm cho ánh sáng khởi lên. Như
mặt trời sáng, không có đầu, không có cuối. Đối với
từng sát na tạo ra 4 việc, làm cho hiện sắc để trừ ám,
làm cho hết lạnh, làm cho khởi lên ánh sáng. Như làm cho hiện
sắc. Như thế trí phân biệt khổ ấy như trừ sự tối tăm.
Như vậy sự phân biệt đoạn tập như làm cho mất đi sự
lạnh. Như thế sự túc chứng phân biệt diệt, như làm cho
khởi lên ánh sáng. Như vậy sự tu đạo phân biệt giống
như mặt trời, như là Thánh trí.
Hỏi:
Như thật, hiện thấy khổ, biết khổ đoạn bỏ tập, chứng
diệt và tu đạo. Đây là tướng gì? Nếu chẳng thấy khổ
do 4 điên đảo sanh thì lúc ấy nói hữu biên, vô biên làm
giới đề hồ và dùng sự tịch tịnh để hiện thấy và
lấy một để biết, không đầu không sau và phân biệt Tứ
Đế. Đây là nghĩa gì?
Đáp:
Đối với trí sanh diệt thì lúc ấy chưa thấy sự khổ. Lậu
và cho đến thấy như thật các việc làm là sai trái. Từ
các tướng của việc làm, làm cho tâm khởi. Đối với những
việc không làm thì không qua khỏi. Cho nên thấy như thật
các hành là sự lo lắng. Từ các hành tướng ấy làm cho tâm
khởi lên. Đối với những việc không làm sẽ trôi qua. Đây
là chỗ thấy khổ lậu cho đến sau cùng vậy. Lại nói nếu
đuợc như thế là tịch tĩnh. Dùng tánh trừ trí, thành phân
biệt đế tánh trừ trí. Từ hành tướng khởi lên, thành
qua khỏi những việc không làm. Nếu tánh trừ trí từ hành
tướng khởi, thành qua khỏi, đối với vô hành, trở thành
qua khỏi đối với Niết Bàn. Duy chỉ có nguyên nhơn dính
mắc là việc nầy. Dùng sự dính mắc ấy để tâm được
định. Nếu chẳng thể định chẳng sanh Xa Ma Tha (chỉ) và
Tỳ Bà Xá Na (quán). Lại chẳng được pháp mãn bồ đề.
Cho nên dùng tánh trừ trí thành ra phân biệt chân lý. Từ
tánh trừ trí kia sẽ sanh ra vô gián đạo trí. Đối với lúc
nầy được ở định Niết Bàn. Tâm được định nên khởi
Xa ma Tha, Tỳ Bà Xá Na, trở thành pháp đầy đủ giác ngộ.
Cho nên chỉ dùng đạo trí thành phân biệt chân lý. Như người
từ thành bị cháy, chạy ra khỏi cửa. Từ thành nầy ra khỏi
một bước. Lúc ấy chưa gọi là ra khỏi. Như tánh trừ trí
cũng vậy, từ hành tướng kia khởi để thành qua khỏi những
vô hình. Lúc ấy chưa gọi là qua khỏi phiền não. Vì các
pháp chưa đầy đủ vậy. Như người mới từ thành bị cháy,
2 chân chạy ra khỏi rồi, lúc ấy mới gọi là ra khỏi thành
cháy. Như thế tánh trừ trí không gián đoạn. Rồi từ đó
sanh đạo trí khởi lên. Bây giờ mới có tên là ra khỏi từ
thành phiền não. Vì các pháp đầy đủ vậy. Do đó dùng tánh
trừ trí thành chân lý phân biệt.
Hỏi:
Phân biệt chân lý nghĩa là gì?
Đáp:
Đó chính là Tứ Thánh Đế đối với trong sát na nói là hòa
hợp. Tên là phân biệt chân lý. Đối với lúc nầy đạo
trí hòa hợp nuơng vào nghĩa. Các căn thành bình đẳng và
có nghĩa chẳng động, nghĩa là sức mạnh, nghĩa là sự chuyên
chở, nghĩa là nguyên nhơn của Bồ Đề. Đạo phần làm cho
nghĩa trụ lại. Nghĩa là niệm xứ thắng. Nghĩa là chánh cần
tiện. Nghĩa là như ý túc thật. Nghĩa là chân lý chẳng loạn.
Nghĩa là Xa Ma Tha tùy quán. Nghĩa là Tỳ Bà Xá Na. Nghĩa là
tướng chẳng lìa, hai nghĩa; nghĩa che khuất; nghĩa là giới
thanh tịnh chẳng loạn. Nghĩa là tâm tánh tịnh kiến. Nghĩa
là thoát khỏi. Nghĩa là giải thoát thông đạt. Nghĩa là xả
bỏ sáng suốt; nghĩa là đoạn bỏ ra khỏi; nghĩa là diệt
trí căn; nghĩa là làm cho khởi lên; nghĩa là tác ý bình đẳng;
nghĩa là xúc thọ diệt xuất ly; nghĩa là hiện tiền; nghĩa
là nương vào định; nghĩa là niệm chơn thật; nghĩa là huệ
thâm thắng. Nghĩa là làm cho nhu nhuyến tối hậu; nghĩa là
Niết Bàn tối hậu bình đẳng. Kẻ tọa thiền như thế mà
hiện trí. Như thế hiện thấy đoạn tam kết. Cho nên thân
kiến nghi giới thủ và tương ưng phiền ão.
Hỏi:
Thế nào là thân kiến?
Đáp:
Đối với vô văn phàm phu thấy sắc cho là ngã. Ngã có sắc
và sắc ấy làm chỗ thuộc về ngã đối với ngã sắc. Như
vậy thọ, tưởng, hành, thức cũng là ngã. Ngã có thức, thức
làm chỗ thuộc về ngã và đối với ngã thức. Đây gọi
là thân kiến. Vì thân nầy sẽ mất và sự mất kia có 62
sự thấy, lại cũng mất theo. Vì thân kiến là chỗ đầu
tiên thấy 62 loại nầy.
Hỏi:
Sao gọi là nghi?
Đáp:
Hoặc đối với khổ; hoặc đối với tập; hoặc đối với
diệt; hoặc đối với Đạo; hoặc đối với Phật, Pháp,
Tăng; hoặc đối với ban đầu hay ban cuối; hoặc sơ hậu
liền nghi hoặc. Đối với nhơn duyên chỗ khởi lên pháp và
sự nghi hoặc kia. Đây gọi là nghi, cái kia lại cũng đoạn.
Hỏi:
Thế nào là trộm giới?
Đáp:
Trộm giới có 2 loại. Đó là khát ái và si. Ta dùng giới
nầy, dùng hành động nầy, dùng sự khổ hạnh nầy, dùng
phạm hạnh nầy ta sẽ sanh thiên. Tất cả ta sẽ sanh vào mỗi
mỗi thiên xứ. Đây nghĩa là khát ái trộm giới. Từ đây,
ngoài Sa Môn, Bà La Môn dùng giới, dùng sự thanh tịnh, dùng
sự thanh tịnh của giới hạnh.Thấy được như thế. Đây
gọi là si giới trộm cắp. Cái kia lại cũng đoạn mất.
Hỏi:
Cái gì là bỉ nhứt xứ trụ phiền não?
Đáp:
Kia là cho rơi vào chỗ ác thú. Đó là dâm dục, sân nhuế,
nghi. Đây chính là bỉ nhứt xứ trụ. Phiền não lại cũng
đoạn. Đối với thời gian nầy là quả Tu Đà Hoàn, tác chứng
thành hướng, chưa chứng Tu Đà Hoàn thì trụ ở Tu Đà Hoàn
hướng địa; hoặc đệ bát địa; hoặc thấy địa; hoặc
định từ cả hai khởi lên chuyển thành huệ. Đây là dùng
ngôn ngữ để nói về Tu Đà Hoàn Đạo Trí nầy.
Tu
Đà Hoàn lần lượt không gián đoạn và tạm kết đoạn;
nên tác vô vi sự. Cùng với đạo và pháp chẳng sai biệt
phương tiện khởi. Tu Đà Hoàn quá rõ biết quả của tâm.
Hoặc 2 hoặc 3 lần sanh không gián đoạn. Kia lần lượt qua
khởi chỗ sau cùng. Tâm từ phần sau khởi, quán đạo, quán
quả, quán Niết Bàn, quán rồi đoạn trừ phiền não. Quán
ngoài phiền não. Đây nghĩa là Tu Đà Hoàn. Chẳng thoái pháp
định hướng. Hướng đến Bồ Đề; quả vị lai muốn phân
biệt. Đây chính là do nơi ngực, miệng của Đức Thế Tôn
sanh ra pháp ấy và pháp ấy được tạo ra. Được phần của
pháp chứ không cùng với phần của vật. Đây gọi là thấy
đầy đủ việc lành. Tu hành thông đạt Thánh pháp, đến
cửa nhu nhuyến và trụ lại. Thấy đầy đủ rồi để đến
Diệu Pháp nầy. Thấy Diệu Pháp nầy rồi thì trí giác thành
tựu. Sự giác ngộ rõ ràng rồi thành tựu và vào chỗ Pháp
lưu thánh thông đạt huệ. Mở cửa đề hồ để trụ và
vì vậy cho nên nói kệ nầy:
Nơi
đất, một nhà vua
Nơi
trời, một vị vua
So
tất cả thế gian
Tu
Đà Hoàn hơn hẳn.
Kẻ
tọa thiền đối với địa trụ nầy, bên trên thì hay tinh
tấn và vì để chứng quả Tư Đà Hàm, thấy chỗ sanh diệt;
nên đầu tiên là hiện quán như ban đầu đã nói. Thể hiện
việc tu hành như đã thấy đạo rồi. Nương vào các căn lực
để giác ngộ. Đây chính là sự phân biệt chân lý. Người
kia như thế mà tu hành, hướng đến chỗ đoạn diệt những
thô dục sân nhuế và kẻ kia còn ở một nơi phiền não. Từ
nơi con đường kia không gián đoạn làm cho chứng quả Tư
Đà Hàm.
Kẻ
tọa thiền kia dùng địa nầy để ở. Rồi bên trên luôn
siêng năng vì để chứng quả A Na Hàm. Chứng thấy sự sanh
diệt đầu tiên và hiện thấy như ban đầu đã nói. Hiện
ra sự tu hành như thấy được đạo. Nương vào nơi các căn
lực để giác ngộ. Như thế phân biệt chân lý. Kẻ kia như
thế hướng đến sự đoạn diệt vi tế dục sân nhuế và
nơi kia còn trụ nơi một phiền não. Từ nơi kia con đường
ấy không gián đoạn. Làm cho chứng được quả A Na Hàm.
Kẻ
tu hành kia từ địa ngục nầy tinh tấn tu hành hơn nữa để
chứng được quả A La Hán. Đầu tiên thấy sự sanh diệt
và hiện thấy như ban đầu đã nói. Hiện ra việc tu hành
như thấy đạo rồi. Nương vào các căn lực để giác ngộ.
Như thế mà phân biệt chân lý. Kẻ kia như vậy hướng đến
việc đoạn trừ sắc dục và vô sắc dục cũng như ngã mạn,
điều tiết, vô minh, dư phiền não và vô dư phiền não.
Từ
kẻ tọa thiền kia chứng được quả A La Hán. Kẻ kia quán
thấy đạo, quán thấy quả Niết Bàn. Quán về sự đoạn
trừ phiền não. Vị Tỳ Kheo ấy thành A La Hán. Diệt lậu
tận đã gây ra và lập nguyện đến diệu nghĩa và đoạn
trừ các kết sử. Chánh trí giải thoát lìa 5 phần 6 phần,
thành tựu một thủ hộ. Chẳng phải chết vì bị ràng buộc.
Ngoại trừ chân lý cùng mất. Lòng tin không nhiễm, sự suy
nghĩ nương vào thân, hành thiện giải thoát, tâm thiện giải
thoát, trí huệ phạm hạnh đã lập. Trở thành kẻ trượng
phu tốt nhất trong trượng phu, được đệ nhất sở đắc.
Đây chính là việc trừ sân nhuế vậy.
Kẻ
qua khỏi bờ, kẻ lìa phiền não, kẻ vô kết ngại. Kẻ được
thánh thiện, kẻ không còn gánh vác, kẻ chẳng tương ưng,
là Sa Môn, Bà La Môn, kẻ đã tắm gội xong, kẻ qua khỏi Vĩ
Đà, kẻ Bà La Môn tối thượng. Kẻ A La Hán, kẻ thoát khỏi,
kẻ giải thoát,kẻ hàng phục,kẻ tịch tĩnh, kẻ làm cho yên
tĩnh. Chính là lời nói tổng quát về A La Hán.
Đối
với Tu Đà Hoàn từ đây sanh lên, chẳng thể tạo sự siêng
năng, dùng 3 loại được thấy 3 loại Tu Đà Hoàn. Một đến
7 lần sanh vào nhà Tu Đà Hoàn. Một lần sanh Tu Đà Hoàn và
đối với kẻ thuần căn sanh. Chính là 7 lần lui tới cõi
thiên. Đây chính là những Tu Đà Hoàn còn sự khổ của nhà
nhà. Hoặc 2 lần sanh hoặc 3 lần sanh vào nhà kia rồi qua lại
tạo ra khổ biên. Một lần sanh Tu Đà Hoàn nầy làm cho sanh
ra người, tạo ra chỗ khổ.
Nếu
kẻ Tư Đà Hàm mà từ sự sanh nầy hướng thượng chẳng
sanh ra siêng năng thì thời gian đến, trong đời nầy tạo
ra sự khổ. Nếu A Na Hàm từ đời nầy trở đi, chẳng tạo
ra sự siêng năng thì từ đây khi mạng chung, sanh nơi Tịnh
Cư. Kẻ kia vì do các căn lanh lợi,dùng 5 loại để thấy,
thành 5 A Na Hàm, chính đó là Bát Niết Bàn, sanh vào Bát Niết
Bàn, chẳng làm Bát Niết Bàn, hành Bát Niết Bàn, rồi vãng
sanh về cõi trời A Già Ni Sất. Đây là gọi tên Niết Bàn
trung gian vậy. Chưa đến được chỗ rốt ráo, chỉ là trung
gian. Nương vào thọ mạng và lúc ấy trừ các kiết sử thô
thiển, làm cho khởi lên Thánh Đạo, sanh Bát Niết Bàn, vượt
qua khỏi thọ mệnh trung gian, để trừ những kết sử thô
thiển rồi sanh ra, làm cho khởi lên Thánh Đạo. Chẳng hành
Bát Niết Bàn, vô dị hành, vì trừ những kiết sử thô thiển
rồi làm cho khởi lên Thánh Đạo. Hành Bát Niết Bàn là có
làm khác đi, vì để trừ những kiết sử thô thiển, làm
cho khởi lên Thánh Đạo. Kế đó sanh vào cõi trời A Già Ni
Sất. Từ đây chẳng phiền não, khi mệnh chung không sanh vào
chỗ bất nhiệt. Từ cõi bất nhiệt mệnh chung, sẽ qua cõi
Thiện Kiến. Từ cõi Thiện Kiến mệnh chung sẽ sanh về cõi
Thiện Hiện. Từ cõi Thiện Hiện mệnh chung sẽ sanh về cõi
trời A Già Ni Sất. Đối với A Già Ni Sất vì trừ những
kiết sử thô thiển mới khởi lên Thánh Đạo. Đó là cõi
trời Bất Phiền có thọ mạng 10.000 kiếp. Bất Nhiệt thiên
có thọ mệnh 20.000 kiếp. Thiện Kiến thiên có thọ mạng
40.000 kiếp. Thiện Hiện thiên có đời sống 80.000 kiếp. A
Già Ni Sất thiên có thọ mạng 160.000 kiếp.
Nơi
tứ địa thành thứ 5. Người ở cõi thứ 5 nầy là A Già
Ni Sất 4 cõi còn lại chẳng có kẻ thượng lưu. Như thế
nơi kia thành ra 24 loại người khác. A La Hán đã đoạn tất
cả phiền não vô dư vậy. Chẳng trở thành nguyên nhơn của
sự hiện hữu về sau nầy. Vì không, nên A La Hán miễn thọ
hình mệnh nầy. Đây là làm cho hành diệt và khổ đoạn,
chẳng khởi ra khổ nữa. Đây gọi là khổ biên. Cho nên nói
kệ như thế nầy.
Giống
như dập sắt nóng
Hỏa
tinh rơi vào nước
Lần
lượt thành tịch diệt
Cõi
kia chẳng thể rõ
Như
thế chánh giải thoát
Độ
được dục cột ràng
Cho
đến vô động lạc
Cõi
kia chẳng rõ biết.
Hỏi:
Với đây có vị nói rằng: Lần lượt tu đạo và lần lượt
đoạn trừ phiền não, lần lượt phân biệt chân lý?
Đáp:
Hoặc là 11, hoặc dùng 8, hay dùng 4, đạo trí ấy tạo ra việc
chứng quả.
Hỏi:
Sao lại đối với sự thấy nầy chẳng tương ưng?
Đáp:
Nếu lần lượt tu hành, lần lượt đoạn trừ phiền não
thì sẽ lần lượt tác chứng. Đây có nghĩa là lần lượt
chứng quả. Có thể vui cùng đạo quả tương ưng vậy. Nếu
chưa có thể vui thì một quả Tu Đà Hoàn cũng thành sao? Nếu
như thế thì chẳng thể vui. Lần lượt tu đạo, lần lượt
đoạn trừ phiền não lại cũng như vậy. Lại nữa qua lần
thứ 2, nếu thấy khổ và thấy chỗ khổ, rồi đoạn trừ
phiền não, diệt đoạn xong rồi có thể vui. Do đó thấy khổ
rồi, thấy chỗ khổ rồi, đoạn trừ phiền não xong rồi
thì mới tác chứng Tứ Phần Tu Đà Hoàn quả. Sự tác chứng
ấy nên vui. Vì phương tiện để thành vậy. Như vậy là khả
lạc tác chứng. Tứ phần Tu Đà Hoàn, Tứ phần là 7 lần
sanh, 4 phần gia gia sanh, 4 phần 1 lần sanh, 4 phần trụ ở
nơi quả. Với những điều chẳng tương ưng nầy như thế
chẳng thể vui. Dùng sự thấy khổ, thấy chỗ khổ, đoạn
phiền não, đã đoạn chưa? Đây là điều không tương ưng.
Lại lần lượt trải qua lần thứ 3. Nếu thấy khổ, thấy
chỗ khổ và chỗ đoạn trừ phiền não, chỗ vui thì đây
là hiện thấy khổ. Tứ phần Tu Đà Hoàn đạo trụ, tứ phần
tín hạnh, tứ phần pháp hạnh, thành có thể vui, chẳng thấy
ngoài 3 chân lý. Nếu chỗ nầy vui ở nơi Tứ Tu Đà Hoàn Đạo
thì thành Tứ tín hạnh, thành tứ pháp hạnh. Đối với điều
nầy chẳng tương ưng. Nếu như thế thì chẳng thể vui. Lấy
sự thấy khổ, thấy chỗ khổ và trừ phiền não.
Lại
nữa phải trải qua lần thứ 4. Lại cũng chẳng tương ưng.
Nếu hiện thấy đạo, thành ra việc hướng đến sự thấy
đạo ấy để thành trụ quả. Đây có thể vui là lấy sự
hiện tại thấy khổ để làm chỗ hướng về. Dùng sự thấy
ấy, nên thành trụ quả. Nên có thể vui. Vì thấy một loại
vậy. Nếu như thế thì có thể vui hướng đến và trụ quả
thành ra nhiều. Đối với điều nầy, đây là chỗ chẳng
tương ưng. Nếu như thế thì chẳng thể vui. Hiện thấy đạo,
trở thành chứng. Lấy sự thấy đạo, thành trụ nơi quả.
Đây lại cũng chẳng tương ưng.
Lại
nữa qua lần thứ 5, nếu thấy đạo tác chứng quả mà chưa
thấy khổ, tập, diệt, khi thành tác chứng quả có thể vui
vậy. Dùng sự thấy khổ tập, khổ diệt là vô ngã.
Lại
nữa qua lần thứ 6; nếu dùng 12 hay là 8 hay là 4 đạo trí
tác chứng Tu Đà Hoàn quả có thể vui. Dùng sự tác chứng
nầy hoặc 12, hoặc 8, hoặc 4 thì Tu Đà Hoàn quả nên trở
thành chỗ có thể vui, trở thành Đạo Trí vô quả. Nếu như
thế có thể trải qua các địa mà thành vậy. Đối với việc
nầy, đây chẳng tương ưng. Nếu như thế có thể vui. Hoặc
dùng 12, hoặc dùng 8, hoặc dùng 4, Đạo Trí tác chứng Tu Đà
Hoàn quả sao? Đây lại cũng chẳng tương ưng.
Lại
qua lần thứ 7. Hoặc 12, hoặc 8, hoặc 4 đạo trí làm cho khởi
lên 1 quả Tu Đà Hoàn có thể vui thì điều nầy lại chẳng
tương ưng. Nhiều việc khởi lên một quả như nhiều quả
Ám Bà làm cho sanh ra một quả.
Hỏi:
Nếu lấy một trí một sát na, chẳng trước chẳng sau, thành
ra phân biệt Tứ Đế. Một trí sẽ thành 4 loại kiến thủ.
Nếu dùng sự thấy khổ thành thấy Tứ Đế. Tứ Đế thành
khổ đế. Nếu 2 nghĩa nầy không có điều nầy, thì chẳng
tương ưng. Một sát na dùng 1 trí, chẳng trước chẳng sau,
thành ra phân biệt Tứ Đế?
Đáp:
Chẳng phải 1 trí mà thành 4 việc thấy chấp ấy. Lại cũng
chẳng phải Tứ Đế thành khổ đế. Kẻ tọa thiền ngay từ
đầu tiên là Tứ Đế rồi quán về nhiều tướng và một
tướng, như phía trước đã phân biệt rồi.
Lúc
bấy giờ dùng Thánh hạnh khổ đế như tướng nầy, làm chỗ
thông đạt, rồi thành thông đạt tứ đế. Như thế tướng
Tứ Đế nầy dùng như nghĩa thành một tướng. Như ngũ ấm
nhiều tướng. Một tướng là tiền phân biệt làm sắc ấm.
Dùng vô thường để thấy ngũ ấm, vô thường lại là thường.
Thấy vô thường chẳng phải sắc ấm làm ngũ ấm. Như thế
nhập giới; như thế đối với việc nầy có thể rõ. Đối
với tám pháp nầy có thể rõ. Như vậy quán giác, hỷ, thọ
địa căn. Giải thoát phiền não, chánh thọ hai định. Đối
với quán đây là 2 quán. Đó là thiền quán và táo quán (quán
về việc khô ráo).
Hỏi:
Thế nào là thiền quán?
Đáp:
Đã được định rồi lấy định lực để hàng phục những
trần cái, gọi là so sánh phân biệt sắc quán, thấy thiền
phần. Xa Ma Tha là đầu tiên. Rồi tu Tỳ Bà Xá Na. Còn táo
quán nghĩa là phân biệt lực để hàng phục những triền
cái. Dùng sắc để so sánh phân biệt, gọi là thấy quán các
hành. Tỳ Bà Xá Na là đầu tiên. Sau đó tu hành Xa Ma Tha. Sự
giác ngộ ấy là táo quán. Sơ thiền và quán, quán đạo và
quả, thành hữu giác. Đối với Tam Thiền Tỳ Bá Xá Na cho
đến tánh trừ, thành hữu giác. Đạo và quả thành vô giác.
Đối với giác địa đạo, thành bát phần đạo. Đối với
vô giác địa, thất phần trừ tư duy.
Hỷ
là táo quán được khổ hạnh. Đầy đủ Tỳ Bà Xá Na với
tương tợ trí, thành chẳng khổ khởi tánh trừ đạo và quả
cùng khởi lên niềm vui. Táo quán được lạc hạnh đầy đủ.
Ở nơi nhị thiền Tỳ Bà Xá Na và đạo quả cùng khởi lên
niềm vui. Đối với đệ tam thiền; đối với đệ tứ thiền
Tỳ Bà Xá Na đạo và quả chẳng cùng khởi lên niềm vui.
Đối
với con đường hỷ địa và quả bảy giác phần khởi. Đối
với không, hỷ địa, lục bồ đề giác. Trừ hỷ bồ đề
giác. Thọ nghĩa là táo quán được khổ hạnh. Đầy đủ
Tỳ Bà Xá Na cho đến trí tương tợ. Cùng với xả khởi lên
tánh. Trừ đạo và quả cùng khởi lên hỷ. Táo quán được
lạc hành đầy đủ. Đối với tam thiền Tỳ Bà Xá Na đạo
quả cùng hỷ khởi lên. Đối với đệ tứ thiền Tỳ Bà
Xá Na đạo quả cùng xả khởi lên. Địa đây chính là nhị
địa. Kiến địa và tư duy địa. Đối với con đường Tu
Đà Hoàn, đây là kiến địa. Ngoài ra Tam Đạo, Tứ Sa Môn
quả là tư duy địa. Chưa thường thấy làm cho thấy nên gọi
là kiến địa. Thấy như thế, tu như thế là tư duy địa.
Lại nữa nhị địa, giác địa, chẳng giác địa. Đối với
đây là Tứ Đạo, Tam Sa Môn quả học địa. A La Hán quả
vô học địa. Căn ở đây nghĩa là 3 đời xuất thế gian
căn. Những gì chưa biết, ta sẽ biết về căn. Khi rõ căn
rồi thì rõ biết căn nầy. Với đây là Tu Đà Hoàn đạo
trí. Đầu tiên chưa biết làm cho biết, thành vị tri trí.
Tam đạo trí, tam quả trí rõ biết pháp nầy liền rõ biết
căn A La Hán quả trí vô dư. Rồi rõ pháp nầy và rõ biết
căn nầy. Giải thoát, nghĩa là Tam Giải Thoát. Đó là vô tướng
giải thoát, vô tác giải thoát và không giải thoát. Với đây
là đạo tương tợ với trí.Chẳng tác tướng tức là vô
tướng giải thoát. Chẳng tác nguyện tức là vô tác giải
thoát. Chẳng tác chấp tức là không giải thoát. Lại nữa
với 3 giải thoát nầy dùng quán để thấy thành ra các loại
đạo. Dùng được thành nơi một con đường.
Hỏi:
Thế nào là dùng sự quán để thấy thành ra các đường khác?
Đáp:
Đó là quán thấy sự vô thường thành giải thoát vô tướng.
Dùng quán thấy khổ, thành vô tác giải thoát. Dùng quán thấy
vô ngã, thành không giải thoát.
Hỏi:
Thế nào là dùng quán thấy vô thường thành vô tướng giải
thoát?
Đáp:
Dùng vô thường hiện ra để tác ý. Dùng diệt các hạnh mà
khởi tâm, thành đa giải thoát. Được tín căn và 4 căn. Chủng
loại kia như thật trí tướng. Chủng loại kia là tất cả
các hạnh, thành vô thường khởi lên làm cho khởi tướng
sợ hãi. Từ tướng hành sanh ra trí, từ tướng tâm khởi.
Đối với vô tướng, tâm vượt khỏi. Dùng vô tướng giải
thoát tâm được thoát. Như thế dùng quán vô thường thành
vô tướng giải thoát.
Hỏi:
Thế nào là quán thấy khổ thành vô tác giải thoát?
Đáp:
Dùng khổ hiện tại để tác ý. Dùng sự sợ hãi về các
việc làm để tâm khởi lên,trở thành tâm nhiều tịch tịnh.
Được định căn và tứ căn. Những loại ấy do như thật
trí sanh. Dùng những loại kia tất cả các hành thành khổ
sở kiến. Lấy sự sợ hãi sanh ra, làm cho trí khởi sanh, từ
sanh tâm khởi. Đối với vô sanh, tâm vượt qua. Dùng vô tác
giải thoát, thân được thoát. Như thế dùng quán thấy khổ,
thành vô tác giải thoát.
Hỏi:
Thế nào là quán thấy vô ngã, trở thành không, giải thoát?
Đáp:
Dùng vô ngã hiện ra sự tác ý. Lấy không để khởi lên các
hành và tâm thành ra nhiều sự yểm ác, được huệ căn và
trí căn. Chủng loại kia như thật biết tướng và sanh ra.
Dùng chủng loại kia tất cả các pháp, thành vô ngã có thể
thấy được. Dùng sự sợ hãi làm cho khởi lên tướng và
sanh ra. Nương vào tướng và chỉ có sanh trí khởi. Từ tướng
ấy và sanh tâm, thành ra xa lìa. Đối với vô tướng thì vô
sanh diệt và tâm Niết Bàn khởi lên. Lấy không giải thoát
thân được thoát. Như thế dùng quán thấy vô ngã thành không
giải thoát. Như vậy thành Tam Giải Thoát. Dùng quán thành
nơi nhiều con đường.
Hỏi:
Thế nào là dùng được Tam Giải Thoát để thành nơi một
đường?
Đáp:
Đó là được vô tướng giải thoát, thành được Tam Giải
Thoát. Tại sao người nầy dùng vô tướng? - Tâm nầy được
giải thoát mà giải thoát kia đã làm rồi, lấy chấp vào
cái nầy được vô tác giải thoát. Tam Giải Thoát thành chỗ
được. Vì sao mà lấy sử tạo tác của tâm nầy được thoát
và dùng giải thoát. Kẻ kia dùng tướng dùng chấp được
không giải thoát. Tam Giải Thoát lại cũng được. Vì sao mà
điều nầy dùng tâm chấp để được thoát? - Dùng giải thoát
là dùng tướng và dùng tác. Như thế được Tam Giải Thoát
rồi thành nơi một đạo.
Hỏi:
Giải Thoát và giải thoát môn có gì sai biệt?
Đáp:
Duy chỉ con đường trí kia. Từ phiền não thoát ra nên gọi
là giải thoát. Dùng người với nghĩa của cửa Đề Hồ gọi
là giải thoát môn. Lại nữa giải thoát là chỉ có trí đạo.
Việc ấy chính là Niết Bàn. Đây nghĩa là giải thoát môn.
Còn phiền não có 134 loại phiền não. Như thế 3 bậc thiện
căn, tam mịch, trí lậu, tứ kết, tứ lưu, tứ ách, tứ thủ,
tứ ác thú hạnh, ngũ cái, lục tránh căn, thất sử thế gian,
bát pháp, cửu mạn, thập phiền não xứ, 10 bất thiện nghiệp
đạo, thập kết, thập tà biên, thập nhị điên đảo, thập
nhị bất thiện tâm khởi.
Đối
với điều nầy 3 bất thiện căn đó chính là tham sân si,
dùng 2 đường thành chỗ kém, dùng A Na Hàm thì vô dư diệt.
Tham sân si chính là 3 đường tội nặng, mà A La Hán đạo
phải trừ diệt.
Tam
mịch nghĩa là: Dục mịch, hữu mịch và Phạm hạnh mịch.
Đối với điều 3 Pham hạnh mịch nầy dùng Tu Đà Hoàn đạo
vô dư diệt. Dục mịch nghĩa là lấy A Na Hàm đạo diệt.
Hữu mịch nghĩa là dùng A La Hán đạo diệt.
Tứ
lậu có nghĩa là: Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh
lậu. Đối với kiến lậu nầy dùng Tu Đà Hoàn đạo diệt.
Dục lậu lấy A Na Hàm đạo diệt. Hữu lậu và vô minh lậu
dùng A La Hán đạo diệt.
Tứ
kết có nghĩa là: Tham dục thân kết; sân nhuế thân kết;
giải đạo thân kết; thử đế chấp thân kết. Đối với
giới đạo thân kết nầy và Đế chấp thân kết dùng Tu Đà
Hoàn đạo diệt. Sân nhuế thân kết dùng A Na Hàm đạo diệt.
Tham thân kết dùng A La Hán đạo diệt.
Tứ
lưu có nghĩa là: Dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu.
Tứ
ách có nghĩa là: Dục ách, hữu ách, kiến ách và vô minh ách
như ban đầu đã nói về diệt.
Tứ
thủ nghĩa là: Dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã ngữ thủ.
Đối với thủ thứ 3 dùng Tu Đà Hoàn đạo để diệt. Dục
thủ lấy A La Hán đạo diệt.
Tứ
ác thủ hạnh gồm có: Dục ác thú hạnh, sân ác thú hạnh,
bố úy ác thú hạnh, si ác thú hạnh. Bốn điều nầy dùng
Tu Đà Hoàn đạo diệt.
Tứ
khan là: Trụ xứ khan (keo kiệt), lợi dưỡng khan, sắc khan,
pháp khan. Đây là 5 loại dùng A Na Hàm đạo diệt.
Ngũ
cái là: Dục dục, sân nhuế, giải đãi, thùy miên, điều
mạn nghi. Đối với sự nghi nầy là dùng Tu Đà Hoàn đạo
diệt. Dục dục sân nhuế mạn lấy A Na Hàm đạo diệt. Giải
đãi điều lấy A La Hán đạo diệt. Thùy miên thì tùy theo
sắc.
Lục
tránh căn gồm: Phẫn, phục, tật, siểm ác, lạc kiến, xúc.
Dùng Tu Đà Hoàn đạo diệt. Phẫn phúc tật, dùng A Na Hàm
đạo để diệt.
Thất
sử nghĩa là: Dục nhiễm sử, sân nhuế sử, mạn sử, kiến
sử, nghi sử, hữu dục sử, vô minh sử. Đối với kiến sử,
nghi sử nầy dùng Tu Đà Hoàn đạo diệt. Dục nhiễm sử,
sân nhuế sử dùng A Na Hàm đạo diệt. Mạn sử, hữu sử,
vô minh sử dùng A La Hán đạo diệt.
Thế
gian bát thế pháp nghĩa là: Lợi, suy, hủy (chê bai), dự (khen),
xưng (ca ngợi), cơ (chế giễu), khổ, lạc. Đối với 4 điều
bất ái xứ sân nhuế dùng A Na Hàm đạo để diệt. Đối
với 4 ái xứ sử thì dùng A La Hán đạo để diệt.
Cửu
mạn có nghĩa là: Từ kia hơn ngã thắng sanh mạn; cùng với
hơn ngã đẳng sanh mạn; Từ hơn ngã hạ sanh mạn. Từ đẳng
ngã thắng sanh mạn. Từ đẳng sanh mạn. Từ dưới ngã thắng
sanh mạn; Từ dưới ngã đẳng sanh mạn. Từ dưới ngã hạ
sanh. Cửu mạng ấy dùng A La Hán đạo để diệt.
Thập
não xứ gồm: Tham, sân, si, mạn, kiến, nghi, giải đãi, điều,
vô tàm, vô quý. Đối với sự thấy nghi nầy dùng Tu Đà Hoàn
đạo diệt. Sân nhuế dùng A Na Hàm đạo diệt. Ngoài ra 7 loại
kia dùng A La Hán đạo diệt. Thập não xứ nghĩa là người
nầy đối với những gì ta đã làm, đang làm và sẽ làm không
có nghĩa là sanh ra não phiền. Chỗ ta yêu nhớ về người
và người kia đã làm, hiện làm sẽ làm. Chẳng có nghĩa là
sanh ra sự phiền não. Chỗ mà ta chẳng yêu người kia thì
người kia đã làm, hiện làm và sẽ làm là đối với phi
xứ sanh ra sự nhớ nghĩ. Thập não xứ lấy A Na Hàm đạo
để diệt.
Thập
bất thiện đạo là: Sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, vọng
ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, tham sân, tà kiến.
Đối với sự sát sanh, trộm cướp tà hạnh, vọng ngữ, tà
kiến dùng Tu Đà Hoàn đạo để diệt. Ác khẩu, lưỡng thiệt,
sân dùng A Na Hàm đạo diệt. Ỷ ngữ, tham dùng A La Hán đạo
diệt.
Thập
sử gồm: Dục nhiễm sử, sân nhuế sử, mạn sử, kiến sử,
nghi sử, giới thủ sử, hữu nhiễm sử, tật sử, khan sử,
vô minh sử. Đối với kiến, nghi, giới thủ sử thì dùng
Tu Đà Hoàn đạo diệt. Dục nhiễm, sân nhuế, tật, khan, sử
dùng A Na Hàm đạo diệt. Mạn, hữu nhiễm, vô minh sử dùng
A La Hán đạo diệt.
Thập
tà biên gồm: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà
mệnh, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát.
Đối với tà kiến, tà ngữ, vọng ngữ nghiệp, tà mệnh,
tà trí, tà giải thoát thì dùng Tu Đà Hoàn diệt. Tà tư duy,
tà ngữ, ác ngữ, lưỡng thiệt dùng A Na Hàm đạo diệt. Tà
ngữ, ỷ ngữ, tà tinh tấn, tà niệm, tà định dùng A La Hán
đạo diệt.
Thập
nhị điên đảo gồm: Đối với vô thường thì điên đảo
tưởng là thường, tâm điên đảo thấy điên đảo. Như thế
mà khổ vui. Đối với bất tịnh tưởng là tịnh. Đối với
vô ngã tưởng là ngã. Đối với vô thường nầy điên đảo
nghĩa là có 3 thường. Đối với vô ngã tưởng là ngã, ba
điên đảo. Đối với bất tịnh tưởng là tịnh do sự thấy
điên đảo. Đối với sự khổ cho là vui. Vì thấy điên đảo.
Dùng Tu Đà Hoàn đạo để diệt. Đối với bất tịnh cho
là tịnh, là do tâm điên đảo tưởng điên đảo, dùng A Na
Hàm đạo để diệt. Đối với sự khổ cho là vui là do tâm
điên đảo tưởng điên đảo, dùng A La Hán đạo diệt.
Thập
nhị bất thiện tâm khởi gồm: Cùng vui cùng khởi kiến tương
ưng; vô hành tâm khởi, hữu hành tâm khởi, cùng với hỷ
khởi thấy chẳng tương ưng; vô hành tâm khởi, hữu hành
tâm khởi cùng với xả khởi thấy không tương ưng. Vô hành
tâm khởi, hữu hành tâm khởi cùng với ưu khởi lên sự tương
ưng với sân nhuế. Vô hành tâm khởi, hữu hành tâm khởi
cùng với điều khởi tâm và cùng với nghi khởi tâm. Đây
là 4 sự thấy tương ưng do tâm khởi lên. Cùng với nghi khởi
tâm lên lấy Tu Đà Hoàn đạo diệt. Cùng với 2 việc khởi
tâm lên, lấy 2 đạo thành chỗ yếu kém, dùng A Na Hàm đạo
vô dư diệt. Bốn sự thấy của tâm không tương ưng khởi
lên và đều cùng khởi lên với tâm khởi, dùng 3 đạo thành
chỗ yếu kém. Dùng A La Hán đạo vô dư diệt.
Nhị
chánh thọ có nghĩa là: Nhị chánh thọ ấy chẳng cùng với
phàm phu cùng với quả thành tựu tưởng thọ diệt chánh đạo.
Hỏi:
Thế nào là quả chánh thọ? Vì sao gọi là quả chánh thọ,
ai tu, ai làm cho khởi lên? Vì sao tu? Tu những gì? Vì sao mà
tác ý? Cái kia thành tựu từ duyên gì? Bao nhiêu duyên trụ
lại, bao nhiêu duyên khởi lên. Đây là chánh thọ thế gian
hay là xuất thế gian vậy?
Đáp:
Quả chánh thọ chính là Sa Môn quả. Tâm được an trụ nơi
Niết Bàn. Đây nghĩa là quả chánh thọ. Vì sao gọi là quả
chánh thọ? - Đó lá phi thiện, phi bất thiện, phi xuất thế
đạo và do quả báo mà thành. Đây chính là quả chánh thọ.
A La Hán và A Na Hàm đối với định nầy tạo ra đầy đủ.
Lại còn nói tất cả thánh nhơn được làm cho khởi lên như
A Tỳ Đàm đã nói: Vì được Tu Đà Hoàn đạo, trừ sanh gọi
là tánh trừ. Như thế tất cả. Lại nói tất cả thánh nhơn
thành tựu ở nơi định nầy và tạo ra đầy đủ. Duy làm
cho kia khởi. Như Trưởng Lão Na La Đà nói. Nầy các Tỳ Kheo!
Như Trưởng Lão đây ở nơi núi rừng khi lấy nước thì chẳng
dùng dây. Lúc ấy có người đến và trời nóng nên khát nước,
người kia thấy giếng, biết là có nước mà kẻ kia chẳng
dùng tự thân của mình để tự biết, như thế Trưởng Lão
có diệt Niết Bàn, như thật chánh trí thiện kiến. Ta chẳng
phải A La Hán lậu tận. Vì sao mà làm cho khởi lên được?
Đáp:
Vì hiện thấy pháp lạc trú nên khởi, như Đức Thế Tôn
đã dạy Ngài A Nan: Lúc ấy Ngài A Nan đối với Đức Như
Lai không tác ý về tất cả các tướng, duy chỉ có một thọ
diệt, tâm vô tướng định làm cho khởi lên trụ. Lúc ấy
Ngài A Nan thành thân Như Lai an ổn và vì sao mà làm cho khởi
lên?
Đáp:
Kẻ tọa thiền kia nhập vào sự tịch tịnh rồi đứng, hoặc
ngồi, hoặc nằm vui với quả chánh thọ vừa được; tạo
ra sự sanh diệt nơi chỗ thấy. Đầu tiên quán về các hành
cho đến tánh trừ trí. Tánh trừ trí không gián đoạn. Đối
với quả Niết Bàn làm cho an ổn. Nương vào nơi thiền nầy
thành con đường để tu vậy. Thiền nầy thành chỗ tạo tác.
Đây nghĩa là quả chánh thọ. Thế nào là tác ý?
Đáp:
Vô vi đề hồ giới lấy sự yên lặng mà tác ý. Cái kia sẽ
thành tựu bao nhiêu duyên; bao nhiêu duyên trụ; bao nhiêu duyên
để khởi?
Đáp:
Chánh thọ kia có 2 duyên. Đó là bất tác ý tất cả các tướng
và đối với vô tướng giới tác ý. Ba duyên để trụ gồm
bất tác ý tất cả các tướng; đối với vô tướng giới
tác ý và sơ hành 2 duyên cùng khởi. Tác ý tất cả tướng
và vô tướng giới bất tác ý. Định nầy có phải là định
thế gian hay xuất thế gian?
Đáp:
Đây là xuất thế định thọ. Chẳng phải là phi thế gian
chánh thọ.
Hỏi:
Người A Na Hàm vì quả định mà hiện quán. Vì sao tánh trừ
vô cách. A La Hán tạo chẳng sanh?
Đáp:
Vì là chẳng phải chỗ vui vậy. Chẳng sanh quán thấy. Vì
vô lực vậy? Đây là đối với 2 loại thắng quả có thể
rõ biết, thành hữu đạo và tánh trừ quả. Hiện tác chứng
đạo không gián đoạn quả hiện, thành không đạo và tánh
trừ quả. Thành nhập quả định, thành vô đạo và tánh trừ
quả. Từ diệt định khởi, thành vô đạo vô tánh trừ quả.
Hỏi:
Thế nào là tưởng thọ diệt chánh thọ? Ai làm cho khởi,
có bao nhiêu lực thành tựu, làm cho khởi bao nhiêu hạnh sở
trừ? Làm cho khởi bao nhiêu việc đầu? Khởi nghĩa là gì?
Vì sao lại khởi? Sao lại từ kia khởi? Dùng tâm nào để
khởi? Dùng khởi tâm gì là chỗ dính mắc? Có bao nhiêu xúc
sở xúc? Vì sao lại sơ khởi các hành? Người chết và kẻ
nhập diệt tưởng thọ định sai biệt nhau như thế nào? Định
nầy là hữu vi hay vô vi?
Đáp:
Chẳng sanh tâm, tâm số pháp. Đây nghĩa là diệt tưởng thọ
định.
Ai
đã làm cho khởi định nầy?
Đáp:
A La Hán và A Na Hàm. Đối với định nầy đã đầy đủ.
Ai
chẳng khởi lên?
Đáp:
Kẻ phàm phu và Tu Đà Hoàn,Tư Đà Hàm và người sanh ở cõi
vô sắc giới. Đối với đây chẳng phải là cảnh giới vậy.
Kẻ phàm phu chẳng nên khởi phiền não, chướng ngại định,
vì chưa đoạn vậy. Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm chưa nên khởi
thì liền làm cho khởi lên, chẳng phải là chỗ nầy vậy.
Nhập vô sắc giới chẳng nên khởi.
Có
bao nhiêu lực thành tựu làm cho khởi?
Đáp:
Lấy 2 lực thành tựu làm cho khởi. Đó là Xa Ma Tha lực và
Tỳ Bà Xá Na lực. Đối với Xa Ma Tha lực nầy do bất định
được tự tại. Đối với Tỳ Bà Xá Na lực do nơi tự tại
tùy theo 7 quán.
Thế
nào là 7 tùy quán?
Đó
là quán về vô thường, quán vể khổ, quán về vô ngã, quán
về yểm hoạn, quán về vô nhiễm, quán về xuất ly. Xa Ma
Tha lực là diệt thiền phần và vì chẳng động giải thoát.
Tỳ Bà Xá Na lực là thấy sanh quá hoạn (lo lắng) và vì vô
sanh giải thoát.
Có
bao nhiêu hạnh là chỗ trừ làm cho khởi định?
Đáp:
Dùng trừ tam hạnh làm cho khởi định. Đó là khẩu hành,
thân hành và ý hành. Đối với đây nhập nhị thiền, giác
quán khẩu hạnh, thành sở trừ. Nhập đệ tứ thiền hơi
thở vào ra là thân hành, thành sở trừ. Người nhập diệt
tưởng thọ định thì tưởng thọ tâm hành thành sở trừ.
Đầu
tiên có bao nhiêu việc?
Đáp:
Đầu tiên có 4 việc. Sự trói buộc chẳng loạn, xa phân biệt,
quán sự phi sự. Đây tên là một sự trói buộc. Bát, Cà
Sa một xứ, mang theo, chẳng loạn. Đây là phương tiện sở
hữu. Thân nầy nguyện chưa sanh loạn thọ trì. Viễn phân
biệt là xưng tụng thân lực nầy. Dùng số ngày để phân
biệt thọ trì. Đối với thời kỳ xa xôi sẽ khởi lên. Quán
sự phi sự nghĩa là chưa tới thời để phân biệt; hoặc
chúng tăng vì sự hòa hợp dùng tiếng kia, ta sẽ khởi thọ
trì nơi một sự trói buộc nầy. Vì giữ gìn Cà Sa nên chẳng
loạn và phân biệt xa xôi. Vì bảo hộ thân. Quán sự phi sự
là vì không phường chúng tăng hòa hợp, trụ vô sở hữu
xứ; hoặc sơ tác nhập sơ thiền.
Vì
sao lại làm cho khởi?
Đáp:
Vì hiện pháp lạc trú vậy. Đó là Thánh nhơn tối hậu vô
động định, lại vì khởi thần thông nhập vào quảng định.
Như Trưởng Lão chánh mệnh A La Hán. Vì bảo hộ thân như
Trưởng Lão Xá Lợi Phất, như Trưởng Lão Bạch Lộ Tử Đề
Sa. Vì sao làm cho khởi? - Nghĩa là kẻ tọa thiền kia nhập
vào trụ tịch tịnh; hoặc tọa; hoặc ngọa. Lạc diệt ý
lạc, diệt nhập sơ thiền. Nhập rồi an tường mà xuất.
Chẳng gián đoạn, thấy thiền kia vô thường, khổ, vô ngã.
Cho đến hành xả trí. Như đệ nhị thiền, đệ tam thiền
và đệ tứ thiền; hư không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ.
Nhập rồi an tường mà xuất. Chẳng gián đoạn sự thấy
chánh định, vô thường, khổ, vô ngã cho đến hành xả trí.
Lúc ấy chẳng gián đoạn nhập vào phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Từ kia hoặc 2 hoặc 3 làm cho khởi lên phi tưởng tâm.
Khởi rồi làm cho tâm diệt, tâm diệt rồi chẳng sanh và chẳng
hiện nhập. Đây nghĩa là nhập diệt tưởng thọ định.
Sao
lại từ kia khởi?
Kia
chẳng phải như thế mà tác ý, ta sẽ khởi rồi đến lúc
đầu tiên, chỗ tạo tác phân biệt thành.
Vì
sao tâm lại khởi?
Nếu
người A Na Hàm thì dùng A Na Hàm quả để tâm khởi. Nếu
người A La Hán thì dùng tâm A La Hán để khởi.
Khởi
rồi tâm kia dính mắc vào cái gì?
Đáp:
Tâm chuyên duyên vào sự tịch tịnh.
Có
bao nhiêu xúc sở xúc?
Đáp:
Có 3 loại xúc sở xúc. Dùng không xúc, vô tướng và vô tác
xúc.
Vì
sao sở khởi các hạnh?
Từ
kia thân làm, từ kia khẩu làm.
Người
chết và người nhập diệt tưởng định có gì sai biệt?
Kẻ
chết thì 3 việc kia mất không còn gì nữa nơi mạng sống;
đoạn hơi ấm, đoạn các căn và đoạn nhập. Người thọ
tưởng định 3 việc làm ấy đoạn; nhưng thọ mệnh không
mất; hơi ấm chẳng mất, các căn không khác. Chính đây là
sự sai biệt.
Vì
sao định nầy hữu vi và vô vi?
Đáp:
Khó thể nói đây là định hữu vi hay vô vi.
Hỏi:
Tại sao định nầy không thể nói là hữu vi hay vô vi?
Đáp:
Hữu vi pháp đối với định nầy không có. Vô vi pháp vào
ra khó thể biết. Cho nên chẳng thể nói là định nầy hữu
vi hay vô vi.
Giải
thoát phân biệt chân lý
Phẩm
thứ 12 xong.
Đối
với phẩm nầy có một số nhân duyên cho giới đầu đà,
định, cầu bạn lành. Phân biệt hạnh, hành xứ, hành môn,
5 thần thông. Phân biệt huệ 5 phương tiện. Phân biệt chân
lý. Đây là 12 phẩm. Đây là giải thoát đạo phẩm lần lượt
như thế.
Vô
biên, vô xưng bất khả tư
Vô
lượng thiện tài, thiện ngữ ngôn
Ư
thử pháp trung thùy năng tri
Duy
tọa thiền nhơn năng thọ trì
Vi
diệu thắng đạo vi thiện hạnh
Ư
giáo bất hoặc, ly vô minh
Nghĩa:
Không
biên, không xưng khó thể giữ
Vô
lượng tài lành, ngôn ngữ lành
Với
đây pháp ấy ai thể biết
Chỉ
kẻ tọa thiền hay thọ trì
Vi
diệu thắng đạo là hạnh lành
Lời
ấy chẳng sai, lìa vô minh.
Luận
Về Con Đường Giải Thoát
Hết
quyển thứ 12
Dịch
kinh công đức khó nghĩ lường
Vô
biên thắng phước đều hồi hướng
Khắp
độ chúng sanh trong pháp giới
Đều
được vãng sanh về Cực Lạc.
Dịch
xong vào ngày 28 tháng 6 năm 2006 tại thư phòng chùa Viên Giác
Hannover, Đức Quốc, nhân ngày sinh nhật lần thứ 58 tổ chức
tại chùa và khi 10 bông hoa quỳnh đều nở rộ để chào đón
một quyển luận đã được dịch xong trong mùa An Cư Kiết
Hạ năm Bính Tuất nầy.
Lần
cập nhật cuối ( ngày 15, tháng 02, năm 2007 )
Chùa
Viên Gíac
Karlsruher
Strasse 6, 30519 Hannover, Germany
eMail:viengiactu@viengiac.de
- Tel: 0511/879630 - Fax: 0511/8790963
VIENGIAC.DE