Quyển
Thứ Chín
Phẩm
Ngũ Thông
Thứ
8
Lúc
bấy giờ người tọa thiền như thế đã tạo ra định tự
tại rồi, trụ ở nơi đệ tứ thiền hay khởi lên ngũ thần
thông. Đây gồm có thân thông, thiên nhĩ thông, tha tâm trí
thông, túc mệnh thông, thiên nhãn thông. Thân thông nghĩa là
biến hóa; thiên nhĩ nghĩa là vượt qua sự nghe của con người.
Tha tâm trí nghĩa là rõ biết ý của người kia. Túc mệnh
nghĩa là nhớ lại đời sống của kiếp trước. Thiên nhãn
thông có nghĩa là nhìn xa hơn mắt của loài người.
Hỏi
rằng: Có bao nhiêu loại biến hóa và ai tu việc biến hóa?
Vì sao nên khởi lên sự biến hóa ấy?
Đáp
rằng: Sự biến hóa ấy có 3 loại. Đó là: Thọ trì biến;
Tác biến và Ý sở tác biến.
Sao
gọi là Thọ trì biến?
Với
kẻ tọa thiền kia lấy một thành nhiều, lấy nhiều thành
một. Dùng thân nầy lớn dần cho đến Phạm Thiên. Đây nghĩa
là Thọ trì biến.
Sao
gọi là Tác biến?
Kẻ
tọa thiền kia xả bỏ tự tánh của thân, hiện ra thân hình
của Đồng Tử; hoặc hiện thành hình của loài rồng; hoặc
hiện hình của Phạm Vương, như thế v.v... Đây nghĩa là Tác
biến.
Sao
gọi là Ý sở tác biến?
Kẻ
tọa thiền kia từ thân nầy hóa làm thân khác tùy ý chỗ
tạo tác ra tất cả các thân phần gồm các căn đầy đủ.
Đây gọi là Ý sở tác biến. Lại nữa biến có 7 loại: Đó
là: Tri biến, định biến, thánh biến, nghiệp quả báo sở
sanh biến, công đức nhơn biến, minh thuật sở tạo biến,
phương tiện biến.
Hỏi
rằng: Thế nào là tri biến?
Đáp
rằng: Lấy vô thường trong hiện tại để dứt trừ về tưởng
thường, trở thành tri biện biến. Như A La Hán đạo, đoạn
trừ tất cả những phiền não, thành tri biện. Đây nghĩa
là biến tri biện. Ví dụ như Trưởng Lão Bạt Câu La, Trưởng
Lão Tăng Kiết Phiêu Giả; Trưởng Lão Bộ Khổng Đa Ba La.
Đây gọi là những vị biến tri biện.
Hỏi
rằng: Thế nào là biến định biện?
Đáp
rằng: Dùng sơ thiền để đoạn trừ những triền cái (che
đậy) thành biến định biện. Dùng Phi tưởng Phi phi tưởng
định đoạn trừ vô sở hữu biến định biện. Trưởng Lão
Xá Lợi Phất Đa; Trưởng Lão Tiên Thời Bà; Trưởng Lão Côn
Đàn Nhược; Uất Đa La Ưu Bá Di Sa; Ma Bà Đề Ưu Bà Di. Đây
là những biến định biện.
Hỏi
rằng: Thế nào gọi là Thánh biện?
Đáp
rằng: Nếu Tỳ Kheo vui nơi chẳng thể được thì sẽ trụ
ở Phi Bất Nại Tưởng, trở thành trụ ở Hữu Phi Bất Nại
Tưởng. Nếu Tỳ Kheo vui nơi Phi Phi Nại, sẽ trụ ở Bất
Nại Tưởng, trở thành trụ ở Hữu Bất Nại Tưởng. Nếu
Tỳ Kheo vui nơi Phi Bất Nại và Phi Phi Nại Tưởng thì sẽ
trụ ở nơi Phi Phi Nại Tưởng, trở thành trụ ở Hữu Phi
Phi Nại Tưởng. Nếu Tỳ Kheo vui nơi Bất Nại và Phi Phi Nại,
sẽ trụ ở Bất Nại Tưởng, trở thành trụ ở Hữu Bất
Nại Tưởng nếu chấp giữ.
Hỏi
rằng: Sao lại đối với Phi Bất Nại Bất Nại Tưởng?
Đáp
rằng: Đối với ái bất niệm xứ lấy bất tịnh làm cho
đầy đủ; hoặc lấy vô thường để chấp thủ.
Hỏi
rằng: Vì sao lại lấy Bất nại và Phi bất nại và trụ vào
Phi bất nại tưởng?
Đáp
rằng: Đối với bất ái niệm và ái niệm xứ hoặc lấy
lòng từ để làm cho đầy đủ. Hoặc lấy cảnh giới để
chấp thủ.
Hỏi
rằng: Vì sao mà Phi bất nại và Bất nại trụ ở Bất nại
tưởng?
Đáp
rằng: Lấy ái niệm và bất ái niệm xứ hoặc lấy bất tịnh
làm cho đầy đủ; hoặc lấy vô thường chấp giữ.
Hỏi
rằng: Thế nào là Bất nại và Phi bất nại, lìa hai câu niệm
xả và biết nhớ đến hiện tại?
Đáp
rằng: Tỳ Kheo lấy mắt để quán sắc, thành chẳng hoan hỷ,
chẳng lo, thành xả trụ niệm hiện tại. Như thế đối với
tất cả cửa. Đây gọi là Thánh Biện.
Hỏi
rằng: Vì sao gọi là từ nghiệp báo sanh biến?
Đáp
rằng: Tất cả chư Thiên, tất cả các loài chim, có người
cũng sanh vào loài ác thú, bay vào trong hư không mà biến hóa.
Đây gọi là nghiệp báo sanh ra biến.
Hỏi
rằng: Vì sao có công đức nhơn biến?
Đáp
rằng: Chuyển Luân Vương,Thụ Đề Trưởng Giả, Xà Đề Trưởng
Giả, Cù Sư La Trưởng Giả, lại nói có 5 đại công đức
nhơn biến. Đây gọi là hữu công đức nhơn biến.
Hỏi
rằng: Sao gọi là Minh Thuật Sở Tạo Biến?
Đáp
rằng: Người giữ minh thuật là người hay đọc tụng minh
thuật (chú); hay bay vào hư không; hoặc hiện ra làm voi; hoặc
biến làm ngựa; hoặc biến ra xe; hoặc biến người đi bộ;
hiện ra đủ các loại quân lính. Đây gọi là Minh Thuật Sở
Tạo Biến.
Hỏi
rằng: Thế nào gọi là Phương Tiện Biến?
Đáp
rằng: Lấy sự xa lìa đoạn tham dục; lấy con đường của
La Hán, đoạn trừ tất cả những phiền não như người thợ
gốm lành nghề. Lấy đó làm phương tiện chơn chánh để
sinh sống. Tất cả việc đều thay đổi. Đây gọi là Phương
Tiện Biến.
Hỏi
rằng: Ai là kẻ Tu Biện Biến?
Đáp
rằng: Lấy hư không làm 9 loại; hoặc với hư không làm năm.
Tất cả những người tạo ra sự tự tại nơi đệ tứ thiền.
Đây có nghĩa là Tu Biện Biến. Lại nói sắc giới đệ tứ
thiền lấy chỗ làm là hơn vậy. Đây là Tu Biện Biến. Lại
nói Tứ Thiền nhị tự tại. Đây là Tu Biện Biến.
Hỏi
rằng: Vì sao lại khởi lên biến?
Đáp
rằng: Tỳ Kheo nầy tu dục định thắng hành tướng ưng như
ý túc, tinh tấn định, tâm định, huệ định. Như thế kẻ
dục kia muốn vui, tạo ra sự biến đổi. Định nghĩa là kẻ
tâm không loạn. Người tọa thiền dục loạn biến, biến
ý tu hành định, giữ gìn 4 loại tinh tấn, những pháp ác
bất thiện chưa sanh thì đừng làm cho sanh. Đã sanh ra ác pháp
rồi thì đừng làm cho các thiện pháp bị đoạn trừ. Pháp
lành chưa sanh thì làm cho sanh; đã sanh thiện pháp rồi thì
làm cho tăng trưởng chẳng quên đi. Lấy đó mà khởi lên
tu tập cho đầy đủ. Đây gọi là Thắng Hạnh thành tựu
vậy. Tuy 3 pháp kia đầy đủ ngôn ngữ và 6 phần thành tựu
như ý túc và được như ý làm đạo. Tuy pháp kia như ý túc,
lại lần lượt dục, định, thắng hạnh thành tựu. Đây
có nghĩa là như ý túc, được như ý. Lấy nghĩa đầu nầy
để tu vậy. Tu pháp kia, tu nhiều. Đây gọi là tu dục định
thắng hạnh, thành tựu như ý túc. Kẻ tọa thiền kia như
là hiện đang tu; đây là phương tiện; hoặc thoái; hoặc trụ.
Kẻ kia tinh tấn làm cho khởi thành tinh tấn định thắng hạnh,
thành tựu như ý túc. Nếu phương tiện kia tê liệt; hoặc
thoái; hoặc khủng bố. Tâm kia trì trệ tạo nên tướng xa
rời. Ý hoặc tâm thoái lui tạo ra tâm định. Nếu tâm khủng
bố, tạo ra tướng xả. Cái kia sẽ thành tâm định thắng
hạnh, thành tựu như ý túc. Kẻ kia nếu không có tâm phiền
não; hoan hỷ phân biệt lợi lạc chẳng lợi lạc, tu hành
các pháp thì đây là lúc tu; lại pháp nầy chẳng tu thì kẻ
kia thành phân biệt định thắng hạnh, thành tựu như ý túc.
Người tọa trhiền kia tu Tứ Như Ý Túc, dùng tâm tạo ra sự
tự tại. Thây nầy tùy theo tâm và tâm nầy thành theo thân.
Kẻ tọa thiền kia lấy lúc ấy mà làm cho thân yên. Lấy tâm
an tâm và thân đều do thân tâm biến và cũng do tâm thân thay
đổi. Do thân tâm thọ trì, do tâm thân thọ trì. Hoặc lạc
tưởng; hoặc khinh tưởng, đắm trước nơi thân; đối với
sự dính mắc chỗ thành trụ. Kẻ tọa thiền kia như thế
hiện tu trở thành thật nhẹ nhàng. Thân nầy thành tối nhuyễn,
tối kham thọ trì. Như hòn sắt bị lửa thiêu đốt và tùy
theo ý để tạo ra đồ vật. Như thế lấy tu tâm thành thân
nhẹ. Khi nhẹ nhàng rồi, nhập vào Tứ Thiền an ổn nhớ nghĩ
ra khỏi và hay phân biệt hư không. Đây là trí thọ trì. Như
thế đối với hư không, thân nầy sẽ khởi lên, lấy trí
thọ trì. Đối với hư không thành chỗ khởi lên, như gió
thổi bông. Đối với người mới tọa thiền chẳng nên xa
lìa công việc. Vì sao mà phải xem lại việc nầy? sẽ khởi
lên sự sợ hãi. Nếu có sợ hãi thì thiền nầy sẽ sụt
lùi. Cho nên kẻ mới tọa thiền, chẳng nên xa rời việc thực
hành, lần lượt mà đi. Đầu tiên lấy cách xa một mét để
quán. Lại nương vào tướng kia để tạo ra sự siêng năng
trong một tầm. Như thế đây là phương tiện lần lượt tùy
theo chỗ nầy mà vui, nên khởi lên.
Hỏi
rằng: Kẻ tọa thiền kia đối với hư không, hoặc từ thiền
mà thoái, thì từ hư không kia chuyển lạc vào địa sao?
Đáp
rằng: Chẳng phải vậy. Nghĩa là từ đây, chỗ ngồi ấy,
trước đứng dậy và đi xa. Còn kẻ thối lui thì trở lại
chỗ ngồi trước. Ở đây sẽ thấy chính thân mình như chỗ
ngồi trước. Người có thần thông, dừng lại ở pháp nầy.
Kẻ tọa thiền kia như thế lần lượt mà quán cho đến khi
thọ trì tự tại. Chẳng có một loại nào lưu luyến, từ
một thành nhiều và từ nhiều thành một. Hoặc ngay hiện
tại vượt qua khỏi tường vách hay ngang cả núi cao. Thân
di chuyển vô ngại giống như hư không. Đối với đất hoặc
chưa; hoặc ra khỏi giông như trong nước. Đi trên mặt nước
như đi trên mặt đất. Bay trong hư không giống như chim bay.
Lấy tay sờ mó được mặt trời, mặt trăng. Đại thần thông
như thế và thân nầy mạnh như thế. Cho đến cõi trời Phạm
Thế, từ một biến ra nhiều và lấy một làm cho nhiều. Hoặc
một ấy thành trăm, hoặc thành ngàn, hoặc thành vạn v.v...
rồi nhập vào đệ tứ thiền an tường mà ra. Lần lượt
lấy trí mà thọ trì. Ta đã có nhiều sẽ trở thành nhiều
hơn nữa. Như những con đường nhỏ của A La Hán lấy số
nhiều để trở thành một rồi muốn chuyển số nhiều ấy
làm một. Dùng trí để giữ gìn. Ta sẽ chuyển đổi nhiều
thành một như các vị Trưởng Lão A La Hán hoặc xuất hiện
hoặc không xuất hiện để qua khỏi tường vách hay qua khỏi
núi. Sự đi đứng không bị chướng ngại giống như chỗ
trống. Kẻ tọa thiền kia như thế lấy sự tu hành ấy mà
vào như vào chỗ trống tất cả mọi nơi. Vào đệ tứ thiền
rồi an ổn xuất ra, như qua khỏi tường vách hoặc qua núi.
Sự di chuyển ấy dùng trí tuệ để gìn giữ và điều nầy
giống như hư không sẽ trở thành hư không. Kẻ tọa thiền
kia đối với hư không cũng giống như qua khỏi tường vách
và qua khỏi núi non. Sự di chuyển không bị chướng ngại
giống như trong hư không.
Kẻ
hiện ra với ý nghĩa gì và kẻ không hiện ra với ý nghĩa
gì?
Với
người tọa thiền chỗ không mở làm cho mở ra, rồi thông
qua tường vách cũng giống như thông qua núi non, đi đứng
không chướng ngại. Đây nghĩa là gì? - Đối với đất làm
cho không có, như ở trên nước. Kẻ tọa thiền kia như thế
lấy tâm tu hành làm cho tất cả vào nơi nước. Vào rồi nơi
đệ tứ thiền. An ổn ra khỏi và chuyển đất ấy thành đồ
gốm. Lấy trí để giữ gìn. Điều nầy nghĩa là trở thành
nước mà người tọa thiền lấy đất kia để tạo nên. Ví
như tánh của nước và khi đi trên nước, tâm chẳng chướng
ngại giống như là đi trên mặt đất. Kẻ tọa thiền kia
như thế lấy tâm tu hành để vào tất cả nơi đất. Rồi
nhập vào đệ tứ thiền, an ổn ra khỏi nước để tạo nên
đồ gốm. Lấy trí để giữ gìn. Điều nầy sẽ trở thành
đất, khi thành đất rồi, người tọa thiền đối với nước,
khi đi chẳng chướng ngại, giống như đi nơi tánh đất. Khi
di chuyển trong hư không, giống như chim bay. Đây là 3 cách
đi như đi bộ, đi như gió và dùng tâm để đi. Kẻ tọa thiền
kia đối với tất cả đất đã vào chỗ định. Nơi hư không
giữ gìn đường đi giống như đi bộ. Nếu định ấy được
vào như gió thì việc thọ trì gió ấy như lấy dây cột lại
để phi hành trong gió. Dùng tâm để đi, làm cho thân tâm đầy
đủ. Hoặc tưởng đến niềm vui, hoặc ít tưởng đến. Đối
với thân ấy nhẹ nhàng và dùng tâm để bay giống như chim
bay. Như vậy đây là dùng tâm để đi, dùng tay để sờ mặt
trời mặt trăng. Như thế thần thông, như thế thần lực.
Với người tọa thiền nầy là có ngồi thiền và có thần
thông. Tâm được tự tại. Dùng sự thực hành nầy để vào
đệ tứ thiền. Yên ổn mà ra như lấy tay xoa mặt trời mặt
trăng. Dùng trí để thọ trì. Điều nầy có nghĩa là gần
bàn tay và vật kia sẽ trở thành bàn tay gần. Kẻ tọa thiền
kia hoặc ngồi hoặc nằm như lấy tay xoa vào mặt trời mặt
trăng, thân cao đến Phạm Thế. Kẻ tọa thiền kia có thần
thông và tâm được tự tại. Vui chơi nơi cõi Phạm Thế như
vậy là có Tứ Như Ý Túc. Việc nầy do tâm tu hành. Lấy xa
đối với gần rồi lấy gần đối với xa. Hoặc lấy nhiều
giữ gìn ít; hoặc lấy ít giữ gìn nhiều. Dùng thiên nhãn
để thấy cõi sắc Phạm Thiên. Lấy thiên nhĩ để nghe tiếng
Phạm Thiên. Lấy tha tâm trí để biết tâm của Phạm Thiên.
Kẻ tọa thiền kia dùng 3 cách đi ấy và lấy 2 cách đi để
vào Phạm Thế. Pháp nầy gọi là sự biến nhập vào tất
cả sự thọ trì.
Lúc
bấy giờ người tọa thiền muốn khởi lên ý tưởng và muốn
tu Tứ Như Ý Túc. Dùng tâm được tự tại và an tâm nơi thân.Tâm
an nơi thân là do lấy tâm để an nơi thân và do lấy thân
để an nơi tâm và lấy thân giữ gìn tâm rồi lấy tâm giữ
gìn thân. Hoặc tưởng đến vui hoặc tưởng đến sự nhẹ
nhàng. Kẻ ấy là thân đã qua sự dính mắc, đã qua rồi sự
dính mắc và sự dính mắc không còn nữa nên đã trụ yên.
Như thế người tọa thiền hiện tu thân nầy sẽ thành thuần
thục nhẹ nhàng để thọ trì. Như hòn sắt bị lửa đốt,
tùy theo ý mà tạo nên vật. Như thế kẻ tọa thiền theo như
thế ấy mà tu hành. Tâm ấy lần lượt trở thành thuần thục
để thọ trì, làm cho đầy đủ cả thân tâm. Kẻ tọa thiền
kia nếu muốn thay đổi hình tướng như hình Đồng Tử thì
khi nhập vào đệ tứ thiền rồi ra khỏi, lần lượt chuyển
thành hình Đồng Tử. Chuyển rồi dùng trí để thọ trì.
Biết rằng ta đang thành hình Đồng Tử. Như vậy do sự tác
ý mà trở thành hình Đồng Tử. Cứ như thế hình rồng, hình
Phượng Hoàng, hình Dạ Xoa, hình A Tu La, hình Đế Thích, hình
Phạm Vương, hình biển, hình núi,hình rừng, hình sư tử,
hình hổ, hình beo, hình voi, hình ngựa, hình lính và chuyển
rồi lấy trí để giữ gìn. Kế đó ta sẽ trở thành quân
lính. Do sự tác ý mà trở thành quân lính.
Hỏi
rằng: Sự thọ trì làm thay đổi chỗ làm. Vậy thay đổi
và sự sai biệt như thế nào?
Đáp
rằng: Lấy sự thọ trì thay đổi, chẳng bỏ được hình
sắc ấy mà làm cho sự tạo tác thay đổi xả bỏ hình sắc.
Đây nghĩa là sự sai biệt.
Lúc
ấy người tọa thiền muốn khởi ý lên chỗ tạo tác biến
đổi, như thế tâm được tự tại. Tu như ý túc, nhập vào
trí thiền rồi an tường mà ra khỏi. Đối với thân nầy
ở bên trong tác ý giống như cái bình trống. Kẻ tọa thiền
kia tác ý như thế, lấy sự trống không bên trong tự thân
và tùy theo chỗ vui ấy mà biến hóa. Tùy theo điều nầy mà
trở thành thay đổi. Đổi rồi dùng trí thọ trì. Tùy theo
điều nầy mà thành tựu. Như vậy sự tác ý nầy theo đó
giống nhau và dùng phương tiện nầy để tạo ra nhiều biến
hóa. Khi sự biến hóa hình thành rồi, kẻ tọa thiền kia ở
nơi thân biến hóa ấy hướng đến Phạm Thiên và ở trước
Phạm Thiên tức liền biến hóa và thân nầy giống như hình
Phạm Thiên, tùy ý mà tạo tác.Tất cả thân hình đều đầy
đủ. Các căn chẳng thiếu. Nếu người có thần thông thì
có thể tiêu dao và kẻ được biến hóa ấy lại cũng mặc
ý tiêu dao. Kẻ có thần thông kia lúc đi lúc nằm hiện ra
hào quang hoặc hỏi hoặc đáp và chỗ người biến hóa ấy
lại ngồi lại nằm, lại cũng có hào quang. Lại hỏi lại
đáp. Đây chính là chỗ thần thông tạo tác biến hóa và
chỗ kẻ hóa ra kia lại cũng tùy theo chỗ làm như thế v.v...
Vì
sao lại tan ra rồi tạo lại hình tướng? - Cho đến lúc phân
biệt lúc ấy nơi kia chẳng hiện ra. Lúc chưa đến thời phân
biệt thì đối với thời gian nầy lại vui nói. Sự thọ trì
kia thành chẳng hiện thật. Nếu lúc ấy chẳng làm sự phân
biệt thì niệm niệm chẳng hiện. Đối với hóa nhơn thì
không có đời sống. Và đồ ăn uống cũng hóa hiện ra. Việc
ấy thay đổi các trí. Trở thành 9 việc. Việc lớn việc
nhỏ chẳng thể nói đến việc nào. Ngay cả việc quá khứ,
việc của vị lai và việc của hiện tại. Ngay cả việc trong,
việc ngoài cũng như cả việc trong lẫn việc ngoài.
Hỏi
rằng: Thiên nhĩ do ai khởi lên và vì sao mà khởi?
Đáp
rằng: Tất cả có 8 cách vào. Hai lần vào kia là đối với
đệ tứ thiền được tự tại. Từ tự tánh của tai sẽ
khởi lên cảnh giới của Thiên Nhĩ. Lại nói rằng: Vì sao
sắc giới đối với Tứ Thiền được tự tại? Ở đây có
thể khởi lên. Lại cũng nói đối với đệ tứ thiền lại
cũng khởi.
Hỏi
rằng: Vì sao lại làm cho khởi lên?
Đáp
rằng: Đối với người mới bắt đầu ngồi thiền như thế
tu Tứ Như Ý Túc và dùng tâm để được tự tại. Nhập vào
đệ tứ thiền rồi an tường mà xuất. Rồi lần lượt nương
vào tự tánh của nhĩ giới; hoặc âm thanh xa tác ý về tướng
nghe; hoặc âm thanh gần tác ý theo tướng nghe.Nếu tiênglớn
thì tác ý theo tướng của âm thanh lớn. Nếu âm thanh nhỏ,
tác ý theo tướng của âm thanh nhỏ. Nếu âm thanh ở phía
đông thì tác ý theo tướng của âm thanh đó. Như thế đối
với tất cả nơi. Với kẻ tọa thiền kia là người tu hành,
tâm sẽ thanh tịnh trong sáng. Vì nhĩ giới thanh tịnh, làm
cho tâm kia tăng trưởng. Kẻ tọa thiền kia lấy thiên nhĩ
giới thanh tịnh để qua lỗ tai người đó nghe cả 2 âm thanh.
Cho nên có tiếng chư thiên và tiếng người. Hoặc xa hoặc
gần. Điều nầy như đã được dạy. Kẻ mới tọa thiền
đầu tiên nghe tiếng nơi tự thân của chúng sanh. Rồi từ
đây lại nghe tiếng bên ngoài thân của chúng sanh. Rồi từ
đây lại nghe tiếng nương vào nơi trụ xứ của chúng sanh.
Như thế tác ý lần lượt tăng trưởng. Lại nói kẻ mới
ngồi thiền chẳng thể trước đó nghe được tiếng của
tự thân chúng sanh như vậy. Vì sao thế? - Vì chẳng thể nghe
tiếng nhỏ, dùng tự tánh của lỗ tai chứ chẳng phải cảnh
giới nầy. Người mới tọa thiền nghe được tiếng xa xa
của ốc tù-và và tiếng trống v.v... Âm thanh kia nương vào
nơi tự tánh của lỗ tai. Dùng thiên nhĩ trí nên tác ý với
tướng của âm thanh. Làm cho khởi lên thiên nhĩ trí. Hoặc
âm thanh nhỏ; hoặc âm thanh lớn; hoặc âm thanh xa; hoặc âm
thanh gần. Chỉ có thiên nhĩ mới thuận tai. Đối với kẻ
sơ thiền chẳng nên tác ý đối với việc quá sợ. Vì sao
thế? - Đối với âm thanh dễ nghe thì nên nói theo ái dục
và đối với âm thanh sợ hãi thì nên nói với lỗ tai sợ
và trí lo. Việc kia trở thành 3 việc. Việc nhỏ trong hiện
tại và việc ngoài việc. Nếu mất tự tánh của lỗ tai thì
thiên nhĩ giới lại cũng mất. Đối với đây được nghe
âm thanh tự tại. Nghe âm thanh cả ngàn thế giới. Từ đó
Duyên Giác chẳng xa và Như Lai nghe rõ số.
Hỏi
rằng: Tha tâm trí kia ai có thể khởi lên và vì sao lại khởi
lên?
Đáp
rằng: Ánh sáng tất cả vào đây và đối với đệ tứ thiền
thì được tự tại. Được thiên nhãn và khởi tha tâm trí.
Vì
sao nên khởi vậy?
Kẻ
mới tọa thiền như thế tu Tứ Như Ý Túc, dùng tâm được
tự tại ấy thanh tịnh trong sáng chẳng động nhập vào tất
cả ánh sáng. Rồi từ nơi đệ tứ thiền an tường mà xuất.
Từ chỗ đầu tiên dùng ánh sáng làm cho đầy khắp thân mình.
Dùng thiên nhãn để thấy cảnh sắc của chính tâm ý nầy.
Ở đây nương vào hình tướng của ý thức mà khởi, như
thế mà biết. Dùng tự tâm thay đổi thì thấy sắc thay đổi.
Sắc nầy từ hỷ căn khởi lên. Sắc nầy từ ưu căn mà khởi
lên. Sắc nầy từ xả căn mà khởi lên. Nếu cùng với hỷ
căn đồng khởi lên nơi tâm thì hình tướng của ý như màu
của ván sữa. Nếu cùng với ưu căn mà khởi lên tâm thì
sắc ấy trở thành màu tím. Nếu cùng xả căn mà tương ưng
khởi lên thì sắc ấy thành mật ngọt. Nếu cùng với tâm
ái dục mà tương ưng khởi lên thì trở thành sắc vàng. Nếu
cùng với tâm sân nhuế tương ưng khởi lên thì trở thành
màu đen. Nếu cùng với tâm vô minh khởi lên thì sẽ trở
thành màu dơ nhớp. Nếu cùng với tâm tin tưởng tương ưng
và trí tương ưng khởi lên thì sẽ trở thành màu xanh. Kẻ
tọa thiền kia như thế lấy tự thân mình thay đổi. Phân
biệt sắc biến. Lúc ấy dùng ánh sáng làm cho tràn đầy khắp
thân kia. Dùng thiên nhãn để thấy tha tâm ý sắc. Kẻ kia
dùng tâm biến để phân biệt sắc biến. Lấy sắc biến phân
biệt tâm biến. Như thế phân biệt khởi lên nơi tha tâm trí
rồi, lại khởi lên tha tâm trí, ngoại trừ sắc biến phân
biệt. Tuy giữ việc làm của tâm. Kẻ tọa thiền kia như thế
lấy sự tu hành và tâm được thanh tịnh trong sạch. Hoặc
có tâm trí yêu thích; hoặc chẳng có tâm trí yêu thích. Nếu
có tâm trí sân nhuế thì có tâm sân nhuế. Nếu chẳng có
tâm trí sân nhuế, thì không có tâm sân nhuế. Như thế tất
cả có thể biết tha tâm trí vậy. Đây gọi là có 8 việc.
Việc nhỏ, việc lớn, việc đạo, việc vô lượng, việc
quá khứ, việc vị lai, việc hiện tại, việc ngoài. Tâm vô
lậu kia chẳng phải là cảnh giới của phàm phu. Sẽ sanh vào
tâm của chúng sanh nơi Vô Sắc Xứ. Chỉ cảnh giới Phật;
nếu nghe âm thanh được tự tại thì biết tâm của một ngàn
thế giới. Từ đây Duyên Giác không xa. Đức Như Lai không
thể kể xiết.
Hỏi
rằng: Nhớ về Túc mệnh trí ai có thể khởi?
Đáp
rằng: 8 loại có thể vào và hai loại có thể vào. Đối với
đệ tứ thiền, tâm được tự tại. Từ đây có thể khởi
lên nhớ lại Túc mạng trí.
Hỏi
rằng: Lại nói vì sao nơi sắc giới?
Đáp
rằng: Đối với đệ tứ thiền tâm được tự tại và từ
đây mà khởi.
Hỏi
rằng: Lại nói đối với đệ tứ thiền được khởi lên
bao nhiêu loại nhớ về Túc mệnh?
Đáp
rằng: Có 3 loại ức túc mệnh. Một là đa trì sanh; hai là
sanh sở tạo và ba là tu hành sở thành. Đối với đa trì
sanh dùng tứ hạnh để nhớ về túc mệnh trí. Lấy tướng
lành kia vậy. Thấy tướng kia phân biệt vậy. Các căn rõ
ràng vậy. Nhiếp phục tánh kia vậy. Đây là 4 việc làm của
đa trì sanh, nhớ về túc mệnh. Chư thiên, các loài rồng,
phượng hoàng. Dùng chỗ sanh thành nầy mà nhớ lại đời
trước. Cao hơn nữa nhớ đến 14 đời trước. Tu hành thành
tựu là Tứ Như Ý Túc.
Hỏi
rằng: Vì sao nên khởi lên chỗ nhớ nghĩ về đời trước?
Đáp
rằng: Kẻ mới tọa thiền như thế tu Tứ Như Ý Túc lấy
lòng tự tin để được tự tại. Sự thanh tịnh trong sáng
cho đến chỗ bất động. Từ chỗ ngồi trong hiện tại, lấy
mỗi một ngày tạo ra việc làm; hoặc dùng thân; hoặc dùng
ý; hoặc dùng miệng để nhớ nghĩ lại tất cả việc. Cứ
như thế hằng đêm rồi một ngày hai ngày, lần lượt mãi
cho đến một tháng nhớ nghĩ tất cả mọi việc. Rồi đến
2 tháng cũng như thế, hay nhẫn đến một năm cũng vậy. Rồi
2 năm, 3 năm cho đến trăm năm hoặc cho đến khi sanh ra lần
đầu v.v... đều nhớ nghĩ tất cả những việc cũ. Lúc bấy
giờ từ xa xưa tâm quá khứ và tâm số pháp đã được sinh
ra và tâm, tâm số pháp hiện đang sinh ra nương vào tâm đầu
tiên và tâm số pháp mà được sanh, rồi dùng tâm ấy tương
tục sanh. Nên quán về nhân duyên hiện tại, nhớ nghĩ về
thức lưu chuyển, cả hai đầy đủ chẳng gián đoạn. Đối
với việc sanh ra trong đời nầy, đối với việc sanh ra trong
đời khác, kẻ tọa thiền kia như thế lấy tâm tu hành thanh
tịnh trong sáng nhớ lại đời trước chẳng thiếu một loại
nào. Cứ như vậy cho đến một đời, hai đời, ba đời, bốn
đời v.v... Đó là tất cả mà kẻ mới ngồi thiền đối
với kiếp sống nầy hồi nhớ lại tất cả. Nếu kẻ tọa
thiền kia chẳng nhớ lại được đời sống kia thì kẻ kia
chẳng nên rời bỏ sự siêng năng mà phải chăm chú vào thiền
định và khi thiền được tốt đẹp thì sẽ được tự tại.
Như pháp soi gương khi tốt đẹp sẽ được tự tại. Trong
hiện tại nhớ lại như lần đầu thì đối với kẻ kia trở
thành sự nhớ nghĩ. Nếu từ một đời thì sự ra khỏi của
tâm kia trở thành sự hồi tưởng. Khi quá an vui rồi thì thấy
phương tiện, chẳng thể nhớ lại kiếp sống của súc sanh,
lại cũng chẳng nhớ lại được sanh nơi vô sắc hay sanh nơi
vô tưởng cũng như tánh của vô tưởng vậy. Bảy loại lớn
nhỏ chẳng nên nói về quá khứ trong ngoài. Trong ngoài ấy
đối với quá khứ nầy là chỗ chứng được đạo quả.
Hoặc quốc gia; hoặc thôn ấp cũng sẽ nhớ lại.Sự nhớ
nghĩ kia trở thành sự hồi tưởng về quá khứ và nhớ lại
trí tuệ ở đời trước. Từ trí ấy nhớ lại những sự
u tối liên tục. Nhớ về trí tuệ đời trước và từ đây
nhớ lại 40 kiếp của ngoại đạo. Qua khỏi kia, chẳng thế
nhớ nghĩ nữa. Vì thân không còn khả năng nữa. Riêng bậc
Thánh Thanh Văn thì nhớ lại được 10.000 kiếp. Từ đây trở
thành bậc Đại Thanh Văn. Rồi từ đó trở thành bậc Đại
Duyên Giác và từ đó trở thành Như Lai Chánh Biến Tri. Tự
chính kẻ kia nhớ lại những việc làm của đời trước và
ở tất cả mọi nơi. Duy chỉ trừ sự nhớ nghĩ về chính
đời trước của mình. Ít nhớ lại với đời trước kia
thì Đức Chánh Biến Giác tùy theo đó mà làm cho vui nhớ lại
tất cả. Ngoài ra lần lượt nhớ lại. Đức Chánh Biến Giác
hoặc đã nhập vào Tam Muội; hay chẳng nhập vào Tam Muội.
Nếu chẳng nhập vào Tam Muội thì thường hay nhớ lại. Ngoài
ra chỉ có việc nhập Tam Muội.
Hỏi
rằng: Thiên nhãn do ai khởi? Có bao nhiêu loại thiên nhãn và
vì sao có thể khởi Thiên Nhãn?
Đáp
rằng: Ánh sáng ấy có 9 thứ. Hoặc ánh sáng ấy có 5; hoặc
ánh sáng ấy gồm tất cả mọi việc. Đối với đệ tứ
thiền được tự tại có được nhãn tánh thì từ đây có
thể khởi lên được.
Có
bao nhiêu loại thiên nhãn?
Đáp
rằng: Có 2 loại thiên nhãn do nghiệp quả báo mà thành hoặc
do tu hành mà thành. Đối với Điển Tạng Thiên Nhãn là do
từ quả báo mà thành. Đây là do thấy được bảo tạng;
hoặc có của quý; hoặc không có của quý. Do tu hành mà thành
nghĩa là tu hành phép Tứ Như Ý Túc.
Vì
sao có thể khởi lên Thiên Nhãn?
Kẻ
mới tọa thiền cứ như thế mà tu theo Tứ Như Ý Túc, dùng
tâm được tự tại thanh tịnh trong sáng cho đến chỗ bất
động. Tất cả ánh sáng nhập vào và khi nhập đệ tứ thiền
tác ý tưởng đến ánh sáng và thọ trì tưởng đến hằng
ngày hằng đêm cũng như ngày, ngày cũng như đêm. Dùng tâm
vô ngại chẳng dính mắc và thực hiện tu hành để tâm ấy
thành ra có ánh sáng. Kẻ tọa thiền kia tu hành tâm nầy sẽ
trở thành ánh sáng; chẳng có trở ngại cản ngăn, ánh sáng,
suốt ngày. Kẻ tọa thiền kia, tâm tu hành như thế lấy ánh
sáng làm cho đầy khắp cả bên trong, tác ý về hình tướng,
dùng trí để làm cho đầy đủ ánh sáng. Đó chưa phải là
Thiên Nhãn mà lấy trí thấy được bên trong màu sắc của
ánh sáng thì đây mới chính là Thiên Nhãn. Kẻ tọa thiền
kia dùng Thiên Nhãn thanh tịnh ấy hơn cả mắt người, thấy
chúng sanh hoặc sanh; hoặc chết; hoặc thô; hoặc diệu; hoặc
hình dáng tốt; hoặc hình dáng xấu. Sanh nơi đường lành,
sanh nơi đường ác do nghiệp đã tạo ra. Như thế tất cả
chúng sanh đối với điều nầy mới có thể khởi lên Thiên
Nhãn được.
Phiền
não nầy kẻ kia nên đoạn. Cho nên sự nghi chẳng thể nhớ
lại chơn chánh, giải đãi, nghỉ nghỉ, tà mạng, hỷ, ác
khẩu, bịnh hoạn, siêng năng, trì hoãn siêng năng; hoặc nhớ
nghĩ về nhiều loại ngôn ngữ rồi quán xem về màu sắc.
Phiền não nầy lấy mỗi mỗi thứ nầy để thành tựu. Nếu
làm cho khởi lên Thiên Nhãn thì sự định nầy sẽ thoái lui.
Nếu định nầy thoái thì ánh sáng cũng sẽ mất đi. Việc
thấy màu sắc cũng sẽ mất. Cho nên phiền não kia mau mau nên
đoạn. Nếu đã đoạn phiền não nầy rồi mà lại chẳng
được định tự tại thì lấy sự chẳng tự tại ấy thành
Tiểu Thiên Nhãn. Kẻ tọa thiền kia dùng Tiểu Thiên Nhãn ấy
để biết Tiểu Quang Minh. Thấy màu sắc cũng nhỏ. Cho nên
Đức Thế Tôn nói: Lúc ấy ta vào định nhỏ, lúc ấy ta có
mắt nhỏ, ta dùng mắt nhỏ ấy để biết ánh sáng nhỏ. Khi
ta thấy ánh sáng nhỏ thì lúc ấy ta có vô lượng Tam Muội,
lúc ấy ta có vô lượng Thiên Nhãn. Ta dùng vô lượng Thiên
Nhãn nầy ta biết vô lượng quang minh, ta thấy vô lượng màu
sắc. Đối với người tọa thiền nầy chẳng phải yêu màu
sắc, chẳng phải sợ màu sắc như ban đầu đã nói về 5
loại Thiên Nhãn. Đó là việc nhỏ, việc hiện tại, việc
trong, việc ngoài, việc trong ngoài. Nương vào Thiên Nhãn để
sanh Tứ Trí. Vị lai phần trí. Tự sở tác nghiệp trí, như
hành nghiệp trí và nghiệp quả báo trí. Đối với đây dùng
vị lai phần trí. Đối với vị lai thần sắc, sẽ khởi lên
trí. Dùng tự sở tác nghiệp trí sẽ thấy được chỗ tạo
nghiệp của người khác. Lấy nghiệp nầy của người nầy
sẽ sanh quả cõi kia. Dùng như hành nghiệp trí thấy đời
sống ở cõi người. Lấy nghiệp nầy và người nầy mà biết
được kiếp sống ở đời trước. Dùng nghiệp quả báo trí
để rõ biết lúc và nơi chốn, cho đến phiền não và cho
đến phương tiện. Khi nghiệp nầy chín muồi rồi hay nghiệp
chưa chín muồi. Nghiệp nầy thọ nhiều hay thọ ít đều biết.
Đối với Thanh Văn được tự tại, thấy được một ngàn
cõi của thế gian. Từ đây là chỗ thấy của bậc Duyên Giác
mà Như Lai đã thấy vô lượng.
Ở
đây bàn rộng về việc dùng Thiên Nhãn để thấy sắc. Đối
với một loại tu hành định, tuy thấy sắc nhưng chẳng phải
Thanh Văn. Nếu dùng Thiên Nhĩ để nghe âm thanh thì đối với
một loại tu hành định,duy chỉ Thanh Văn chẳng thấy sắc.
Nếu vì thấy nghe cả hai đầy đủ tu hành định. Lại cũng
thấy lại cũng nghe. Nếu vì thấy nghe mà biết được tâm
kia thì sự tu hành nơi định lại cũng thấy nghe và biết
tâm kia. Nếu chỉ thấy một bên, tu hành nơi định thì chẳng
phải là cách thấy. Chẳng nghe chẳng biết tâm kia. Nếu chẳng
ít tu hành nơi định thì đối với tất cả nơi lại thấy
lại nghe, lại biết được tâm kia. Ngũ thần thông, thế gian
thần thông, hữu lậu sắc giới trói buộc chung với phàm
phu. Nếu là Thiện Thần Thông thì kẻ có học và phàm phu
hoặc cùng với A La Hán thành Vô Ký thần thông. Ngũ Thần
Thông chẳng phải sanh nơi vô sắc giới.
Phẩm
Phân Biệt Huệ thứ 10
Hỏi
rằng: Vì sao gọi là huệ? Tướng nào? Vị nào? Khởi lên
cái gì? Xứ nào? Công đức gì? Huệ ấy nghĩa là gì? Có bao
nhiêu công đức để được bát nhã? Có bao nhiêu loại bát
nhã?
Đáp
rằng: Việc của ý, việc của thấy. Đây có nghĩa là Bát
Nhã. Lại nữa tác ý làm cho lợi lạc hay chẳng lợi lạc,
tác ý trang nghiêm. Đây nghĩa là Bát Nhã. Như trong A Tỳ Đàm
nói: Sao gọi là Bát Nhã? - Bát Nhã nghĩa là huệ, nghĩa là
trí, nghĩa là chọn pháp môn rồi tùy theo tướng tốt mà quán
và sự quán ấy thông minh rõ ràng phân biệt, tư duy để thấy
dễ dàng và ngộ được chánh trí. Huệ câu, huệ căn, huệ
lực, huệ trượng, huệ điện, huệ quang, huệ minh, huệ đăng,
huệ bảo. Chẳng ngu si nên chọn pháp một cách chánh kiến.
Đây có nghĩa là Bát Nhã. Lấy sự đạt được làm tướng.Lấy
sự chọn lựa làm vị. Lấy sự ngu si mà khởi. Dùng Tứ Đế
làm nơi chốn. Lại nữa rõ biết ánh sáng làm tướng. Nhập
chánh pháp làm vị. Dùng trừ vô minh tối tăm mà khởi, lấy
trí biện tài làm xứ. Có công đức gì? - Bát Nhã có vô lượng
công đức. Hãy nghe sơ lược qua kệ sau đây:
Dùng
huệ tịnh các giới
Vào
thiền lại hai huệ
Dùng
huệ tu các đường
Dùng
huệ thấy quả kia
Bát
Nhã là hơn cả
Huệ
căn chẳng hơn trên
Huệ
lùi làm ô uế
Huệ
tăng trưởng cao thượng
Huệ
phá các luận ngoài
Chẳng
đời đến đắm trước
Có
huệ người thật lành
Huệ
nói ngôn ngữ lành
Đời
nầy và đời khác
Giải
thoát nghe niềm vui
Các
nghĩa cùng tinh tấn
Dũng
mãnh người có huệ
Nếu
thấy các pháp nầy
Nhơn
duyên cùng ngôn ngữ
Giáo
huấn và danh sắc
Kia
chính lời Tứ Đế
Đó
có cảnh giới huệ
Dùng
huệ trừ việc ác
Yêu
sân nhuế vô minh
Dùng
huệ trừ sanh tử
Trừ
việc chẳng thể trừ.
Hỏi
rằng: Huệ nghĩa là gì?
Đáp
rằng: Huệ có nghĩa là thuộc về trí vậy.. Cũng có nghĩa
là năng trừ.
Có
bao nhiêu loại công đức để được huệ?
Có
11 công đức. Đó là tìm tòi tu học nghĩa của kinh, nhiều
việc lành, ở nơi thanh tịnh, ngồi thiền, Tứ Đế, làm việc
rõ ràng, tâm thường hay dừng chỗ thiền định,tâm không
bị che đậy, lìa xa người không có trí tuệ, cùng với người
có trí tuệ vui sống.
Có
bao nhiêu loại trí tuệ?
Có
hai loại, ba loại và bốn loại.
Hỏi
rằng: Vì sao có 2 loại huệ?
Đáp
rằng: Đó là thế gian huệ và xuất thế gian huệ. Đối với
các bậc Thánh quả tương ưng huệ thì đó là huệ xuất thế
gian; ngoài ra là thế gian. Thế gian huệ nghĩa là có giới
hạn, có nối kết, có bó buộc, có lưu chuyển. Đây là cái
trục quay, là sự che khuất, là chỗ dính mắc, là chỗ khởi,
là phiền não.
Xuất
thế gian huệ nghĩa là không có giới hạn, không nối kết,
không bị bó buộc, không lưu chuyển, không bị quay cuồng,
không bị che khuất, không dính mắc, chẳng phải nơi chốn
và không có phiền não.
Ba
loại huệ nghĩa là: Tư huệ, văn huệ và tu huệ. Đối với
việc nầy chẳng phải từ kia nghe; hoặc tự tạo nghiệp trí;
hoặc được tùy đế tương ưng trí, đối với công xảo
minh. Đây chính là tư huệ. Đối với nơi nầy từ kia nghe
mà được huệ. Đây gọi là văn huệ. Nếu nhập Tam Muội
thì huệ kia phải tu. Đây gọi là tu huệ.
Lại
nữa ba loại huệ đến rõ ràng, đi rõ ràng và phương tiện
cũng rõ ràng mà thị hiện tác ý. Điều nầy nếu không là
pháp lành sẽ thành thoái và nếu là pháp lành, sẽ trở nên
tăng trưởng. Đối với huệ nầy đây chính là sự đến
rõ ràng. Lại tác ý điều nầy chẳng phải pháp lành tăng
trưởng. Thiện pháp ấy thoái lui. Đối với huệ nầy đây
là sự đi rõ ràng. Đối với đây, là tất cả phương tiện
huệ. Đây nghĩa là phương tiện rõ ràng.
Lại
nữa có 3 loại huệ. Đó là Tụ huệ, bất tụ huệ và phi
tụ phi phi tụ huệ. Đây là Tam Địa Thiện Huệ. Đây là
Tụ Huệ. Đối với Tứ Đạo Huệ, đây nghĩa là bất tụ
huệ. Đối với Tứ Địa và quả báo, đối với Tam Địa
có Ký Huệ. Đây nghĩa là Phi Tụ phi phi tụ huệ.
Bốn
loại huệ nghĩa là: Tự tác nghiệp trí, tùy đế tương ưng
trí, đạo đẳng phần trí, quả đẳng phần trí. Đối với
đây là thập xứ, chánh kiến. Đây nghĩa là tự tác nghiệp
trí. Nếu thấy tối, hoặc vô thường, hoặc khổ, hoặc vô
ngã, như thế nhẫn tương tợ. Đây gọi là Tùy Đế Tương
Trợ Trí. Đối với Tứ Đạo Huệ, đây gọi là Đạo Phần
Trí. Đối với Tứ Quả Huệ, đây gọi là Quả Đẳng Phần
Trí.
Lại
nữa bốn loại huệ gồm có: Dục giới huệ, sắc giới huệ,
vô sắc giới huệ và vô hệ huệ. Đối với dục giới lành
có Ký Huệ. Đây gọi là Dục Giới Huệ. Sắc giới lành có
Ký Huệ. Đây gọi là Sắc Giới Huệ. Vô sắc giới lành có
Ký Huệ. Đây gọi là Vô Sắc giới huệ. Đối với Đạo
Quả Huệ, đây gọi là Vô hệ huệ (huệ không bị trói buộc).
Lại
nữa có 4 loại huệ. Đó là Pháp trí, Tỷ trí, Tha tâm trí
và Đẳng trí. Đối với 4 con đường và đối với 4 quả
huệ thì đây gọi là Pháp Huệ. Kẻ tọa thiền kia dùng Pháp
trí nầy để thành tựu quá khứ vị lai hiện tại trí. Trong
quá khứ lâu dài cũng trí và vị lai lại cũng là trí. Đế
trí nầy gọi là Tỷ Trí. Trí tha tâm ấy gọi là Tha tâm trí.
Trừ 3 loại trí nầy, ngoài ra là huệ. Đây gọi là Đẳng
trí.
Lại
nữa cũng có 4 loại huệ. Đó là hữu huệ vi tụ phi vi phi
tụ; hữu huệ vi phi tụ phi vi tụ; hữu huệ vi tụ diệc vi
phi tụ; hữu huệ phi vi tụ phi phi vi tụ. Đối với Dục giới
thiện huệ là Huệ vi tụ phi bất vi tụ. Đối với tứ đạo
vi phi tụ bất vi tụ. Đối với sắc giới và vô sắc giới
thiện huệ thì đây là huệ vi tụ lại vi phi tụ. Đối với
Tứ Địa quả báo, đối với Tam Địa có Ký Huệ thì đây
là Huệ phi vi tụ, lại phi vi phi tụ.
Lại
có 4 loại huệ. Đó là huệ hữu vi xa lìa phi vi đạt; có
huệ vi đạt phi vi yểm hoạn; có huệ vi yểm hoạn lại vi
đạt. Có huệ bất vi yểm hoạn lại bất vi đạt. Đối với
huệ nầy là xa lìa dục, chẳng đạt được thần thông và
cũng chẳng thông đạt tứ đế. Đây gọi là huệ vi yểm
hoạn bất vi đạt. Hiện tại được chỗ xa lìa sự ham muốn,
dùng huệ đạt thần thông và không đạt Tứ Đế. Đây gọi
là Bát Nhã, vi đạt phi vi yểm hoạn. Đối với Tứ Đạo
huệ vi yểm hoạn lại vi đạt. Ngoài ra huệ phi vi yểm hoạn
lại phi vi đạt.
Lại
có 4 loại huệ. Đó là nghĩa biện, pháp biện, từ biện và
lạc thuyết biện. Đối với nghĩa trí thì đây gọi là Nghĩa
biện. Đối với pháp trí thì đây gọi là Pháp biện. Đối
với thuyết từ huệ thì đây gọi là Từ biện. Đối với
trí tri thì đây gọi là Lại thuyết biện. Đối với nhơn
quả biết nghĩa từ. Đối với nguyên nhơn rõ biết pháp biện.
Đối với pháp biện lạc thuyết biện. Đối với trí tri
thì vui nói từ. Lại nữa đối với khổ và diệt trí thì
đây gọi là nghĩa biện. Đối với Tập và đạo trí, thì
đây gọi là Pháp biện. Đối với thuyết pháp từ, thì đây
gọi là Từ Biện. Đối với Trí Tri thì đây gọi là Lạc
thuyết biện. Lại nữa kẻ biết pháp trong kinh văn gọi đây
là chỗ giải rõ những sự hiểu biết.
Bạt
Đà Già Xà Đa Già A Phù Đa Đạt Ma Bi Phất lược gọi đây
chính là Pháp từ. Biết kia và rõ nghĩa nầy thì đây là nghĩa
của chỗ nói pháp. Đây gọi là nghĩa biện. Thuyết pháp từ
trí; đây gọi là Từ Biện. Đối với trí tri, đây nghĩa
là Lạc thuyết biện.
Lại
nữa đối với nhãn trí thì đây gọi là pháp từ. Lấy nhãn
trí làm chỗ thấy. Đây nghĩa là Nghĩa Từ pháp từ trí, đây
gọi là Từ Biện. Đối với Trí Tri, đây nghĩa là Lạc thuyết
biện.
Lại
nữa có 4 loại huệ. Đó là khổ trí, khổ tập trí, khổ
diệt trí và đạo đẳng phần trí. Khổ tương ưng với trí
gọi là khổ trí. Tập tương ưng với trí gọi là tập trí.
Khổ diệt tu hành tương ưng với trí gọi là Cụ Túc trí,
đạo trí.
Luận
Về Con Đường Giải Thoát
Hết
quyển Chín
Lần
cập nhật cuối ( ngày 15, tháng 02, năm 2007 )