12.
PHỤ
LỤC VỀ ĐẠI SƯ THIỆN ĐẠO
VÀ
NGHỆ THUẬT TỊNH ĐỘ
Nguyên
tác: Trúc Tích
Việt
dịch: Thích Hạnh Minh
I.
Dẫn Nhập
Tháng
10 năm thứ 2 niên hiệu Quang Hòa đời vua Linh Đế nhà Hậu
Hán (năm 179 TL), ngài Chi-lâu-ca-sấm và ngài Trúc Phật Sóc
cùng ở tại thành Lạc Dương, dịch kinh Bát-chu tam-muội.
Khoảng từ đầu niên hiệu Hoàng Vũ đến niên hiệu Kiến
Hưng nhà Ngô (222–252 TL), ngài Chi Khiêm ở Kiến Khang dịch
kinh Đại A-di-đà gồm hai quyển. Hai bộ kinh trên là sự mở
đầu cho quá trình Hán dịch giáo điển Tịnh độ, là suối
nguồn của tín ngưỡng Tịnh độ lưu truyền suốt 1700 năm
nay.
Từ
thời Ngụy, Tấn về sau, ngoài việc nhân tâm sĩ phu Trung Nguyên
rối loạn, bên cạnh đó Chu dịch của Lão, Trang xem ra mọi
người cũng chán ngán rồi, đột nhiên trông thấy ánh sáng
từ bi của Phật giáo chói lọi ở đó, vì vậy ước vọng
về cuộc sống thăng hoa nơi thế giới cực lạc và việc
tìm cầu sinh mạng mới lại theo đó mà phát khởi! Từ đó,
thế giới quan liên hoa của “sự thác sanh nơi hoa báu, vĩnh
viễn xa lìa uế chất” chính thức trở thành cảnh giới
tâm linh u tịch sâu lắng của mọi người đương thời.
Vào
đầu đời vua Vũ Đế nhà Tây Tấn (265- 274 TL), có Khuyết
Công Tắc là một danh sĩ ở huyện Cấp tỉnh Giang Nam và môn
nhân của ông là Vệ Sĩ Độ, đều là những người đầu
tiên tuyên dương giáo nghĩa trong hệ thống kinh điển Di-đà,
đề xướng tín ngưỡng Tịnh độ, cổ xúy tư tuởng vãng
sanh Tây phương. Tiếp đó, ngài Trúc Pháp Khoáng và ngài Chi
Đạo Lâm lần lược cùng nhau ra đời, hoằng dương Tịnh
độ ở các vùng thuộc đông nam, danh tiếng vang dội khắp
nơi, rất có năng lực cải hóa những phong tục tập quán
của quần chúng nhân dân. Vào đầu đời Đông Tấn, ngài
Huệ Viễn ở Lô Sơn là bậc Đại thừa thạc học được
khắp thiên hạ trọng vọng, quy tụ các bậc ẩn sĩ như: Lưu
Di Dân, Lôi Thứ Tông v.v… kết thành Liên xã tại chùa Đông
Lâm, cùng nhau kỳ nguyện vãng sanh miền Tịnh độ. Sau đó,
sự giáo hóa rộng lớn dần dần thâm nhập dân gian, đến
khoảng thời Tùy, Đường thì hầu như không nơi đâu không
thấm nhuần trong bầu không khí của hình thức tín ngưỡng
này! Đọc bia ký về việc tạo tượng được phát hiện trong
thời cận đại, chúng ta có thể gián tiếp thấy được tình
hình hưng thịnh của tín ngưỡng này vào lúc bấy giờ.
Trong trước thuật của các bậc cổ đức, mặc dù về giáo
lý có đôi chút bất đồng nhưng chỗ quy hướng của tín
tâm thì hoàn toàn không sai khác. Thí như đại sư Gia Tường
Cát Tạng là bậc kế thừa tư tưởng Bát-nhã của Bồ-tát
Long Thọ, đại sư Từ Ân Khuy Cơ là người thừa tiếp học
phái Du-già của Bồ-tát Di-lặc; một bên bàn luận về Chơn
không, một bên tuyên bày về Diệu hữu, học phong khác nhau
rõ rệt như xứ Hồ và xứ Việt nhưng sâu thẳm bên trong
tâm khảm thì đều hướng về Tịnh độ.
Ngoài
ra, như Tam tạng Từ Mẫn Huệ Nhật v.v… còn lập nên nhiều
cứ địa quan trọng cho tông này. Đại sư Thiện Đạo sanh
ra nhằm lúc cao trào tín ngưỡng này đang phát triển rầm
rộ. Bẩm tính vốn sẵn có thiên tài về văn học và nghệ
thuật nhưng ngài hoàn toàn không đứng biệt lập với xã
hội hoặc tự cao tự đại, và cũng không sống theo kiểu
phong lưu tài tử hay phóng đãng thân hình; trái lại, ngài
đem hết tinh lực trọn đời cống hiến cho lý tưởng tôn
giáo, cầu mong cho thế giới trở nên thuần khiết như hoa
sen, chúng sanh đều được thanh tịnh an vui. Niềm hy vọng
của ngài cùng với các đại sư Hiểu Nhiên, Hàn Sơn, Thập
Đắc, Thiền Nguyệt, Mục Khê, Thạch Đào, Thạch Khác, Tâm
Việt Mộc Am, Bát Chỉ Đầu Đà, Mạn Thù v.v… nếu chỉ
dựa vào đức hạnh để suy lường thì không những có phần
thiên phú mà quả thật hoàn toàn không có cách gì có thể
luận bàn so sánh được!
II.
Sự Tích Về Đại Sư
Đại
sư pháp danh là Thiện Đạo, người huyện Tứ Châu tỉnh An
Huy (một thuyết khác cho là huyện Lâm Truy tỉnh Sơn Đông).
Ngài sinh vào năm thứ 9 niên hiệu Đại Nghiệp nhà Tùy, xuất
gia từ nhỏ, nhân vô tình thấy được cảnh biến tướng
Tây phương, lòng vô cùng cảm động, bèn phát nguyện vãng
sanh Tịnh độ. Năm 20 tuổi, sau khi thọ giới cụ túc, ngài
và luật sư Diệu Khai cùng nhau đọc kinh Quán vô lượng thọ,
tự nhận thấy chỉ có pháp môn Quán niệm này mới có thể
giải quyết được vấn đề sanh tử. Vào niên hiệu Trinh
Quán nhà Đường, ngài đến Tịnh Châu (thuộc huyện Dương
Khúc tỉnh Sơn Tây) yết kiến ngài Đạo Xước, cầu học
tất cả các pháp môn niệm Phật vãng sanh. Không lâu sau, ngài
đến Trường An giáo hóa dân chúng, chép kinh A-di-đà số đến
vài muôn quyển, vẽ 300 bức biến tướng Cực lạc. Ban đầu
ngài chấn tích trú tại chùa Ngộ Chân núi Chung Nam, chùa này
do Sa-môn Tịnh Nghiệp xây dựng vào niên hiệu Khai Hoàng nhà
Tùy. Đồng thời ngài cũng đến chùa Quang Minh thuyết pháp,
chùa này tọa lạc tại phường Hoài Viễn trong thành Trường
An. Từ năm thứ 3 niên hiệu Hàm Hanh đến năm thứ 2 niên
hiệu Thượng Nguyên đời vua Cao Tông nhà Đường (672-675 TL),
ngài xây dựng điện thờ tượng đức Đại Lô-xá-na ở chùa
Phụng Tiên tại Long Môn và ngài là người trực tiếp giám
sát quá trình thi công công trình đó. Đến cuối đời, ngài
trở về Trường An trú tại chùa Thật Tế và chỉ đạo xây
dựng công trình hệ thống hang động ở chùa Phụng Tiên tại
Long Môn.
Trên
đây là những sự kiện liên quan đến sự nghiệp hoằng hóa
của đại sư tại Đông Kinh và Tây Kinh. Sau đó, đệ tử
của ngài là ngài Trinh Cố, trước khi sang Ấn Độ lưu học,
từng đến Tương Dương cầu học thắng hạnh của đức Phật
A-di-đà, là nguồn mạch của chân giáo tại tỉnh Hồ Bắc
suốt từ xưa đến nay.
Đại
sư giữ gìn cấm giới thanh tịnh, tâm không màng đến công
danh lợi lộc, kỷ luật tự thân nghiêm ngặt, khoan thứ bao
dung với mọi người. Trong bài tựa văn bia do đại pháp sư
Long Xiển chép: “Cây Từ trang nghiêm, hoa Bi rực rỡ”. Từ
đó có thể hình dung được tác phong đạo hạnh của ngài,
hơn nữa lòng tin của ngài vô cùng chân thành tha thiết nên
rất đông nam nữ, đạo tục tiếp nhận sự cảm hóa của
ngài mà quy hướng về Tịnh độ. Trong số đó, vì không kiềm
chế được niềm hân hoan vui sướng nên thậm chí có người
đã xả thân để cầu vãng sanh! Lại cũng có người đến
chùa Quang Minh gặp ngài, sau khi thọ giáo, được lòng tin kiên
cố bèn leo lên cây liễu trước chùa rồi nhảy xuống tự
vẫn vì đạo! Đây là những điều do chính luật sư Đạo
Tuyên – một chứng nhân đương thời nghe được mà chép
lại trong Tục cao tăng truyện.
Theo
Tân tu vãng sanh truyện chép: “Tăng ni, nam nữ tại gia ở
Châu Hoa và Châu Kinh, người thì leo lên đỉnh núi cao tự
gieo mình xuống, người thì trầm mình nơi suối thẳm, người
thì nhảy xuống từ cây cao, người thì thiêu thân cúng dường
v.v… cả thảy trên trăm người”. Ký sự này tuy có phần
khuếch đại song có thể giúp ta thấy được năng lực cảm
hóa vĩ đại của ngài.
Đại sư thị tịch nhằm ngày 14 tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu
Vĩnh Long đời vua Cao Tông nhà Đường (682 TL), hưởng thọ
69 tuổi. Các đệ tử Hoài Uẩn v.v… an trí kim thân của ngài
tại Thần Hòa Nguyên thuộc nội thành Trường An, rồi cất
một ngôi Già-lam bên cạnh tháp của ngài, trồng các kỳ hoa
dị thảo, suốt bốn mùa cúng dường không ngớt. Những trước
thuật của ngài hiện còn được 6 bộ gồm 10 quyển lưu hành
ở đời.
III.
Biến Tướng Tịnh độ
1.Thuyết
khởi nguyên từ Tây vực.
Biến
tướng Tây phương Tịnh độ mà lúc nhỏ đại sư vô tình
trông thấy rồi dẫn đến hình thành tâm lý nguyện vãng sanh
là một loại biến tướng Tịnh độ được lưu truyền ở
đất Hán (Trung Quốc) trước khi Ngài ra đời. Trong quyển
6 thuộc tập đầu của Cao tăng truyện, ngài Thích Huệ Viễn
nói: “Tần chủ Diêu Hưng khâm phục uy đức cao thượng của
ngài, ban tặng cho Ngài biến tượng bằng lụa mịn của nước
Quy Tư (nay giữa Trung Á) để bày tỏ tấm lòng thành.” Tượng
và Tướng cũng đều là nghệ thuật biến tướng, như vậy
ít ra vào thời Đông Tấn, ở các nước Tây Vực (đặc biệt
là Quy Tư) đã rất thịnh hành. Mặc dù vào thời nào, do ai
truyền sang Trung Hoa vẫn chưa thể khảo chứng được, song
căn cứ theo quyển hạ của bản Giới châu truyện trong chùa
Chân Phước ở Đông Vực thì có đoạn chép: Thị nữ Long
Thị của hoàng hậu vua Tùy Văn Đế, noi theo gương hoàng hậu
phát nguyện vãng sanh Tịnh độ, tụng kinh A-di-đà và tự
tay thêu biến tướng Tịnh độ. Biến tướng mà lúc nhỏ
đại sư trông thấy có lẽ là thuộc loại này. Lại xem xét
trong số rất nhiều biến tướng Cực lạc Tịnh độ được
khai quật gần đây ở Đôn Hoàng thì hình dáng của chư Phật
và Bồ-tát rất giống với những nhân vật bích họa được
phát hiện tại vùng Quy Tư. Ba sự kiện chứng thực cho nhau
được nêu ra ở trên đủ để chứng minh về xuất xứ chung
của chúng.
2.
Vật chứng.
Gần đây, ngoài hàng loạt những bích họa được phát hiện
ở Đôn Hoàng bởi Tư-thản-nhân (A.stein) và Bá-hy-hòa (P. pelliot),
còn căn cứ theo học giả Đại Cốc Quang Thụy – người
Nhật Bản, trưởng đoàn thám hiểm Trung Á thì trong số những
tác phẩm khai quật được tại vùng Tân Cương có bản kinh
A-di-đà do ngài Thiện Đạo phát nguyện chép, và một phần
tựa đề của Quán kinh Mạn-đà-la có ghi niên hiệu của nhà
Đại Tấn. Như vậy, càng đủ cơ sở để chứng minh nguồn
gốc nghệ thuật Tịnh độ phát nguyên từ Trung Á, đại sư
Thiện Đạo chẳng qua là thừa tiếp theo làn sóng đó mà thôi.
3.
Thể loại và hình dáng.
Biến tướng Tịnh độ có rất nhiều loại khác nhau, dựa
vào hình thức sai khác của chúng, thông thường có thể phân
làm năm loại:
a.
Biến tướng Linh Sơn Tịnh độ.
Vẽ
theo sự trần thuật trong kinh Pháp hoa, miêu tả khung cảnh
đức Thích Tôn thuyết pháp tại Linh Sơn. Loại này có thể
phân thành hai kiểu:
- Dựa
theo phẩm Hiện bảo tháp họa nên quan cảnh hội Pháp hoa và
trạng thái xuất hiện của bảo tháp. Điển hình của loại
này thường gặp ở nghệ thuật điêu khắc Long Môn, những
di phẩm khai quật được tại Đôn Hoàng và tượng Phật Thích
Ca ngàn thể trên bản đồng tại chùa Trường Cốc ở Đông
Vực.
- Dựa
theo phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa vẽ nên cảnh đức
Thích Tôn thường ở tại Linh Sơn thuyết pháp và chư thiên
cung kính vây quanh cúng dường. Như bức tranh thêu miêu tả
cảnh đức Thích Tôn chuyển pháp luân được lưu giữ tại
chùa Khuyến Tu ở Đông Vực và biến tướng Linh Sơn Tịnh
độ được cất giữ tại Ba-sĩ-đốn (Boston) (nguyên được
an trí tại Pháp Hoa đường của chùa Đông Đại), là những
tác phẩm tiêu biểu còn lại thuộc loại này.
b.
Biến tướng Di-đà Tịnh độ.
Chủ
yếu là dựa theo kinh Quán vô lượng thọ để phác họa đồ
tướng ấy, được gọi là Tịnh độ Mạn-đà-la hoặc A-di-đà
Mạn-đà-la đồ, miêu tả bối cảnh quyến thuộc trang nghiêm
của thế giới Cực lạc.
c.
Biến tướng Dược Sư Tịnh độ.
Việc
chế tạo loại biến tướng Tịnh độ này ngày xưa có được
ghi chép, và hiện còn lưu lại một bức bích họa tại
chùa Pháp Long ở Đông Vực (Nhật Bản) nhưng hình thức rất
đơn giản, ngoài ra đều bị thất truyền. Trong những di phẩm
khai quật được tại Đôn Hoàng gần đây có hơn 20 loại,
trong những kinh điển biên chép ngày xưa được lưu giữ tại
Điền Trung Phong Tạng ở kinh đô Nhật Bản, có phác họa
biến tướng Tịnh độ như sau: Chính giữa bày trí một hình
Phật và hai hình Bồ-tát, phía sau là một tầng riêng và bốn
ghi chú để chế tạo, chính diện vẽ hai ngôi nhà có hai cây
cột lớn phía trước, còn ngay phía trước tượng Tam Tôn
thì vẽ hình một vị Bồ-tát đang nắm chéo áo nhảy múa,
hai bên vẽ hình các Bồ-tát dưới hình thức tam thể đang
tấu nhạc, xung quanh Tam Tôn và các vị Bồ-tát nhảy múa và
tấu nhạc thì để vách trơn, ở chính diện của trung ương
dựng bốn trụ tròn làm cổng.
d.
Biến tướng Di-lặc Tịnh độ.
Ở
đất Hán (Trung Quốc) không trông thấy loại biến tướng
này, tác phẩm còn lại đại biểu cho loại này chỉ có quần
thể tượng nặn bằng đất hiện được lưu giữ trong ngôi
tháp năm tầng tại chùa Pháp Long ở Đông Vực, tương truyền
chúng được chế tác tại chùa Hưng Phước vào năm thứ năm
niên hiệu Nguyên Chánh Dưỡng Lão (năm thứ 7 niên hiệu Khai
Nguyên, Huyền Tông). Ngoài ra còn có loại biến tướng Di-lặc
Tịnh độ giống với biến tướng Dược Sư Tịnh độ, Di-đà
Tịnh độ và Thích Ca Tịnh độ được kiến tạo vào năm
thứ hai niên hiệu Thiên Bình, ở phía bắc ngôi tháp năm tầng
của chùa Cai.
e.
Biến tướng Quan Âm Tịnh độ.
Biến
tướng này dựa theo sự trình bày về việc cứu giúp chúng
sanh thoát các ách nạn của Bồ-tát Quan Thế Âm trong kinh Pháp
thạch và phẩm Phổ môn mà vẽ nên. Chùa Ca-lăng-quật tại
Ấn Độ từng lưu giữ loại điêu khắc này và gần đây
người ta còn vẽ hình tướng 33 ứng hóa thân để cứu độ
chúng sanh của đức Quan Thế Âm lưu bố khắp nơi.
Ngoài
năm loại biến tướng Tịnh độ đã trình bày ở trên, còn
có loại “Mật giáo hóa biến tướng Tịnh độ”. Loại
này có hai hình thức:
- Quyển
thứ 15 của kinh Bất-không-sách-la thần biến chơn ngôn1 do
ngài Bồ-đề-lưu-chi người xứ Nam Thiên Trúc dịch vào năm
thứ ba, niên hiệu Cảnh Vân triều nhà Đường (712 TL), có
đoạn chép: “Viên Đàn (đàn tròn) ở cửa phía tây Đương
Đàn (đàn chính) rộng tám khuỷu tay, đế cao hai khuỷu tay,
theo đúng như pháp đồ mà vẽ, chỉ chừa một mình cửa phía
đông, chính giữa bày biện đủ các loại cờ, hoa thật trang
nghiêm và tôn trí biến tướng Tịnh độ Phật A-di-đà. Còn
Phương Đàn (đàn vuông) ở cửa phía bắc Đương Đàn cũng
rộng tám khuỷu tay, đế cao hai khuỷu tay, theo đúng như pháp
đồ mà vẽ, chỉ chừa cửa phía nam, trang hoàng đủ các thứ
cờ, hoa thật trang nghiêm và tôn trí biến tướng đức Tỳ-lô-giá-na,
đức Địa Tạng Bồ-tát, đức Di-lặc Bồ-tát, đức Bất
Không Phấn Nộ Vương”. Vào thời bấy giờ, các loại biến
tướng Tịnh độ đều được sát nhập vào trong Mật giáo,
chẳng qua là không còn dấu tích lưu lại mà thôi. Đồ tượng
sao của ngài Huệ Thập, một Tăng sĩ người Nhật, dựa theo
nghi quỷ (nghi thức) mà trình bày: chính giữa là đức Phật
A-di-đà, tám cánh xung quanh tôn trí tám vị đại Bồ-tát.
Tám vị đại Bồ-tát đó là Quán Tự Tại, Đại Thế Chí,
Hư Không Tạng, Phổ Hiền, Kim Cang Thủ, Văn Thù, Trừ Cái
Chướng và Địa Tạng.
- Chín
phẩm Mạn-trà-la do ngài Huệ Vận Tăng Đô người Nhật Bản
thỉnh về, đài giữa có tám cánh phô bày theo kiểu hoa sen,
trên đài hoa tôn trí hình đức Phật A-di-đà thượng phẩm
thượng sanh, tám cánh xung quanh tôn trí hình đức Phật A-di-đà
của tám phẩm còn lại. Bốn gốc nội viện có những bài
pháp ngữ khuyến hóa chúng sanh tu hành để đạt đến giải
thoát an vui. Viện thứ hai trang trí hình 12 Quang Phật, bốn
nhiếp, bốn ngoại cúng dường; viện thứ ba có hình 24 vị
Bồ-tát, tức mỗi phương gồm 6 vị, tổng cộng thành 24 tôn
tượng, lại thêm một vị Bồ-tát ở nội viện nữa thành
ra 25 tôn tượng.
4.
Sự diễn tiến của cấu trúc biến tướng Tịnh độ.
Theo
sự nghiên cứu của Tướng Vĩ Tường Vân Thị – một học
giả người Nhật - thì đại khái phân thành 6 cấp bậc, ở
đây xin giới thiệu khái lược như sau:
a.
Trong Tây phương yếu quyết thích nghi thông quy do đại sư
Từ Ân trước tác cho rằng: “Không cần tạo biến tướng
Tây phương A-di-đà quá rộng, chỉ cần bố trí một tượng
Phật và hai tượng Bồ-tát thôi cũng được”. Hình thức
Tam Tôn là tư tưởng chủ đạo. Hình thức này có nguồn gốc
rất xa xưa, trong hệ thống tượng Phật ở Ấn độ có rất
nhiều những điêu khắc nhỏ hình hai người cầm phất tử
(chổi tua vải) đứng hai bên đức Phật. Có lẽ hình thức
ấy là để biểu thị cho sự xuất thân từ giai cấp quý
tộc của đức Phật, những nhân vật đứng hai bên đó chẳng
qua là người hầu của Ngài mà thôi; mặc khác thứ tự đó
còn biểu thị đức Phật là bậc có công đức vô lượng,
siêu thắng tất cả nên khắc hình các Bồ-tát làm thị giả
đứng hai bên. Đây là quá trình thành lập của hình thức
Tam Tôn.
b.
Nền của hình thức Tam Tôn này: Thêm vào đó tượng các vị
Thanh văn và Bồ-tát khác, như ở động Thiên Phật (ngàn Phật)
tại Đôn Hoàng; hoặc lại thêm vào đó hình bốn vị Thiên
Vương v.v… hông phía bắc của Kim Đường chùa Pháp Long ở
Đại Hòa có loại biến tướng Tịnh độ này.
c.
Sự thay đổi nền của hình thức Tam Tôn này: Lại thêm vào
đó cảnh liên hoa hóa sanh và tư tưởng vãng sanh Tịnh độ.
Ông Bá-hy-hòa cho rằng biến tướng Tịnh độ A-di-đà ở
vách bên trái của động thứ 146 tại động Thiên Phật ở
Đôn Hoàng thuộc loại này.
d.
Xung quanh tượng Tam Tôn ở chính giữa: Xung quanh là những
bức họa nhỏ miêu tả cảnh 51 vị tân vãng sanh hóa sanh trong
hoa sen. Biến tướng Tịnh độ Phật A-di-đà ở vách phía
tây của Kim Đường chùa Pháp Long ở Đại Hòa đồng một
hình thức với loại này, tuy đã bị hư hoại nhiều nhưng
vẫn còn có thể trông thấy phía trên và phía dưới của
tượng Tam Tôn ở chính giữa có 25 vị Bồ-tát dưới hình
dáng các đồng tử hóa sanh trong hoa sen. Về sau, trên hình
thức Tam Tôn này lại thêm vào các hàng Bồ-tát và bốn vị
Thiên Vương v.v… để hiển bày Tịnh độ ấy là một cảnh
giới cực lạc; ở mặt diện chính giữa của đạo tràng
họa hình tượng các vị Bồ-tát đang tấu nhạc và nhảy
múa, như biến tướng Tịnh độ Thiên Thủ Quan Âm và biến
tướng Tịnh độ Dược Sư ở động Thiên Phật tại Đôn
Hoàng là thuộc loại này (tham khảo A. Stenis the Phansand Buddhas).
Cuối
cùng, người ta còn đem yếu chỉ kinh Quán vô lượng thọ
minh họa vào trong hình thức Tam Tôn này, kết hợp cả cây
báu, lầu gác báu, ao sen báu và chín phẩm vãng sanh v.v… .
Ông Bá-hy-hòa cho rằng biến tướng Tịnh độ ở vách bên
trái của động thứ 139 tại động Thiên Phật, Đôn Hoàng
còn có thể nhìn thấy được bản gốc của Trí Quang Mạn-đồ-la2,
Đương Ma Mạn-đồ-la3 và Hải Thanh Mạn-đồ-la (?), thậm
chỉ là những Mạn-đồ-la được thành lập theo tinh thần
kinh Quán vô lượng thọ mà đại sư Thiện Đạo đời Đường
đã đích thân họa nên để lưu truyền ở đời.
IV.
Sự Phát Triển Của Nghệ Thuật Tịnh độ
Vào
đời Đường, nghệ thuật Tịnh độ ở nước ta (Trung Quốc)
tợ rừng xuân rực rỡ, muôn hoa khoe sắc, thật là một cảnh
quan vô tiền khoáng hậu! Ở đây chỉ dựa theo kết quả nghiên
cứu trên hiện vật và tư liệu lịch sử tạm phân ra để
trình bày như sau:
1.
Họa đàn trung ương.
Nhà
Đường kế thừa dư ba của thời Lục Triều, bích họa rất
được thịnh hành, nội dung miêu tả về biến tướng Tịnh
độ. Trong đó, tiêu biểu như biến tướng Tây phương Tịnh
độ do Phạm Trường Khang vẽ ở hành lang phía tây của Tam
Giai Viện tại chùa Cảnh Công, miêu tả cảnh ao báu cực kỳ
tinh xảo, nước trong ao lung linh huyền ảo tợ hồ như thật
(Dậu dương tạp trở tục tập quyển 5). Các nhà danh họa
nổi tiếng vẽ về biến tướng Tịnh độ vào đời Đường
ở hai vùng Trường An và Lạc Dương, thứ tự như sau: 1. Doãn
Lâm (chùa Quang Trạch ); 2. Ngô Đạo Huyền (chùa Hưng Đường
và chùa An Quốc); 3. Triệu Vũ Đoan (chùa Vân Hoa); 4. Chủ Vận
Ứng (chùa Kính Ái); 5. Úy Trì (chùa Đại Vân); 6. Trình Tốn
(chùa Chiêu Thành); 7. Lưu A Tổ (chùa Kính Ái) v.v… đều dựa
theo mô hình cơ bản của đại sư.
Đoàn
thám hiểm Đại Cốc (tỉnh Hà Nam) phát hiện được một
phần của bức tranh lụa vẽ hình đức Phật tại Thổ Dục
Câu còn có lời minh rằng: “Tây Phương có đức Phật hiệu
A-di-đà, chúng sanh làm lành mau thoát cõi Ta bà, rừng thiêng
hoa lá báu, cung điện thuần hoàng kim”, và còn ghi rõ niên
hiệu “ngày 18 tháng 4 năm thứ 6 niên hiệu Đại Lịch”.
Khảo xét năm thứ 6 niên hiệu Đại Lịch (771 TL) là niên
hiệu của đời vua Đường Đại Tông, thừa tiếp sự thịnh
hành từ đời Đường Khai Nguyên trở về sau, theo lời bài
minh mà suy đoán thì tượng Phật này hiển nhiên là miêu tả
về cảnh Tịnh độ A-di-đà. Xem xét phần còn lại của bức
họa ấy thì thủ pháp hoàn toàn dựa theo phong cách họa đàn
trung ương của thời Đường. Nhà Đường và Cao Xương có
mối quan hệ với nhau rất mật thiết, điều đó đủ cho
thấy tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng Tịnh độ ở
Trung Quốc lúc bấy giờ.
2.
Điêu khắc.
Di
vật điêu khắc hiện còn gồm năm loại:
a.
Tượng đức Phật A-di-đà 52 thân. Tượng này được phát
hiện tại hai nơi. Một là ở vách phía sau của động Vạn
Phước thuộc hang thứ chín tại Long Môn. Tượng được kiến
tạo vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Long nhà Đường (680 TL),
cùng an trí một chỗ với tượng 54 thân, xem xét thật kỷ
càng thì đó là tượng Bồ-tát 52 thể, ngồi trên hoa sen chỉ
một cành mà có nhiều hoa, và hình chư thiên hai thể đang
bay rất rõ ràng. Còn một nữa là ở vách phía sau tầng thứ
nhất của hang thứ chín thuộc thạch động núi Thiên Long,
thuộc thể loại tượng phù điêu. Tượng này được tạo
vào khoảng thời Sơ Đường, chính giữa là Tam Tôn Phật,
xung quanh đó là tượng chư Phật và chư Bồ-tát nhỏ hơn
ngồi trên hoa sen, cành đan xen nhau thành như một tấm lưới,
tôn trí khoảng 52 tôn tượng hoặc còn thêm nhiều hơn
nữa.
b.
Tượng Phật A-di-đà. Ban đầu được kiến tạo tại các
động Tân Dương, chùa Kính Thiện, chùa Phụng Tiên v.v… thuộc
hệ thống hang động Long Môn ở Lạc Dương và các động
khác; từ khoảng niên hiệu Trinh Quán đến niên hiệu Khai
Nguyên, mỗi khi tôn trí tượng Phật A-di-đà đều có lập
văn bia tạo tượng, khoảng chừng 100 tượng, muốn rõ xin
hãy xem phần 3 và phần 4 trong Kim thạch mục, cũng như thiên
Điêu Tố (điêu khắc, đắp tượng) trong Chi Na Mỹ Thuật
Sử của Đại Thôn Tây Nhai Thị v.v…
c.
Tượng Phật A-di-đà tư duy về năm kiếp.
Tượng
này do đại sư Thiện Đạo tạo, dài 3 thước 6 tất; vào
đời Tống, ngài Trọng Nguyên người Nhật Bản sang Trung Hoa
thỉnh về. Tượng ngồi trên đài hoa sen, mặc thông y, hai
tay chấp trước ngực, mắt lim dim. Đặc điểm nổi bậc
của tượng này là đầu tóc kéo dài như chiếc lồng tròn,
hiện nay được lưu giữ tại chùa Đông Đại và viện Ngũ
Kiếp ở Nhật Bản, mỗi nơi phụng thờ một tượng.
d.Văn
bia tạo tượng A-di-đà nhỏ.
- Theo
sự trần thuật trong bản Giới châu truyện ở chùa Chân Phước
thì ngài Huyền Minh y theo sự chỉ dạy của ngài Hoài Cảm
tạo tượng Phật A-di-đà cao 3 tất bằng gỗ Chiên-đàn.
- Theo
sự ghi chép của bia đồng, thuật lại việc thiếp vàng tạo
tượng vào tháng giêng năm thứ 21 niên hiệu Trinh Quán trong
chương hai sách Sơn hữu kim thạch chí có đoạn chép: “Bia
bên phải cao 3 tất 5 phân, rộng 1 tất 2 phân, hai con rồng
trang trí trên đầu bia vẫn còn nguyên vẹn, trên đầu có
khắc 4 chữ “A-di-đà bi …”. Thời nhà Đường kế tục
thời Lục Triều, Phật sự rất được quan tâm, ngoài những
bảo sát (chùa) danh lam còn có nhiều nhà được dâng cúng
để làm Phật đường, vì thế nên có tấm bia đồng cỡ
nhỏ này”. Như thế có thể biết vào đời Đường, những
ngôi nhà lập thành Phật đường đều tôn trí tượng Phật
nhỏ.
e.
In hình Phật.
Quyển
trung của bản Giới châu truyện ở chùa Chân Phước chép:
Ngài Đạo Cảnh ở chùa Nhật Quang tại Tương Châu khắc ấn
bản, thắp hương khấn nguyện rồi in 10 vạn ức bức tượng
Phật A-di-đà, ban tặng khắp nơi.
Trong
thời cận đại, khảo cổ học phát triển rực rỡ, các nhà
học giả của cả Đông phương lẫn Tây phương lần lược
đua nhau sang vùng Tây Vực thám hiểm các di tích, thành quả
ấy đủ để khai thác về lãnh vực nghiên cứu văn hóa Đông
phương và phương diện lịch sử mỹ thuật càng hiển lộ
ngời sáng vô hạn! Trong đó, Đôn Hoàng là nhà bảo tàng mỹ
thuật cổ đại ngay sở tại, lưu giữ rất nhiều tác phẩm
quý hiếm mà thế gian thật sự hiếm thấy! Trên phương diện
nghệ thuật Tịnh độ, bích họa chiếm con số rất lớn,
theo sự thống kê của học giả Bá-hy-hòa người Pháp –
các thạch động thứ 30, 34, 40, 51, 53, 19, 114, 120 và động
G v.v… trên vách đều có vẽ biến tướng về Quán kinh (kinh
Quán vô lượng thọ). Còn tác phẩm biên soạn về Thiên Phật
Động của học giả người Anh là Tư-thản-nhân ghi chép càng
tường tận và xác thực hơn nữa. Ở đây xin trích thuật
những điểm chính yếu như sau:
- Biến
tướng về Quán kinh. Trong động thứ 31 tại động Thiên Phật,
Đôn Hoàng, chính giữa vách bên trái phía trong động vẽ cảnh
Tịnh độ rất trang nghiêm, hai bên và phía dưới chép phần
tựa và 16 cách quán tưởng trong Quán kinh, viền phía dưới
là chín phẩm hoa sen nối liền nhau nghênh đón sẵn; trong “Đôn
hoàng đồ phổ” của Bá-hy-hòa chỉ thâu thập được sáu
hình trong số chín phẩm mà thôi. Bên phải phía trong hang động
là cảnh vua Tần-bà-sa-la bị giam trong ngục tối được trình
bày trong phần tựa của Quán kinh, ở dưới là bốn hàng tám
đoạn tổng cộng thành 32 đồ hình. Biến tướng ở vách
phía bên phải của hang động cùng với vách phía bên trái
giống nhau.
- Cực
lạc Tịnh độ. Có niên đại tương đối mới, hình vẽ rất
tinh xảo, nửa bên phải đã bị hư hoại. Trong khoảng chính
giữa vẽ cảnh đức A-di-đà Như Lai thuyết pháp tại thế
giới Cực lạc, những cảnh được vẽ trong đó là hình vua
A-xà-thế và phu nhân Vi-đề-hy v.v…, phía dưới của bức
tranh là hình chín phẩm vãng sanh. Hình đức A-di-đà Như Lai
ở chính giữa, ngồi kiết già trên đài sen, tay trái cầm
chéo áo Ca-sa, tay phải biểu thị tư thế thuyết pháp. Hai
vị đại sĩ Quan Âm và Thế Chí ngồi trên đài sen hầu hai
bên. Bên vũ đài ở phía trước đức Phật, chư thiên diễn
tấu kỹ nhạc cúng dường, trên hoa sen trong hồ có người
vãng sanh, cây báu, điện báu, lầu các báu đứng sừng sững
xung quanh, trang hoàng cực kỳ trang nghiêm. Khoảng ngoài, bên
phải vẽ cảnh nguyên nhân vua A-xà-thế giam cầm cha mẹ v.v…
được trình bày trong phần tựa của Quán kinh; bên trái phác
họa phần chánh tông của Quán kinh, từ Nhật tưởng quán4
đến Tạp tưởng quán5 xuyên suốt 13 định thiện. Hai đầu
phía trên và phía dưới đã bị hư hoại, dựa trên tác phong
và kỹ xảo để xem xét thì có thể phong cách này đã kế
thừa làn sóng kỹ nghệ thời Vãn Đường. (tranh dẫn A.stein
Ruins of Desert Cothap, II. P.226, Fip, 202).
-Thể
tranh nhỏ, cảnh thánh chúng đến tiếp dẫn. Đồ hình thứ
30 về động Thiên Phật của Tải Tại Tư Thị chỉ còn sót
lại ba bức, nay xin lần lược trình bày như sau:
* Bức
bên trái có hàng chữ viết theo chiều dọc: “Người làm
mười điều ác, khi chết bị đọa vào địa ngục”, nửa
phần trên vẽ cảnh người làm mười điều ác lúc lâm chung
nằm ngang, có hai con quỷ đến dẫn họ đi. Nửa phần dưới
là hình quỷ lớn đầu trâu và chiếc vạc lớn nơi địa
ngục, con quỷ từ địa ngục cỡi mây bay đến, tay phải
cầm kích chĩa ba, giơ tay trái tóm bắt vong hồn, trong chiếc
vạc lớn nước sôi sùng sục, có vẻ muốn bỏ vong hồn vào
trong vạc. Đồ hình này thuộc loại mô tả hai cảnh trên
cùng một bức tranh, hai con quỷ nhỏ đứng hầu bên quỷ lớn
chính là mô phỏng theo hình thức Tam Tôn mà ra.
* Bức
chính giữa có hàng chữ: “Khi người làm 10 điều ác lâm
bệnh”. Trong nhà vẽ cảnh người làm 10 điều ác bị bệnh
tật hành hạ, trước sân nhà phác họa cảnh một mỹ nữ
đang gảy đàn Tỳ bà và một người khác đem tiền của báu
vật bày ra trên tấm vải, để biểu thị khi người làm 10
điều ác bị nhiễm bệnh, ngoài việc bị sự bức khổ của
bệnh tật còn phải chịu nỗi khổ bị sự dâm dục và tham
dục dẫn dụ bức bách.
* Bức
bên phải, phía bên phải đã bị hư hoại, không thể thấy
được hàng chữ viết gì, nhưng còn hình hai người làm ác.
Một người cầm gậy đập phá tháp Phật (loại giống như
tháp Bảo Khiếp Ấn), và một người khác đang hành hung, mạ
nhục chư Tăng (hình người mờ nhạt, thân mặc pháp y).
* Hình
bà Vi-đề-hy quy y Phật. Hình này đã bị hư hoại, trên có
2 vị đại thần Nguyệt Quang và Kỳ-bà cầm kiếm can gián
Thái tử A-xà-thế, ở dưới mô tả cảnh A-xà-thế hạ ngục
vua cha, và ghi câu “A-xà-thế vương nội môn thủ ấp chi
quan x x”. (Bị mất hai chữ – nd)
- Tượng
A-di-đà 52 thân. Thuộc động thứ 146 (theo số hiệu của ông
Bá-hy-hòa), được tạo vào khoảng thời Sơ Đường. Chính
giữa ao báu tôn trí tượng A-di-đà Tam tôn ngồi xếp bằng
trên đài sen, kết ấn thuyết pháp, hai bên có hai vị Bồ-tát
hầu. Xung quanh chính giữa hồ vẽ cảnh từ một hoa sen hóa
thành nhiều hoa sen, trên mỗi hoa đều có một vị Bồ-tát,
mỗi hai bên tượng đều có 25 thân, tổng cộng là 50 thân.
Phía trên đỉnh đầu của Phật treo một chiếc bảo cái lớn,
quang cảnh cực kỳ mỹ lệ, những nét nghệ thuật đặc sắc
của thời Sơ Đường đều được biểu hiện không sót một
điểm nào.
Ngoài
thạch động Đôn Hoàng vừa trình bày ở trên, ông Kha-sách-la-phu
(Kozloff) người Nga đã phát hiện ba bức tranh A-di-đà Tam tôn
đến tiếp dẫn ở Hắc thành thuộc địa phận Cam Túc (Khara-
Khoto).
- Bức
tranh lụa có màu. Tượng A-di-đà ở chính giữa, hai vị Bồ-tát
Quan Âm và Thế Chí hầu hai bên; chính giữa chiếc mũ báu
của hai vị Bồ-tát, một cái tôn trí đức Hóa Phật, còn
một cái tôn trí chiếc bình báu. Tam Tôn cỡi trên mây, đứng
trên hoa sen, chân mây dần dần tản ra phía sau. Đức A-di-đà
tay phải duỗi xuống phía trước, tay trái kết ấn an ủy;
hai vị Bồ-tát cầm hoa sen đứng hầu hai bên, biểu thị cùng
với bích họa Đôn Hoàng đã trình bày ở trên có chung một
nguồn gốc. Còn phần phía dưới của bức tranh có một cội
cây khô, dưới cội cây có một hành giả đứng chấp tay,
trong tay bốc lên một làn khói mây lờ mờ, bay đến trước
hoa sen mà hai vị Bồ-tát đang cầm thì dừng lại, kết thành
đám mây, trên đám mây ấy có một người bạch y vãng sanh
chấp tay chuẩn bị bước lên đài sen, chòm lông trắng giữa
chặng mày của đức Phật phóng ra một luồng hào quang rực
rỡ uyển chuyển xung quanh đầu người vãng sanh; hành giả
đứng dưới gốc cây biểu thị ý tiếp nhận ánh hào quang
đến tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà. Lại nữa, trong đám
mây năm sắc trên đỉnh đầu của đức Phật hiển hiện
hình một đóa hoa báu xinh tươi, cội cây khô biểu thị cho
cảnh Uế độ vô thường, trái lại là biểu thị ý nghĩa
Tịnh độ an vui vĩnh cửu.
- Bức
tranh họa có màu. Hình thức chế tạo giống như bức tranh
trước, đồ hình chính có hai vị Bồ-tát thị giả cầm một
đài sen đến trước hành giả, người được vãnh sanh chấp
tay đứng bên gốc cây cỡi mây bay lên; tượng Trung tôn, ngoài
vòng hào quang trên đầu ra, đặc biệt còn có hào quang lấp
lánh khắp toàn thân.
- Bức
tranh khắc bản in trên giấy. Ý tưởng cấu tạo đơn giản
giống như bức tranh trước, có một hành giả già yếu mặc
y phục thế gian ngồi trên mặt đất, mây lành uyển chuyển
trên đầu, bay đến trước đài hoa sen lớn mà hai vị Bồ-tát
đang cầm, một đồng tử khỏa thân chấp tay trước ngực
đang bước dần đến đài sen.
Ngoài
Hắc Thành ra, còn có Xa Duệ, ở đây xin phân ra để trình
bày như sau:
* Sự
lưu truyền biến tướng Tịnh độ sang Phương đông (Nhật
Bản). Theo sự ghi chép của Viên trân truyện (do Tam Thiện
Thanh Hành soạn) thì vào năm thứ 9 niên hiệu Thanh Hòa Trinh
Quán (867 TL), trong đạo tràng ở Ôn Châu nước Đại Đường,
tọa chủ Đức Viên nhờ Chiêm Cảnh Toàn ở Vụ Châu đem
một biến tướng Cực lạc Tịnh độ (một bản trong 400 bản)
do hoàng hậu Tắc Thiên thêu, dài 2 trượng 4 thước, rộng
1 trượng 5 thước và một bức tranh thêu biến tướng Linh
Sơn Tịnh độ dài 1 trượng 5 thước, rộng 1 trượng, tặng
cho Viên Trân. Từ đó nghệ thuật Tịnh độ của đại sư
Thiện Đạo mới nhân đó mà được truyền sang Phương đông
(Nhật Bản). Việc này cũng được chép trong Việt châu thần
trí, truyện thứ 25 trong Tống cao tăng truyện, chỉ là ghi
chép có phần hơi khác một tí mà thôi. Theo truyện thì Thần
Trí là người xứ Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa tỉnh Chiết
Giang), khoảng quá trung niên đến Trường An, nhờ tướng quốc
Bùi Hưu tâu xin mà được ban cho bức tranh thêu của Thiên
Hậu và Tạng kinh 5000 quyển v.v… (Đương Ma Mạn-đồ-la được
lưu truyền ở chùa Đương Ma nước Đại Hòa thuộc Đông
Vực, tương truyền chính là vật này).
* Sự
lưu hành của tranh Đường Trắng Giữa Hai Sông (Nhị Hà Bạch
Đạo). Kế tiếp sau bức tranh trước thì bức “Đường
Trắng Giữa Hai Sông” là nổi tiếng nhất. Muốn biết rõ
sự chế tạo của nó xin xem phần sau của Tam Tôn Thích Trung
Châu Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm Thích trong Thiện Kiến Nghĩa.
Bức tranh này đã được chỉ định làm quốc bảo, trong đó
chùa Túc Sanh Quang Minh, chùa Tha Nga Thanh Lương và viện Tri
Ân ở Kinh Đô mỗi nơi cất giữ một trong bảy bức vẽ được
truyền sang, bức bình phong được lưu giữ ở Tân Hắc Cốc
Thị tại Kinh Đô và bức được cất giữ tại Đại Bản
Cố Thôn Sơn Long Bình Thị là ưu tú hơn cả. Bức mà chùa
Túc Sanh Quang Minh lưu giữ tương truyền là thủ bút của Huệ
Tâm Tăng Đô, là tác phẩm thuộc thời đại Liêm Thương;
phong cách, cách miêu tả, màu sắc và cấu trúc bức vẽ đều
cực kỳ siêu việt, đem cảnh Tịnh độ trang nghiêm và đời
sống ở Ta bà đối chiếu nhau mà miêu tả, đó là đặc trưng
của bức tranh này. Ở đây xin phân ra để trình bày như sau:
- Bức
do chùa Thắng Man ở nước Tam Hà lưu giữ được phân thành
ba phần để miêu tả: Phần trên là cảnh thánh chúng đến
tiếp dẫn, phần giữa là hình hai con sông, người được
tế độ sang bờ sông trắng là một vị Tăng, trong sông lửa
là những con người ồn ào náo nhiệt, trong sông nước miêu
tả cảnh nam nữ chìm đắm trong ái dục, phần dưới thì
phối trí cảnh Ta bà.
- Bức
do chùa Băng Kiến Đinh Quang Chiếu ở nước Việt Trung lưu
giữ. Đặc trưng của bức tranh này là bờ phía đông vẽ
cảnh trên Tạng kinh phóng ra hào quang rực rỡ, chiếu sáng
trên vệt trắng; ở đây muốn biểu thị cho di giáo của đức
Phật Thích Ca, tức ý muốn nói “dù cho đức Phật Thích
Ca đã diệt độ, người đời sau không thể trông thấy, nhưng
còn giáo pháp có thể cầu học, tức ví đó như lời dạy
của Ngài lúc tại thế”. Khoảng giữa bờ sông, hai người
bạch y cãi vã nhau ầm ĩ, phía bờ sông nước vẽ hình một
người con gái đang khóc nức nở.
- Bức
được lưu giữ tại chùa Kim Sâm Thiện Lập ở Cận Giang.
Tương truyền bức tranh này thuộc thời kỳ đầu của phái
Đại Cốc do giảng sư Huệ Không tạo, có bia của Tịnh độ
tông nghĩa sơn, người được vẽ trên mặt tranh là Tăng lữ.
V.
KẾT LUẬN
Những
điều được trình bày ở trên có thể cho ta thấy nguồn
gốc nghệ thuật Tịnh độ bắt nguồn từ Tây Vực, phát
triển rực rỡ tại đất Hán (Trung Quốc) và hội tụ lại
ở Đông Doanh (Nhật Bản); mặt khác, tín ngưỡng Tịnh độ
là tín ngưỡng chung của cộng đồng các dân tộc Phương
đông, nên nghệ thuật Tịnh độ cũng chính là loại hình
nghệ thuật độc đáo của người Phương đông, và đại
sư Thiện Đạo là người đem loại hình tín ngưỡng và nghệ
thuật này hoằng dương ở Phương đông.
Thời
kỳ nhà Tùy và nhà Đường là thời đại hoàng kim của văn
hóa Trung Quốc, cũng là thời kỳ cực thịnh trong lịch sử
nghệ thuật Trung Quốc mà thành phần Phật giáo là cơ sở
chính. Từ khi vua Đường Võ Tông hủy diệt Phật giáo về
sau, Phật giáo đã trải qua một khoảng thời gian dài suy vi
trầm trọng, nghệ thuật cũng theo đó mà suy đồi theo. Như
vậy có thể thấy nghệ thuật và tôn giáo có mối quan hệ
nhân quả hỗ tương nhau rất mật thiết. Một vài năm trước,
từng có người đề nghị lấy nghệ thuật để thay thế
cho tôn giáo, dẫn tới có rất nhiều ý kiến và cách nhìn
khác nhau nhưng cuối cùng vì đề nghị ấy chỉ là kiến giải
cá nhân nên không được sự ủng hộ của quần chúng tín
đồ, đành phải để rơi vào im lặng quên lãng.
Tóm
lại, có sự giáo hóa rộng rãi, không để cuốn trôi trong
vòng mê tín; có tài năng siêu việt, không mắc vào sai lầm
phóng túng thiếu thận trọng, hun đúc tôn giáo và nghệ thuật
vào chung một lò, ẩn hàm diệu lý, tự rõ đường ngay, nhỏ
để tu thân giữ mình, lớn thì cải hóa nhân tâm, thay đổi
phong tục, điều này có lẽ chỉ có nghệ thuật Tịnh độ
mới có thể đảm đương mà không phải hổ thẹn? Và đại
sư Thiện Đạo hoằng dương nghệ thuật Tịnh độ khiến
cho Phật giáo Trung Quốc không chỉ có một sắc thái riêng
trong nước mà còn truyền bá ra khắp thế giới, có thể nói
là công đức vô lượng vô biên vậy!