10.
ĐÀM
LOAN VÀ ĐẠO XƯỚC
Nguyên
tác: Đại sư Diễn Bồi
Việt
dịch: Thích Huệ Chí
Từ
đệ nhất Tổ Liên tông là đại sư Huệ Viễn đến cận
đại có đại sư Ấn Quang, Liên tông cộng tất cả 13 vị
Tổ, điều này hầu như mọi hành giả Tịnh độ đều biết.
Ngoài ra còn có hai vị đại sư là Đàm Loan và Đạo Xước,
hai ngài không chỉ nổ lực hoằng dương Tịnh độ, mà còn
cống hiến đặc biệt cho Tịnh độ, nhưng lại không có tên
hai ngài trong chư Tổ Liên tông, điều này khiến cho mọi người
rất khó lý giải. Căn cứ vào 13 vị Tổ Liên tông hiện tại
mà xét, Trường An Quang Minh Thiện Đạo là vị Tổ thứ hai,
nhưng tư tưởng của ngài hấp thụ trực tiếp truyền thừa
từ hai ngài Đạo Xước và Đàm Loan chứ không phải bắt
nguồn từ vị Tổ đầu tiên là ngài Huệ Viễn. Nhân vì thầy
của Thiện Đạo là Đạo Xước, thầy của Đạo Xước là
Đàm Loan, đến sự thọ pháp của ngài Đàm Loan lại từ ngài
Bồ-đề-lưu-chi, đây mới chính là một mạch truyền thừa
chơn chánh, nhưng chủ trương của ngài Thiện Đạo là do sức
bổn nguyện của đức Phật mà được vãng sanh. Cõi Tịnh
độ vãng sanh là Báo độ chứ không phải là Hoá độ, nhưng
chủ thuyết của ngài Huệ Viễn là do nghiệp lực mỗi chúng
sanh mà sanh về Hoá độ có tốt có xấu. Xét tư tưởng của
hai Ngài thì thấy rất khác nhau. Hơn nữa pháp môn niệm Phật
hoằng thông nhờ tha lực là do ngài Đàm Loan chủ trương ở
Đông Ngụy mà Tịnh độ tông được thành tựu là do ngài
Đạo Xước ở Bắc Tề! Cho nên tôi (đại sư Diễn Bồi)
muốn giới thiệu sơ lược về nhị vị Đại đức Tịnh
độ tông này.
Đại
sư Huệ Viễn vãng sanh Tây phương vào năm thứ 12 niên hiệu
Nghĩa Hy đời Đông Tấn (Tây Nguyên 416). Đại sư Đàm Loan
thì sanh ở Nhạn Môn, năm đầu niên hiệu Thừa Minh đời
Hậu Ngụy Hiếu Văn Đế (Tây Nguyên 476), hai ngài có một
khoảng thời gian cách nhau 60 năm. Năm 15 tuổi, ngài Đàm Loan
phát tâm xuất gia, đối với các môn nội và ngoại điển
ngài đều nghiên cứu qua, nhưng đặc biệt đối với: Trung
luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, Đại trí độ luận
và Phật tánh luận, ngài lại có tâm đắc sâu sắc nhất.
Đại tập kinh trong Đại tạng là kinh điển trọng yếu nói
về lý rất sâu, ngài phát tâm chú giải bộ kinh Đại tập
đó, nhưng việc vừa mới hoàn thành một nửa thì không may
ngài lâm bệnh, không thể nào tiếp tục công việc được.
Ngài nghĩ đến sanh mạng vô thường, đại nghiệp khó thành,
cho rằng muốn thành tựu một sự kiện đại trọng này nếu
không được trường sanh thì không thể nào thành tựu được.
Do đó, ngài bắt đầu đi học đạo Tiên, mong nhờ vào Tiên
thuật mà sau đạt được trường sanh bất lão, rồi trở
lại hoằng dương Phật pháp. Khi ấy ở Giang Nam có người
tên Đào Hoằng Cảnh tinh thông về đạo thuật, học giả
nam bắc đều về đây học Tiên thuật rất đông, ngài Đàm
Loan cũng đến núi Cú Dung (tỉnh Giang Tô), yết kiến lễ bái
tham vấn vị này. Từ đây, ngài được Đào Hoằng Cảnh trao
cho mười quyển kinh về Tiên thuật, rồi đến phương bắc
để hạ thủ tu tập. Khi đi đến Lạc Dương tình cờ gặp
ngài Bồ-đề-lưu-chi từ Bắc Thiên Trúc qua Hoa Hạ. Hai người
luận đàm Phật pháp, nhân đây ngài Đàm Loan mới hỏi: “Trong
Phật pháp có gì hơn thuật trường sanh bất tử của Đạo
gia tiên kinh Trung Quốc không?”. Bồ-đề-lưu-chi nghe ngài
Đàm Loan hỏi vậy, ngài liền biết sự nhận thức Phật pháp
của ngài Đàm Loan còn nông cạn, bèn khai thị cho Ngài: “Đạo
gia của Trung Quốc trình bày pháp trường sinh, thực tế không
thể hy vọng gì. Dựa vào những gì ông học được, tuy nói
có thể đạt được trường sanh nhưng không thể vĩnh viễn
không chết được, rốt cuộc rồi cũng luân hồi trong sanh
tử, chẳng làm sao giải quyết thực sự vấn đề sanh tử.
Nhưng muốn chấm dứt dòng chảy sanh tử thì chỉ có dựa
vào Phật pháp mà thực hành. Bây giờ tôi có bôï kinh Quán
vô lượng thọ, tôi tặng ông, ông có thể dựa vào đây mà
tu tập, nhất định ông giải thoát khỏi sanh tử”. Ngài
Đàm Loan nghe lời phân tích khai thị của ngài Lưu-chi, bèn
đem sách tiên thuật đốt đi, từ đó chuyên tu pháp môn Tịnh
độ, và ngài nhận thức về Tịnh độ rất thâm áo. Ngài
có trước tác bộ Vãng sanh luận chú, Lược luận an lạc
Tịnh độ nghĩa, Tán A-di-đà Phật kệ … . Ngài hết sức
xiển dương pháp môn niệm Phật, hoằng thông nhờ tha lực,
tự lợi lợi tha phổ hoá rộng khắp.
Ai
cũng biết ngài Long Thọ trước tác bộ luận Thập trụ Tỳ-bà-sa,
trong ấy có trình bày hai phương pháp dễ hành (dị hành) và
khó hành (nan hành). Nói như thế này: “Phật pháp có vô lượng
pháp môn, cũng như con đường thế gian, có dễ có khó, hành
cước trên đường thì khổ nhưng ngồi thuyền đi trên nước
thì dễ. Bồ-tát đạo cũng vậy, phải có sự siêng năng tinh
tấn thực hành hoặc lấy niềm tin làm phương tiện thì dễ
hành (dị hành)”. Siêng năng tinh tấn thực hành là phương
pháp khó hành (nan hành) chẳng khác gì con đường bộ hành;
phương tiện dị hành là phương pháp dễ cũng như đi thuyền
trên nước. Đại sư Đàm Loan cũng dựa vào điều trình bày
trên nên trong Vãng sanh luận chú mà thiết lập hai phương
pháp dễ hành và khó hành, tất cả điều phán thích theo giáo
pháp (phán đoán ý nghĩa và ý chỉ kinh luận) một đời của
Như Lai. Căn cứ vào ý ngài Long Thọ nói rằng: Quốc độ
Ta bà không có đức Phật ra đời, nên siêng năng tinh tấn
tu đạo mới mong đạt thánh quả, đây mới là điều khó
khăn cho nên mới gọi phương pháp khó (nan hành). Giả sử
lấy nhân duyên tin Phật mà nguyện sanh Tịnh độ, như niệm
Phật A-di-đà để vãng sanh cõi Cực lạc, rồi chứng thánh
quả ở cõi Cực lạc, đó chính là phương pháp dễ hành (dị
hành). Cho nên ngài Long Thọ đối với giáo pháp Như Lai mới
phân ra như vậy. Nếu tuyên thuyết pháp môn Tịnh độ thì
lấy kinh giáo Tịnh độ làm chỗ nương là dễ hành đạo
(dị hành đạo). Nếu tuyên thuyết pháp môn khác, y vào những
giáo pháp khác thì khó hành đạo (nan hành đạo). Cho đến
phán giáo của Tịnh độ tông đại thể cũng xác định như
thế. Đồng thời căn cứ vào phán giáo này chúng ta mới biết,
nói đến pháp môn tu tập chỉ có pháp môn Tịnh độ là phương
tiện trong phương tiện và trực tiếp trong cái trực tiếp,
đơn giản trong cái đơn giản, dễ hành trong cái dễ hành,
ai ai cũng làm được, cho đến niệm Phật xưng danh nhất niệm
hồi hướng đều được vãng sanh. Vậy là trong Phật giáo
Đại thừa đã khai sanh một tông phái đặc biệt. Nhưng tại
Trung Quốc người đề xướng học thuyết này chính là ngài
Đàm Loan chứ không phải ngài Huệ Viễn. Do vậy mà biết
được, ngài Đàm Loan cống hiến cho Tịnh độ tông quả thật
là lớn lao !
Pháp
môn Tịnh độ mà ngài Đàm Loan chủ xướng cũng chính ngài
tu tập, chiêm nghiệm và hành trì chứ không phải nói lý thuyết
suông, cho nên khi ngài lâm chung có rất nhiều tướng đẹp
hiện ra, truyền thuyết rằng: “Khi ngài lâm chung, Tăng, tục
đều nghe nhạc điệu sáo đàn từ phía tây đến rồi lui
về phía tây”. Nhờ vậy mà biết được ngài là một hành
giả Tịnh độ đã vãng sanh Tây phương. Khi ngài biết trước
mình sẽ lìa Ta bà về Cực lạc nên triệu tập đồ chúng
đệ tử khẩn thiết dạy bảo: “Tứ sanh (thai, noãn, thấp,
hoá sanh) chẳng có ngày dừng nghỉ, các khổ địa ngục há
chẳng sợ sao? Chín phẩm Tịnh nghiệp lẽ nào không tu !?”.
Chúng ta hiểu được những câu nói này, thật đáng làm điều
răn cho mỗi người. Thử nghĩ và xét xem những câu dưới
này: Các khổ địa ngục chẳng sợ, chín phẩm Tịnh nghiệp
không tu thì sao có thể gọi là hành Tịnh độ? Lại sao có
thể cao đăng liên phẩm?
Nay
những ai niệm Phật theo những lời khai thị của đại sư
Đàm Loan thật nên thể hội thâm thiết điều đó. Như trên
đã nói, thuyết trì danh niệm Phật vãng sanh Tịnh độ đặc
biệt được ngài Đàm Loan chủ trương đề xướng ở phương
bắc, nhưng người kế tục truyền thừa hoằng dương là đại
sư Đạo Xước vào thời sơ Đường. Ngài Đạo Xước ra đời
sau khi ngài Đàm Loan thị tịch 20 năm. Thời gian sau này tuy
ngài là hành giả chuyên tu Tịnh độ nhưng trước tiên ngài
xác định mình là một hành giả của tông Niết-bàn. Ngài
không chỉ tinh thông kinh Đại Niết-Bàn mà từng giảng thuyết
24 lần nữa. Đến đời Tuỳ, niên hiệu Đại Nghiệp năm
thứ 5, ngài 28 tuổi mới vào pháp môn Tịnh độ. Ngài đã
rời tông Niết-bàn mà vào tông Tịnh độ. Trải qua thời
gian đó, có lần ngài ở tại chùa Huyền Trung núi Thạch Bích,
Vấn Thủy. Chùa này tuy không phải đạo tràng vãng sanh của
ngài Đàm Loan nhưng do ngài kiến lập cho nên trong chùa có
văn bia của ngài. Lời tựa văn bia nói sanh tiền ngài Đàm
Loan chuyên tu Tịnh độ thế nào, khi lâm chung lại có các
tướng tốt xuất hiện ra sao v.v… Ngài Đạo Xước xem văn
bia rất cảm động, do đó những lúc rảnh rỗi ngài Đạo
Xước thường ngồi ở đây mắt hướng về tây, miệng tụng
Di-đà không dứt. Đến đời Đường năm Trinh Quán, có duyên
giáo hoá đạo tục cả trước lẫn sau, ngài đã giảng hai
trăm lần bộ kinh Quán vô lượng thọ, chuyên lấy pháp môn
Tịnh độ để dẫn dắt mọi người. Lời truyền: “Ngài
khuyên mọi người niệm danh hiệu Phật Di-đà bằng cách dùng
hạt đậu để tính số lượng, một lần xưng danh bỏ vào
trong đấu một hạt, cứ như thế tích chứa cả trăm ngàn
đấu”. Đến cả ngài và mọi người cứ tinh tấn không
thôi. Truyền thuyết rằng: “Một ngày tụng Di-đà giới hạn
là bảy ngàn lần, tiếng tiếng chuyên chú, Tịnh độ được
rộng truyền”. Có lần ngài hướng dẫn mọi người đồng
niệm Phật, “Mọi người tay lần chuỗi miệng đồng niệm
danh hiệu đức Phật, âm thanh niệm Phật vang cả núi rừng”.
Đây thật xứng với nghĩa danh Phật rền sơn dã, thánh hiệu
dội trời cao. Ở đây đại sư Đạo Xước chuyên tu Tịnh
độ, nhưng tư tưởng lý luận và bối cảnh như thế nào?
Chúng ta muốn biết điều này phải khảo cứu bộ An lạc
tập do ngài trước tác.
An
lạc tập nói về tông Tịnh độ, thật là bộ luận thư rất
quan trọng cho những ai tu Tịnh độ đều phải đọc. Đọc
xong bộ này không những tăng trưởng tín tâm với Tịnh độ
và nếu mình bất đồng tư tưởng với Tịnh độ thì cũng
được hoá giải. Như lời mở đầu của An lạc tập nói:
“Trong bộ An lạc tập này có tất cả 12 Đại môn, đều
dẫn kinh luận chứng minh, khuyên tin vào sự cầu vãng sanh”.
Cho nên biết rằng bộ sách này rất quan trọng cho niệm Phật
cầu vãng sanh. Tuy nói trọn bộ có 12 Đại môn, nhưng ý nghĩa
chính yếu không ngoài ba điều:
1.
Đả phá tà chấp, dị kiến
2.
Phá trừ lý giải sai lầm của các luận sư
3.
Mở bày con đường cho đời tương lai
Nhân
đây tôi dựa vào ba điểm này tóm lược phân chia để mọi
người có nhận thức khái niệm đối với bộ sách An lạc
tập. Từ đó có thể biết được trung tâm tư tưởng của
đại sư Đạo Xước lúc bấy giờ.
Đầu
tiên cần biết khi ngài Đạo Xước xuất thế chính là lúc
Thiền tông Trung Quốc bắt đầu phát triển, Nhiếp luận thịnh
hành. Học giả hai tông phái lớn này đối với chủ thuyết
vãng sanh Tịnh độ đều có sự kiến giải khác nhau, cùng
với chủ trương của hành giả chuyên tông Tịnh độ thì
lấy tư tưởng nhờ nguyện lực của A-di-đà mà niệm 10 niệm
được vãng sanh, đại thể như thế. Quan điểm của Nhiếp
luận cho rằng: Do phát nguyện mà được vãng sanh Tây phương,
nên gọi “Biệt thời ý thuyết”. Nhưng không phải thành
tựu liền mà hiện tại chúng ta cần niệm Phật thật nhiều,
tương lai chắc chắn sẽ đạt kết quả. Cho nên nói: “Mười
niệm lúc lâm chung chỉ mới tạo được nhân vãng sanh chứ
chưa được vãng sanh”. Tại sao vậy? Vì khi tác ý đầu tiên
mới chỉ một, sau lên vạn. Nên biết “Một vốn đắc vạn
lợi” không phải một ngày mà được, cần phải trải qua
thời gian nổ lực lâu dài mới đạt được. Tư tưởng phát
triển của “Biệt thời ý thuyết” đối với phương pháp
chuyên niệm Di-đà của Tịnh độ giáo, nếu không dùng lời
thì phát sanh một cản trở rất lớn. Đạo Xước tận trung
với Tịnh độ Di-đà, không thể để cho bổn tông mình nhận
chịu sự bức phá, cho nên làm An lạc tập để phản kháng
lại tư tưởng “Biệt thời ý thuyết” của Nhiếp luận
tông. Ngài tự xem xét các luận sư làm luận tất nhiên là
tinh thông Phật kinh, phàm có xuất ngôn xa thì phù hợp ý Phật,
gần chẳng trái với Thánh tình, Bồ-tát và Phật tuyệt đối
không có lý luận trái nhau. Nhân đây Nhiếp luận chủ trương
trì tụng danh hiệu đức Phật Đa Bảo là “Biệt thời ý
thuyết”, không phù hợp với sự giải thích của mọi người.
Trong kinh nói rằng: “Thành tựu mười niệm liền được
vãng sanh”, nghĩa là tiếp dẫn mê đồ đã gây ác, khiến
khi lâm chung bỏ ác qui thiện, thừa niệm đó mà vãng sanh,
là có ẩn nhân (gieo nhân) đời trước. Ở đây Thế Tôn đã
ẩn đầu mà hiển cuối, bỏ nhân nói quả, gọi là “Biệt
thời ý ngữ”. Ngài đối với chủ trương “Biệt thời
ý thuyết” làm một biệt giải, cho rằng mười niệm
vãng sanh đều có túc nhân khác, nếu không có túc nhân thì
thiện tri thức còn khó gặp huống gì mười niệm vãng sanh
được. Căn cứ những lời giải thích của ngài rất là rõ
ràng khi bố cáo với mọi người: Mười niệm lúc lâm chung
được vãng sanh là gom đủ cả túc nhân mà nói. Giả sử
nói không có túc nhân mà khi lâm chung mười niệm được vãng
sanh, thiết nghĩ điều này trở thành vấn đề lớn!
Ngài
đã đưa ra một vài quan điểm sơ lược đối với “Biệt
thời ý thuyết” để chúng ta cảm giác thêm phần pháp vị
giải thoát.
Thiền
sư ở phương bắc lại cho rằng: Lấy nguyện sanh về Tịnh
độ là chấp tướng, như An lạc tập nêu: “Hoặc có người
nói, Đại thừa vô tướng chớ niệm đây kia, nếu nguyện
sanh Tịnh độ là chấp tướng, càng bị trói buộc thì sao
có thể cầu?”. Nhân vì tất cả đều trống không, thật
không có tự tánh, xưa nay thanh tịnh vốn tự tịch diệt.
Sở dĩ chúng không được giải thoát là do căn bệnh vọng
chấp, tức tại nảy sanh vọng cầu thủ chấp sự tướng
quốc độ là chúng sanh. Giả sử liễu đạt nội tướng rỗng
không của sanh mạng thì ngoại tướng của quốc độ đều
thanh tịnh trống không, chẳng có gì để mà đắc liền được
giải thoát.
Tịnh
độ như thế cần cầu sanh về để làm gì? Đây là tư tưởng
lưu hành của tông Tịnh độ, điều này ảnh hưởng rất
lớn. Đại sư Đạo Xước là hành giả nguyện cầu sanh Tây
phương, mà có dị thuyết làm trở ngại việc hoằng thông
Tịnh độ nên ngài tự mình đã đề xướng chủ thuyết đả
phá! Ngài trích dẫn lấy lời kinh Duy-ma: “Tuy quán quốc độ
chư Phật và quốc độ chúng sanh đều trống không, mà thường
tu Tịnh độ để giáo hoá quần sanh”. Lại nói: “Tuy hành
vô tác mà hiện thọ thân là hạnh Bồ-tát; tuy hành vô khởi
mà khởi tất cả hạnh thiện là hạnh Bồ-tát”. Vì vậy
tuy chứng biết các pháp không, vô tướng nhưng chúng ta đều
không ngại tu tập Tịnh độ, lại không ngại cho chúng ta
vãng sanh Tây phương, rồi khẳng định: Niệm Phật liễu thoát
sanh tử, cầu sanh về nước Cực lạc và thực hiện Bồ-tát
hạnh để giáo hoá chúng sanh đều không có sự xung đột.
Vậy sao có thể nói Đại thừa vô tướng không cầu mong sanh
Tây phương? Lấy thuyết nguyện sanh Tịnh độ là thủ tướng,
cầu sanh Tịnh độ không chỉ là chấp tướng mà còn trái
với lý vô sanh, nên biết Phật pháp quí ở vô sanh. Vì sao?
Sanh là căn bản của các hữu, là suối nguồn của muôn lụy,
học Phật cần ở chỗ xả sanh để chứng vô sanh, chỉ có
chứng vô sanh mới hoàn thành trọn vẹn sự học Phật. Bây
giờ không khiến mọi người cầu chứng vô sanh mà khuyên
mọi người vãng sanh Tịnh độ cũng như bỏ sanh tử mà trở
lại sanh tử, sanh sanh trôi chảy không dứt thì ngày nào mới
đoạn diệt được? Đây là vấn nạn hết sức rắc rối!
Đại sư Đạo Xước giải thích: Tịnh độ Cực lạc là cõi
bổn nguyện thanh tịnh của đức Phật Di-đà, tuy sanh mà vô
sanh, có sự khác biệt rất lớn đối với ái nhiễm, hư vọng
chấp trước của chúng sanh trong ba cõi. Mà hiện tại bây
giờ gọi là sanh, là nhân duyên sanh mà duyên sanh tức vô sanh,
cho nên cùng với tất cả chúng sanh hết thảy vô sanh, pháp
tính thanh tịnh rốt ráo. Vô sanh ấy là chân lý chẳng thể
sai trái. Song tại sao nói vãng sanh Tịnh độ mà không nói
chứng được vô sanh, đây chẳng qua đắc sanh hữu tình mà
thôi. Ngài đã lấy điều này giải thích để hội thông được
đạo lý vô sanh, cũng có thể nói là một điều hết sức
khéo léo.
Kỳ
thật thì tư tưởng Tịnh độ và Phật giáo Đại thừa có
quan hệ thật không thể tách rời, lìa Tịnh độ thì không
có Đại thừa, vì tư tưởng Tịnh độ khế hợp với Đại
thừa (xem Tịnh độ tân luận). Nhân đây tuyên thuyết pháp
môn Tịnh độ không thuộc cá nhân tông phái nào mà là mỗi
hành giả Đại thừa đều phải có trách nhiệm. Những vị
tiền bối cùng thời với Đạo Xước có Huệ Viễn, Trí Húc,
Cát Tạng ... Trong hệ tư tưởng các Ngài hay đề cập đến
lý tưởng Tịnh độ. Song do các ngài bất đồng về quan điểm
cho nên luận thuyết về Tịnh độ đều không có sự thống
nhất. Các ngài cho rằng Tây phương Tịnh độ là hoá độ,
Di-đà Như Lai là Hoá Phật, phàm phu tuy được vãng sanh nhưng
chỗ vãng sanh là Hoá độ và thấy được đức Hoá Phật.
Học giả của Nhiếp luận tuy thừa nhận cõi đó là
cõi Báo độ nhưng lại không thừa nhận phàm phu được vãng
sanh. Đạo Xước thấy thuyết của họ không thể tín nguyện
dẫn đến Tịnh độ, chính mình cũng không thề giải thoát,
cho nên Ngài đề xướng tư tưởng: Phàm phu được vào Báo
độ để phát huy tông chỉ lập giáo Tịnh độ. An lạc tập
nói: “Di-đà hiện tại là Báo Phật, cõi Cực lạc thật
báo trang nghiêm là Báo độ”, đồng thời dẫn Đại thừa
đồng tánh kinh nói: “Người thành Phật ở cõi Tịnh độ
là Báo thân, người thành Phật ở cõi uế trược là Hoá
thân”. Điều này có phải cường điệu không? Do nguyện
lực ngài Di-đà bất khả tư nghì, vả lại ở đây nguyện
lực có thể tiếp dẫn tội lỗi của phàm phu, giả sử phàm
phu không thể sanh về cõi Báo độ thì làm sao phù hợp với
bổn nguyện của đức Phật A-di-đà? Lại làm sao khế hợp
với lời dạy tha lực của tông chỉ? Cho nên An lạc tập
lại nói: “Cõi Vô lượng thọ ở đây chính là cõi Báo độ,
là do lời nguyện của đức Phật nên nó thông cả thượng
hạ, đến cả phàm phu thảy đều được vãng sanh”. Đây
có thể nói biểu hiện một tư tưởng rất cụ thể, giả
định các ngài như Trí Húc đều nói như thế này thì cõi
Tịnh độ là cõi phàm thánh đồng cư, là chỗ Ứng hoá thân.
Điều này phủ nhận thuyết phàm phu sanh vào Báo độ, khiến
cho tất cả phàm phu tội lỗi không giám hướng đến đại
pháp cho nên Đạo Xước cực lực chủ trương phàm phu được
sanh vào Báo độ. Chủ thuyết này đã trợ giúp chỗ yếu
nhược của chúng sanh, là một hy vọng mỹ mãn sáng suốt!
Từ đây thành lập đạo tràng diễn giảng. Chúng ta hiểu
được pháp môn niệm Phật vãng sanh thật là một pháp môn
hết sức thuận tiện!
Như
trên đã nói, đại sư Đạo Xước kế thừa ngài Đàm Loan.
Ngài Đàm Loan thành lập hai phương pháp dễ hành (dị hành)
và khó hành (nan hành), dựa theo lời di giáo một đời của
Như Lai. Do đó ngài Đạo Xước dựa vào điều này thành lập
nhị môn Tịnh độ thánh đạo, hành động dựa vào giáo pháp
Như Lai. Nghĩa là Thế tôn tuyên thuyết giáo môn ở nơi quốc
độ này để lấy đó mà tu hành, sẽ vào được Thánh quả,
gọi là Thánh đạo môn; tuyên thuyết giáo môn vãng sanh cõi
Tịnh độ Di-đà, cũng vào được thánh quả, gọi là Tịnh
độ môn. Cửa Tịnh độ dễ vào, cửa Thánh đạo khó vào.
Chúng sanh ở thời đại mạt pháp muốn giải thoát khỏi sanh
tử, chỉ có thực hành pháp môn Tịnh độ này. Hay nói cách
khác chỉ có vãng sanh Tịnh độ mới là giải pháp tốt nhất.
Như
trên đã giới thiệu giản lược lịch sử và tư tưởng của
hai vị đại sư Đàm Loan và Đạo Xước, từ đây chúng ta
đã liễu tri rõ ràng rồi, hai vị đã đề xướng pháp môn
Tịnh độ, công lao này không thể phai mờ được. Tư
tưởng Tịnh độ tuy uyên nguyên ở trong giáo thuyết nhưng
ở trên hình thức thực tế nó đã thành một tông độc lập,
thật có thể nói là do hai vị đại sư ấy khai sáng. Tuy trước
có nói ngài Huệ Viễn nhưng lúc đó chưa thành một tông độc
lập; tuy sau có nói ngài Thiện Đạo nhưng ngài đã kế thừa
tư tưởng của hai đại sư Đàm Loan và Đạo Xước rồi phát
triển tiến thêm một bước. Một điều rất kỳ lạ, hai
ngài có công với Tịnh độ nhưng trong 13 vị Tổ Liên tông
hiện tại liệt kê đều không có nói hai ngài, đây há chẳng
phải một sự kiện bất khả tư nghì! Chúng ta biết hiện
nay có tất cả 13 vị Tổ Liên tông, từ đại sư Hàng Châu
Vân Thê là Tổ thứ tám, trừ ra còn lại các Đại đức khác,
sau do niệm Phật có sự đặc thù biểu hiện nên cũng được
tiếp tục lập làm Tổ. Bảy vị Tổ trước là từ “Phật
tổ thống ký” quyển 26 và “Tịnh độ lập giáo chí ”
liệt kê ra thành bảy vị Tổ. Nhưng “Phật tổ thống
ký” không phải ngài Chí Bàn soạn đầu tiên, mà do “Tịnh
độ lập giáo chí” khai đầu, sau khi liệt kê bảy vị Tổ,
rồi mới trình bày thuyết: “Pháp sư Tứ Minh Thạch Chi Hiểu,
là người thời khác nhưng đồng tu Tịnh độ, công đức
cao dày, đã lập thất tổ Liên xã đến nay cứ theo đó mà
tôn các pháp sư Tịnh độ ”.
Đương
nhiên, một vị Tổ sư trong một thời đại nào đó cũng cần
đầy đủ điều kiện, chẳng hạn là công đức sâu dày.
Có thể chúng ta tự hỏi: Hai vị đại sư Đàm Loan, Đạo
Xước đều tinh tấn hành trì niệm Phật, xiển dương Tịnh
độ vậy chẳng lẽ không có công đức sao? Vì sao không được
xếp vào các vị Tổ. Thật sự tôi (tác giả) còn có chỗ
chưa thông!
Pháp
môn Tịnh độ là pháp môn đặc biệt, được đức Phật
của chúng ta mở ra cho chúng sanh trong thời mạt pháp, tuy nói
rất đơn giản nhưng thật sự thực hành thì không dễ dàng
chút nào. Đại sư Ấn Quang trong thời cận đại đã chỉ
bày cho chúng ta rằng: Một người có chánh tín tha thiết muốn
sanh Tịnh độ tất nhiên cần phải đầy đủ ba điều kiện,
mới được vãng sanh Cực lạc.
1.
Nghiêm trì tịnh giới. Giới là nền tảng của tất cả thiện
pháp. Là một đệ tử Phật, tu bất kỳ pháp môn nào, đều
không thể xa rời khỏi giới, lìa khỏi giới chung cục không
thành và thực hành pháp môn Tịnh độ cũng thế, không ngoại
trừ trường hợp này.
2.
Phát Bồ-đề tâm, thực hành Tịnh độ là tu hạnh Đại thừa.
Cho nên cần phải phát Bồ-đề tâm là chính. Có thể nói
Bồ-đề tâm là “chủ soái” cho sự tu tập của chúng ta.
Vị chủ soái này chỉ huy sự tăng tiến của chúng ta, hành
giả không có điều này thì tụt hậu thối lui.
3.
Đầy đủ Chân, Tín, Nguyện. Chân, Tín, Nguyện tha thiết là
tư tưởng để niệm Phật vãng sanh không thể khuyết thiếu.
Những điều này được đầy đủ thì bất luận nhiều hay
ít, đến khi lâm chung đều như sở nguyện. Nếu người nào
Tín, Nguyện không đầy đủ, mà cầu sanh Tây phương là một
vấn đề lớn (khó thành).
Ba
điểm này thật là điều kiện căn bản cho hành giả tu Tịnh
độ. Chư vị đều tôn sùng niệm Phật, hy vọng hảy dựa
vào lời chỉ dạy của đại sư Ấn Quang, niệm danh hiệu
Phật, tinh tấn dõng mãnh, thường niệm không bỏ, thì từ
từ chính mình sẽ có đức tin !
Xét:
Pháp sư Tứ Minh Thật Chi Hiểu là một hành giả tông Thiên
Thai, tuy hoằng dương Tịnh độ nhưng chẳng giống Đàm Loan
và Đạo Xước. Đàm Loan và Đạo Xước phân chia hai pháp
môn Tịnh độ và Thánh đạo, là dễ và khó hành. Ngài cho
rằng niệm Phật vãng sanh, trì giới phạm giới, tịnh tâm
tán tâm, ngu si trí tuệ đều nương bi nguyện của đức Phật
mà vãng sanh. Hay nói cách khác chỉ nên niệm Phật thì được
vãng sanh, bất luận phạm giới hay không đều được liệt
vào. Tịnh độ tức là Tín Nguyện vãng sanh, giới định tuệ
là Thánh đạo. Điều nguy hại ở đây là Thánh đạo không
chú trọng giới định tuệ mà lấy vãng sanh do Phật lực
làm chuyên môn. Ngài Thiện Đạo còn thừa nhận điều này
nên đã trước tác Quán kinh, Tứ thiếp sớ1 tức có ý này.
Học
giả Nhật Bản đến Trung Hoa vào thời nhà Đường, được
truyền thừa theo dòng pháp của Thiện Đạo, diễn bày một
ít giới pháp, thậm chí truyền bằng tín nguyện, không
trọng trì danh (bởi trì danh đạt đến nhất tâm bất loạn,
tức do niệm Phật mà đắc tam-muộn). Dùng thuyết của Ngài
Thiện Đạo, cư sĩ Dương Nhân Sơn từng tranh biện với Chơn
tông, nhưng lời phê bình rất khéo. Người Nhật tu pháp môn
niệm Phật đều theo hai dòng truyền thừa, Huệ Viễn và Thiện
Đạo. Nhưng ở Trung Quốc từ đời Tống, Nguyên, Minh mới
dung hợp hai dòng truyền thừa này, tức không bỏ Thánh đạo
mà đặt trọng tín nguyện trì danh.
Đối
với hai vị đại sư Đàm Loan, Đạo Xước … cũng là những
người cực đoan thuyết pháp. Pháp sư Thạch Chi Hiểu theo
đường lối tư tưởng hai vị: Huệ Viễn và Thiện Đạo,
không theo Đàm Loan, Đạo Xước, chắc có lẽ ý đó vậy?
Nói
đến ngài Đàm Loan và Đạo Xước là nói đến công lao hoằng
dương Tịnh độ tông của hai ngài. Sau này đến đại sư
Ấn Quang có đưa ra ba đặc điểm đều trái ngược
(với các đại sư Tịnh độ).
Nếu
lấy tư tưởng hai ngài Đàm Loan, Đạo Xước làm kim chỉ
nam thì người hành Tịnh độ không thể dung hoà với: Thai,
Hiền, Tam luận, Duy thức, Thiền, Luật tông.
Nên
biết Phật giáo Trung Quốc đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh là
xu hướng Phật giáo dung hợp, Tịnh độ tông cũng nhờ các
tông: Thai, Hiền, Luật, Thiền … tương trợ mà thịnh hành.
Tuy thế, học giả của Tịnh độ hoặc đã học qua Thai, Thiền,
Hiền, Luật … không chuyên mà chuyên đề trì danh, nhưng cũng
không ai giám bỏ Thánh đạo mà nói Tịnh độ, như Chân tông
đã nói.
Ngài
Ấn Thuận duyệt sau mới ghi.
(Dư
Bình ghi lại theo nguyên văn của ngài Diễn Bồi giảng).