Biểu
đồ trên đây căn cứ theo Cao tăng truyện của ngài Thích
Huệ Kiểu, đời nhà Lương và Dật danh thị Thập bát hiền
truyện (truyện 18 vị Thánh ẩn danh) (Lô sơn ký, quyển 3,
Thuấn Du soạn vào đời Tống, Trần).
Ngài
Đạo An, Phật Đồ Trừng căn cứ theo Cao tăng truyện quyển
5, trang 1 thượng; quyển 6, trang 1 thượng; quyển 101, trang
1 thượng, trang 13 thượng2. Ngài Pháp Hòa theo quyển 5, trang
9 hạ. Ngài Pháp Thải, trang 11 thượng. Ngài Đàm Dực, trang
14 hạ. Ngài Pháp Ngộ, trang 16 hạ. Ngài Đàm Giới, Đạo Lập,
trang 18 thượng. Ngài Đàm Huy, trang 17 thượng.
Ngài
Huệ Bảo3 theo quyển 6 (Cao tăng truyện), trang 5 hạ, ngài Pháp
Tịnh, Pháp Lĩnh theo trang 6 hạ. Ngài Đạo Nhất, Đàm Nhất,
Đàm Nhị theo quyển 5, trang 20 thượng, trang 12 hạ. Ngài Huệ
Vĩnh theo quyển 6, trang 15 hạ, Huệ Trì theo trang 13 hạ. Ngài
Tăng Tế, Pháp An theo trang 17 thượng hạ (quyển 6). Ngài Đàm
Ung theo trang 18 thượng. Ngài Đạo Tổ, Tăng Thiên, Đạo Lưu,
Huệ Yếu, Đàm Thuận, Đàm Sẫn theo trang 19 thượng hạ. Ngài
Đạo Hằng, Đạo Thọ, Pháp U theo trang 20 hạ. Đạo Sanh căn
cứ theo quyển 7, trang 8 thượng. Ngài Đạo Uông theo quyển
8, trang 4 thượng. Ngài Đạo Ôn theo trang 7 hạ. Ngài Tăng Huệ
theo quyển 9, trang 6 hạ. Ngài Đạo Bỉnh, Đạo Kính theo Thập
bát hiền truyện (Lô sơn ký, quyển 3, trang 42 hạ).
Đại
sư Huệ Viễn họ Cổ tên Quan Tộc. Ngài sanh vào năm thứ
hai niên hiệu Diên Hy, đời Hậu Triệu, vua Thạch Hoằng (Đông
Tấn, vua Thành Đế Tư Mã Diễn, năm thứ chín niên hiệu Hàm
Hòa), tại huyện Lâu Phiền quận Nhạn Môn, Tinh Châu (nay là
phía đông huyện Quách, tỉnh Sơn Tây).
Đời
đông Tấn, pháp sư Trương Giã Viễn ghi bài minh rằng:
“Sa-môn
Thích Huệ Viễn huyện Lâu Phiền, Nhạn Môn, họ Cổ, đời
gọi là Quan Tộc”.
Đời
Tấn, Tạ Linh Vận ghi bia pháp sư Lô Sơn: “Pháp sư huý Huệ
Viễn, họ Cổ, người huyện Lâu Phiền, quận Nhạn Môn (Phật
tổ thống ký, quyển 26, trang 34 hạ, Chí Bàn soạn đời Đống)”.
Bộ
Liên tông bảo giám quyển 4, do ngài Ưu Đàm Phổ Độ biên
soạn, ghi rằng: “Huệ Viễn sanh vào thời vua Thạch Hoằng
đời Hậu Triệu, niên hiệu Diên Hy năm Giáp Ngọ, nhằm năm
Hàm Hòa thứ chín, đời Tấn vua Thành Đế (Đại tạng kinh
q. 47, trang 320 hạ; Tham khảo Hồng lượng cát thập lục quốc
cương vực chí quyển 3, trang 15 hạ).
Đời
Hậu Triệu, vua Thạch Hoằng năm thứ hai niên hiệu Diên Hy
(Đời Đông Tấn, vua thành Đế Tư Mã Diễn, năm Hàm Hòa thứ
chín) nhằm năm Giáp Ngọ. Năm thứ nhất.
Ngài
Thích Đạo An năm hai mươi ba tuổi ở Ký Châu.
Căn
cứ theo bộ “Xuất tam tạng ký” tập 15 của ngài Thích
Tăng Hựu biên soạn đời nhà Lương, phần truyện Đạo An
(Đại tạng kinh q. 55, trang 109 hạ). Đạo An – Bính-bà-sa
tựa (Xuất tam tạng ký tập 10, Đại tạng kinh q. 55, trang
73 thượng). Đạo An Truyện (Cao tăng truyện, quyển 5, trang
1 hạ).
Thích
Đàm Huy năm 12 tuổi theo ngài Đạo An xuất gia (Cao tăng truyện,
Đàm Huy truyện quyển 5, trang 17 thượng).
Đời
Cư Nhiếp Thiên Vương Thạch Hổ năm thứ nhất niên hiệu
Kiến Võ (Niên hiệu Hàm khang năm thứ nhất, thời Đông Tấn),
nhằm năm Ất Mùi. Năm thứ hai.
Đại
Hòa thượng Trúc Phật Đồ Trừng từ Tương Quốc4 đến ở
chùa Nghiệp Trung (chùa ở trong thành, tại đất Nghiệp) (Theo
Cao tăng truyện, Phật Đồ Trừng truyện quyển 9, trang 383b,
Đại tạng kinh q. 50).
Ngài
đạo An từ Ký Châu đến đất Nghiệp, thờ Phật Đồ Trừng
làm thầy (không rõ năm nào).
Căn
cứ “Xuất tam tạng ký tập”, truyện Đạo An, thì ngài
Đạo An … đến đất Nghiệp vào chùa Nghiệp Trung liền ở
đó hầu Phật Đồ Trừng, chắc đến đất Nghiệp ở một
thời gian ngắn, sau đó mới gặp Phật Đồ Trừng.
Năm
Kiến Võ thứ hai (Niên hiệu Hàm Khang năm thứ hai), nhằm năm
Bính thân. Năm thứ 3.
Năm
Kiến Võ thứ 3 (Niên hiệu Hàm Khang năm thứ 3), nhằm năm
Đinh Dậu. Năm thứ 4.
Em
Ngài thích Huệ Viễn là Thích Huệ Trì (Cao tăng truyện, Huệ
Trì truyện q.6, tr.13 hạ).
Năm
Kiến Võ thứ 4 (Niên hiệu Hàm khang năm thứ 4), nhằm năm
Mậu Tuất. Năm thứ 5.
Năm
Kiến Võ thứ 5 (Niên hiệu Hàm khang năm thứ 5), nhằm năm
Kỷ Hợi. Năm thứ 6, Phạm Ninh sanh (Tấn Thư, Phạm Ninh truyện
q.75).
Năm
Kiến Võ thứ 6 (Niên hiệu Hàm khang năm thứ 6), nhằm năm
Canh Tý. Năm thứ 7.
Đời
Tấn, sách Giám lục nói Thượng thư Dũ Băng lệnh bắt Sa-môn
phải lễ kính vương giả, quan Thượng thư Hà Sung … bất
bình không kính phục, cuối cùng điều lệ ấy bãi bỏ.
Theo
tựa biểu của Hà Sung … tấu, Sa-môn không phải kính vương
giả (Thích Tăng Hữu, Hoàng Minh tập 12, tr.11 thượng), xem
niên biểu của tướng soái đại thần đời Đông Tấn và
Vạn Tư Đồng đời Thanh (Lịch đại sử biểu q.15, tr.4 hạ).
Năm
Kiến Võ thứ 7 (Niên hiệu Hàm khang năm thứ 7), nhằm năm
Tân Sửu. Năm thứ 8.
Năm
Kiến Võ thứ 8 (Niên hiệu Hàm khang năm thứ 8), nhằm năm
Nhâm Dần. Năm thứ 9.
Năm
Kiến Võ thứ 9 (Đời Tấn, Khang Đế Tư Mã Nhạc, năm đầu
niên hiệu Kiến Nguyên), nhằm năm Quí Mão. Năm thứ 10.
Sự
hiếu học
Bia
Lô Sơn pháp sư: Tuổi nhỏ mà hiếu học. Xuất tam tạng ký,
truyện 15 nói rằng: Nhỏ mà thích đọc sách, lại đẹp trai
thông minh sáng suốt (Đại tạng kinh q.55, tr.109 thượng).
Bia
truyện ghi rõ việc này khoảng thời gian trước 13 năm.
Thích
Huệ Vĩnh năm 12 tuổi theo Thích Đàm Hiện xuất gia (Cao tăng
truyện, Huệ Vĩnh truyện q.6, tr.15 hạ).
Năm
Kiến Võ thứ 10 (Niên hiệu Kiến Nguyên năm thứ 2), nhằm
năm Giáp Thìn. Năm thứ 11.
Cưu-ma-la-thập
(Đồng Thọ)
Căn
cứ theo ngài Thích Triệu thuật lại sử pháp sư La-thập,
đời Tần (Đường, Thích Đạo Tuyên, Quảng hoằng minh tập
q.26, tr.6 hạ).
Năm
Kiến Võ thứ 11 (Mục Đế Tư Mã Đam, niên hiệu Vĩnh Hòa
năm thứ nhất), nhằm năm Ất Tỵ. Năm thứ 12.
Năm
Kiến Võ thứ 12 (Mục Đế Tư Mã Đam, niên hiệu Vĩnh Hòa
năm thứ 2), nhằm năm Bính Ngọ. Năm thứ 13.
Xa
gia đình cùng các em, theo cậu là Linh Hồ Thị, phía nam Hứa
Xương, Dự Châu, Dĩnh Xuyên (nay là phía Tây nam huyện Hứa
Xương, tỉnh Hà Nam), Lạc Dương tỉnh Hà Nam, Lạc Châu (nay
là huyện Lạc Dương tỉnh Hà Nam phía Đông bắc), làm thư
sinh cầu học.
Pháp
sư Trương Giả Viễn ghi lại rằng: Năm 13 theo chú du học
ở Linh Hồ, huyện Thị, Hứa Xương, Lạc Dương. Bia Lô Sơn
ghi: Năm 13 tuổi theo chú du học đến Linh Hồ, huyện Thị,
Hứa Xương, Lạc Châu. Nên biết lúc nhỏ là học sinh (Tham
khảo Hồng lượng cát thập lục quốc cương vực chí).
Thích
Đàm Thuận sinh.
Căn
cứ theo Thập bát hiền truyện (Trần, Thuấn Du chép trong bộ
Lô sơn ký 3).
Năm
Kiến Võ thứ 13 (Niên hiệu Vĩnh Hòa thứ 3), nhằm năm Đinh
Mùi. Năm thứ 14.
Thiên
vương bắt 16 vạn nam nữ ở Bắc Nghiệp kiến trúc Hoa Lâm
Viên (Thông Giám q.97). Thích Đạo Tổ, Thích Đàm Hằng sanh
(Cao tăng truyện q.6, và Thập bát hiền truyện).
Năm
Kiến Võ thứ 14 (Niên hiệu Vĩnh Hòa thứ 4), nhằm năm Mậu
Thân. Năm thứ 15.
Tháng
12, Đại Hòa thượng Trúc Phật Đồ Trừng viên tịch ở đất
Nghiệp (Cao tăng truyện q.10, Tấn thơ bổn truyện q.95). Ngài
Đạo An trở về Ký Châu.
Cao
tăng truyện q.5: Đến năm 45 tuổi, Ngài trở về Ký Bộ …
Năm ấy vua Thạch Hổ băng hà và Bành Thành Vương lên ngôi
kế vị, phái Trung Sử … thỉnh Đạo An vào Hoa Lâm Viên.
Xét theo việc vua Thạch Hổ băng hà và Bành Thành Vương kế
vị đều nói rõ năm, vậy Đạo An về Ký Châu đúng là sự
việc năm này. Nếu bảo rằng Ngài Đạo An trở về Ký Châu
lúc vua Thạch Hổ băng hà thì thời gian trước sau xáo trộn
không rõ ràng. Bởi vì ở đây nói theo tuổi thọ của ngài.
Căn cứ thuyết Bản diên bảo xướng danh tăng truyện, vào
năm thứ 10 niên hiệu Thái Nguyên đời Tấn, ngài 72 tuổi,
con số này là đúng. Nếu ngài Đạo An 45 tuổi thì đời nhà
Tấn năm thứ 2, niên hiệu Thăng Bình và vua Thạch Hổ băng
hà hơn 10 năm. Còn Đạo An về phương nam nhưng thật ra lánh
nạn Mộ Dung nước Yên. Năm Thăng Bình thứ hai, Ký Châu bị
nước Yên vây hãm, nếu nói năm ấy Đạo An trở về Ký Châu
cũng không hợp lý. Năm ấy Đạo An 37 tuổi, đến đời Tấn
niên hiệu Thái Nguyên năm thứ 10 thì ngài 72 tuổi, đó là
tính tuổi thọ theo thuyết trên. Còn ngài Thích Huệ Kiểu
nói rằng ngài Đạo An 35 tuổi trở về Ký Châu, ở điểm
này là ngộ lầm 10 năm vậy.
Năm
đầu niên hiệu Thái Nguyên (Niên hiệu Vĩnh Hòa năm thứ 5),
nhằm năm Kỷ Dậu. Năm thứ 16.
Tháng
4 vua Thạch Hổ băng hà, thái tử Thạch Thế lên ngôi kế
vị, bị Bành Thành Vương là Thạch Tuân giết, rồi tự lên
ngôi (Thông giám q.98), sai Trung Sử thỉnh ngài Đạo An vào
Hoa Lâm Viên (Cao tăng truyện q.5, Đạo An truyện).
Tháng
11 Lương Vương Thạch Tuân giết vua, tự lên ngôi, Trung quốc
đại loạn (Thông giám q.98).
Đời
Hậu Triệu, vua Thạch Giám năm đầu niên hiệu Thanh Long, Ngụy
Đế Nhiễm Mẫn niên hiệu Vĩnh Hưng (Niên hiệu Vĩnh Hòa năm
thứ 6), nhằm năm Canh Tuất. Năm thứ 17.
Tháng
giêng nhuần, đại tướng quân Nhiễm Mẫu giết vua Thạch
Giám, soán ngôi, đổi quốc hiệu là Ngụy (Thông giám q.98).
Năm đó Trương Dã5 sinh (theo Thập bát hiền truyện).
Đời
Ngụy niên hiệu Vĩnh Hưng năm thứ hai (Đông Tấn, niên hiệu
Vĩnh Hòa năm thứ 7), nhằm năm Tân Hợi. Năm thứ 18.
Tháng
giêng, Phù Kiên xưng vương ở Trường An, lấy quốc hiệu
là Tần. Tháng 8, Lạc Châu, Dự Châu và Hứa Xương hàng nước
Tấn. Yên Vương Mộ Dung Tuyển lệnh Mộ Dung Lạc, Mộ Dung
Bình đem quân đánh Trung Sơn, Triệu Nam An và các quận.
Năm
đó Triệu (chiếm được các châu Thanh, Ung …) cùng dân chúng
về các châu Thanh, Ung, U, Kinh và các rợ Đê, Khương, Hồ,
Mán số người đến hàng trăm vạn, tất cả đều muốn trở
về lãnh thổ của mình. Cho nên đường sá người người
chen chúc, cướp bóc chém giết lẫn nhau, dẫn đến đói khát,
bệnh dịch lan tràn, người ăn thịt người (Thông giám q.99).
Đời
nhà Ngụy niên hiệu Vĩnh Hưng năm thứ 3, Tần Thiên Vương
Phù Kiện năm thứ 2 niên hiệu Hoàng Thủy (Đông Tấn, niên
hiệu Vĩnh Hòa năm thứ 8), nhằm năm Nhâm Tý. Năm thứ 19.
Tháng
2, Dự Châu, Hứa Xương hàng Tần. Tháng 4 quân Yên bắt Ngụy
Đế đánh đất Nghiệp. Tháng 5 quân Yên chém Ngụy Đế Nhiễm
Mẫn. Năm đó đại hạn đói lớn, người ăn thịt người.
Tháng 7 Tần đến Hứa Xương, Lạc Dương … Dân chúng hơn
5 vạn hộ dời về Quan Trung (nay thuộc Đông nam tỉnh Thiển
Tây). Tháng 8 quân Yên đánh đất Nghiệp. Tháng 10 quân Tấn
khôi phục lại Hứa Xương (Thông giám q.99).
Đời
Tần niên hiệu Hoàng Thủy năm thứ 3 (Đông Tấn, niên hiệu
Vĩnh Hòa năm thứ 9), nhằm năm Quí Sửu. Năm thứ 20.
Ngài
Đạo An đến Thái Hàng, Hằng Sơn, xây dựng chùa tháp. (Cao
tăng truyện q.5, theo bản truyện không rõ năm nào. Căn cứ
“Đồng thứ lục Huệ Viễn truyện”, biết đại sư khoảng
trước 20 tuổi, tạm thời dựa vào năm đó).
Đời
Tần, niên hiệu Hoàng Thủy năm thứ 4 (Đông Tấn, Niên hiệu
Vĩnh Hòa năm thứ 10), nhằm năm Giáp Dần. Năm thứ 21.
Ngài
cùng em đến Thái Hành, Hằng Sơn, xuất gia nơi ngài Đạo
an. Đại sư học rộng thấu hiểu Lục kinh, thông Lão Trang,
tánh tình độ lượng bao dung, lịch thiệp mẫn tuệ, chí khí
hạo nhiên. Tuy thời ấy có nhiều bậc túc nho tài giỏi nhưng
không ai mà không khâm phục ngài. Đến năm đó ngài muốn
đến Dự Chương đất Tấn, nhân tiện định cùng ẩn sĩ
Phạm Tuyên đi du phương nhưng đường sá trở ngại (có loạn
thạch Hồ) nên chí nguyện không thành. Bấy giờ, ngài Đạo
An đang hoằng pháp ở non Thái Hành núi Hằng Sơn; ngài cùng
em đến đó tìm bậc chân sư. Ngài nghe Đạo An giảng kinh
Bát-nhã liền hốt nhiên đại ngộ, than rằng: “Theo đạo
Nho đều là trấu cám”. Quyết định theo ngài Đạo An thọ
giáo, thế phát làm Tăng, pháp hiệu Thích Huệ Viễn.
Bài
minh viết về Ngài Huệ Viễn (Viễn pháp sư minh): “Năm 21
tuổi cùng Phạm Tuyên Tử muốn qua phương nam cầu học nhưng
đường sa ngăn ngại không đi được, gặp Thích Đạo An nhận
làm thầy, liền cạo bỏ râu tóc, nghiên cứu Pháp tạng”.
Bia
Pháp Sư Lô Sơn ghi rằng: “Năm 21 tuổi cùng Phạm Tuyên Tử
muốn vượt sông nhưng thời gian ấy vương triều chiến loạn,
đường sá ngăn ngại, có chí mà không thành, ngài ở lại
Quan Tả (nguyên văn trên theo Xuất tam tạng ký, tập 15, Bổn
truyện Tang kiều lô kỷ sự, đã được ghi trên bia. Đến
đời Minh niên hiệu Chánh Đức năm thứ 8, bia có sửa đổi)
gặp Thích Đạo An. Mới gặp ngài Đạo An lần đầu mà đã
tôn kính và nói rằng: ‘Đây là bậc thầy chân chính của
ta vậy’, liền xin xuống tóc, theo cầu đạo”.
Xuất
tam tạng ký, tập 15, bản truyện viết: “Ngài học rộng,
thông minh, am hiểu Lục kinh, uyên thâm Lão Trang, tánh tình
rộng lượng, chí khí hạo nhiên. Tuy thời ấy có nhiều bậc
túc nho tài giỏi nhưng không ai mà không khâm phục ngài. Năm
21 tuổi đến Quan Tả gặp An Công (Đạo An).”
Cao
tăng truyện quyển 6, bản truyện viết: “Năm 21 tuổi muốn
cùng ẩn sĩ Phạm Tuyên qua Giang Đông, nhưng năm ấy vua Thạch
Hổ băng hà, Trung Nguyên nỗi loạn, đường phía Nam cản trở
giao thông, chí nguyện không thành. Khi ấy Sa-môn Thích Đạo
An lập chùa, hoằng dương chánh pháp tại non Thái Hành, Núi
Hằng Sơn. Ngài Huệ Viễn nghe tiếng liền đến thọ giáo
qui y. …… Sau khi nghe ngài Đạo An giảng kinh Bát-nhã, bỗng
nhiên lãnh ngộ rồi than rằng: Đạo Nho cửu lưu6 mà toàn
là trấu cám”. Khi ấy cùng em là Huệ Trì liền cạo tóc,
nguyện chọn đời theo chánh pháp Như Lai. Tháng giêng năm đó
tướng Ngụy là Tự Uyển tập cứ Lạc Dương (Thông giám
q.99).
Tần
Thiên Vương Phù Sanh, niên hiệu Thọ Quang năm thứ 2 (Đông
Tấn, niên hiệu Vĩnh Hòa năm thứ 2), nhằm năm Bính Thìn.
Năm thứ 23.
Đại
sư theo ngài Đạo An thọ giáo, siêng năng tu học, tài đức
xuất chúng, thường muốn tổng nhiếp các cương yếu, chiêm
nghiệm giáo lý Như Lai, ngày đêm tinh tấn hành trì. Suốt
cuộc đời vượt ngoài tiện nghi vật chất, ăn mặc thô sơ,
được huynh đệ cung kính, thầy Đạo An quí trọng. Từng
đem đạo truyền nước Tấn, đó là nhờ công lao của đại
sư. Pháp hữu Thích Đàm Dực cũng thường cúng dường kinh
phí đèn dầu.Trong bài minh của Pháp sư Huệ Viễn viết: “Thích
Đàm Dực mỗi lần cúng tịnh tài cho đại sư mua đèn, thường
khen thầm đại sư là người học xa trông rộng, ngộ pháp
huyền vi. Ngài Đạo An cũng khen: Đạo truyền Đông Tấn là
do công của Huệ Viễn vậy!”.
Cao
tăng truyện quyển 6: “Khi ngài nhập đạo, siêng năng tinh
tấn, tài giỏi xuất chúng, thường muốn tổng nhiếp cương
yếu, lấy đại pháp làm trọng trách. Ngày đêm hành trì,
tư duy đọc tụng, sống vô tư lợi, ăn mặc đơn giản, áo
vải thô sơ. Có Sa-môn Đàm Dựcthường cúng dường đèn dầu.
An Công đẹp dạ hay khen: Đạo sĩ đã biết người rồi vậy!”.
Căn cứ theo Cao tăng truyện tường thuật, những sự việc
này được ghi trước năm 24 tuổi, tạm thời theo năm đó.
Tháng
8 năm đó, Tấn Thái Úy Hoàn Ôn đánh Diêu Tương chạy đến
Y Thuỷ (tỉnh Hà Nam). Diêu Tương đến Bình Dương, Tinh Châu.
Quan Thứ sử Tinh Châu hàng Diêu Tương (Thông giám q.100).
Lưu
Trình Chi7 sanh (Quảng hoằng minh tập tam thập nhị Đại sư
dữ Lưu Di Dân thư chú và Thập bát hiền).
Tần
Thiên Vương Phù Kiên, niên hiệu Vĩnh Hưng nguyên niên (Đông
Tấn, niên hiệu thăng Bình nguyên niên), nhằm năm Đinh Tỵ.
Năm thứ 24.
Quá
trình ngài (Huệ Viễn) thuyết giảng, từng có người nghe
giảng nhưng không ngộ được nghĩa thật tướng, giảng qua
giảng lại mất thời giờ mà càng tăng thêm sự hiểu lầm
nghi ngờ. Đại sư bèn dẫn lời Trang Tử để giải thích
những lời khó hiểu. Từ đó ngài Đạo An cho phép ngài đọc
thêm sách của thế tục và bạn đồng học là Thích Pháp
Ngộ, Thích Đàm Huy đều kính phục ngài.
Cao
tăng truyện quyển 6 ghi: “Năm 24 tuổi ngài giảng pháp, thường
có khách đến nghe nhưng không hiểu nghĩa thật tướng, giảng
qua giảng lại mất thời giờ mà càng tăng thêm mối nghi ngờ.
Huệ Viễn bèn mượn từ ngữ của Lão Trang có liên quan đến
vấn đề giúp người ta dễ hiểu. Sau đó An Công bảo ngài
Huệ Viễn: không nên bỏ sách thế tục. Ngài Đạo An có đệ
tử Pháp Ngộ, Đàm Huy, là những người tài giỏi thông minh,
chí khí đạo hạnh thanh bạch đều kính phục ngài Huệ Viễn”.
Ngài Trúc Pháp Thái cùng đồ đệ Đàm Nhất, Đàm Nhị …
hết thảy hơn 40 người đến Kiến Khang, nước Tấn (không
rõ năm nào). Khi Pháp Thái đến Kinh Châu, nước Tấn thì lâm
bệnh, dừng lại ở Giang Lăng. Đại sư Huệ Viễn phụng mệnh
ngài Đạo An đến Giang Lăng, nước Tấn chăm sóc bệnh cho
ngài Pháp Thái. Bấy giờ Đạo Hằng chấp “Tâm vô nghĩa”,
thuyết ấy thịnh hành ở đất Kinh Châu. Ngài Pháp Thái bảo
đó là tà thuyết, phải nên phá trừ. Ngài triệu tập danh
Tăng và dạy ngài Đàm Nhất đến vấn nạn chiết phục nhưng
không chế ngự được Đạo Hằng. Ngày thứ hai, đại sư
Huệ Viễn cùng Đạo Hằng đến pháp đường đối pháp. Bằng
những lời biện luận tài tình, Đạo hằng biết chủ thuyết
của mình là sai lầm, thần sắc biến đổi, cúi đầu im lặng.
Đại sư nói: “Sao ngài không rời khỏi nơi đây sớm đi?”.
Lúc ấy hội chúng đều cười. Từ đó học thuyết “Tâm
vô nghĩa” mất hẳn.
Cao
tăng truyện, quyển 5, Pháp Thái truyện: “Pháp Thái … cùng
đệ tử Đàm Nhất, Đàm Nhị … xuống Giang Đông, đến nơi
ấy ngài lâm bệnh. … Khi ấy Hoàn Ôn trấn giữ Kinh Châu,
sai sứ qua thăm và cúng dường thuốc thang. Ngài Đạo An lại
dạy đệ tử Huệ Viễn xuống Kinh Châu vấn an bệnh tình,
… Ở đây Sa-môn Đạo Hằng rất có tài lực, thường chấp
‘Tâm vô nghĩa’, thuyết này thịnh hành ở đất Kinh (Châu).
Bấy giờ ngài Pháp Thái bảo: Đây là tà thuyết, phải mau
phá trừ. Ngài triệu tập danh Tăng, sai đệ tử Đàm Nhất
đến chất vấn. Đàm Nhất viện dẫn lý kinh nhưng đều bị
phản bác, Đàm Nhất càng bối rối. Vì Đạo Hằng quá lợi
khẩu, không thể khuất phục. Nắng chiều về tây, ánh ban
mai lại xuất hiện, ngài Huệ Viễn đến pháp đường vấn
nạn vài câu, vặn hỏi hiểm yếu. Đạo Hằng biết nghĩa
lý của mình sai lầm, thần sắc biến đổi, cúi đầu im lặng.
Ngài Huệ Viễn hỏi: ‘Sao ngài không rời khỏi nơi đây sớm
đi?’. Thính chúng ngồi nghe đều cười. Từ đó học thuyết
‘Tâm vô nghĩa’ mất hẳn”.
Căn
cứ truyện Hoàn Ôn sai sứ qua Giang Lăng (thăm bệnh là hợp
lý). Vì lúc ấy Thứ sử Kinh Châu Đông Tấn (Hoàn Ôn) đánh
Giang Lăng, sau Hoàn Ôn cũng trấn giữ Giang Lăng.
Căn
cứ Xuất tam tạng ký tập, quyển 15, Cao tăng truyện quyển
5, Đạo An truyện, đều nói ngài Đạo An đến Tân Dã (thuộc
tỉnh Hà Nam). Pháp Thái qua Tấn đến Kinh Châu mới gặp Hoàn
Ôn. Khảo xét thì Hoàn Ôn làm Thứ sử Kinh Châu vào năm Vĩnh
Hoà nguyên niên. Năm thứ hai niên hiệu Vĩnh Hưng, Hoàn Ôn
được chiếu đến Giả Kỳ (tỉnh An Huy), năm sau ông bị
giáng chức, rồi trấn giữ Cô Thục8 (theo Thông giám), Đạo
An đến Tân Giả sau đó 4 năm. Nói ngài Pháp Thái theo ngài
Đạo An đến Tân Dã, đến đất Tấn, bổn truyện dẫn thực
không tránh khỏi trái ngược. Nhưng ngài Pháp Thái đến đất
Tấn vào năm nào, khảo cứu Tống lưu nghĩa khánh thế thuyết
tân ngữ, quyển 8 nói: “Lúc đầu ngài Pháp Thái từ phương
bắc đến, chưa ai biết tên họ của ngài, Vương Lãnh Quân
cúng dường cho ngài và cùng ngài đi khắp nơi … Từ đó
mới biết tênhọ và được trọng dụng”. Vương Lãnh Quân
tên Vương Hiệp, theo Tấn thư lục thập ngũ vương đạo truyện
viết: “Hiệp …. Trưng bái (nhận chức) Lãnh Quân, …. Năm
thứ hai niên hiệu Thăng Bình, ông mất nơi làm quan, thọ 36
tuổi.”
Ngài
Pháp Thái dến Kiến Khang, bấy giờ Vương Hiệp làm Lãnh Quân,
căn cứ theo Vạn tư đồng Đông Tấn tướng tương đại thần
niên biểu: Hiệp làm Lãnh Quân vào năm đầu niên hiệu Thăng
Bình, Pháp Thái đến đất Tấn vào năm đầu niên hiệu Thăng
Bình, khoảng thời gian hai năm. Cho nên tạm thời lấy năm
đó làm mốc và lấy sự việc đại sư (Huệ Viễn) thăm bệnh
là chuyện phụ.
Lại
nữa, từ khi 21 tuổi là bắt đầu đại sư theo ngài Đạo
An đến non Thái Hành, Hằng Sơn học đạo như đã ở trước.
Nhưng ngài từ chỗ nào đến Giang Lăng và trở về Giang Lăng
lúc nào đều không rõ, nên bây giờ năm tháng bị khiếm khuyết.
Cao
tăng truyện, quyển 5, Đạo An truyện dẫn: “Đạo An …..
Sau đó ngài tỵ nạn đến Hoạch Trạch”, Hoạch Trạch nay
phía tây huyện Dương Thành tỉnh Sơn Tây, đến Hằng Sơn
rất gần. Căn cứ Đạo An âm trì nhập kinh, Tựa kinh …,
mới biết các bộ kinh ngài chú giải đều ở Hoạch Trạch,
có thể ngài đã ở đó nhiều năm.
Trong
tựa Đạo địa kinh viết: “Hoàng Cương Nữu mất, bộ tộc
Hiễm Doãn (phương bắc) nổi loạn đất Hạ, Sơn Tả chìm
trong khói lửa và bị chiếm cứ. Ngài lánh nạn qua Hoạch
Trạch, thầy trò pháp hữu đành chia tay.” (Xuất tam tạng
ký quyển 7) nói: “Sơn Tả” còn gọi Ký Châu, hay “Hiễm
Doãn”.
Theo
An hòa thượng truyện: “Vì Mộ Dung Tuấn bức bách” (Thế
thuyết tân ngữ lục chú), Mộ Dung Tuấn tức chỉ cho Mộ
Dung Yên. “Pháp hữu” là Trúc Pháp Thái, vì sinh bình ngài
Đạo An và Trúc Pháp Thái là bằng hữu đồng đạo tâm giao
với nhau, rất thân không bao giờ trái nghịch. Nếu đúng ngài
Đạo An lánh nạn giặc Yên, rời Ký Châu, khoảng thời gian
sau đó Pháp Thái vào đất Tấn và đã ở tại Hoạch Trạch.
Nhưng không thể xác định thời gian ngài đến Hoạch Trạch
trước hay Hằng Sơn trước. Về địa thế thì đường bắc
dài mà nam ngắn, ắt hẳn ngài đến Hằng Sơn trước, tới
Hoạch Trạch sau. Song sở cứ ấy không đủ để minh chứng
nên nay cũng không rõ.
Phật-đà-bạt-đà-la9
sinh (Xuất tam tạng ký tập q.14).
Đời
Tần, niên hiệu Cam Lộ năm đầu (Đông Tấn, niên hiệu Thăng
Bình năm thứ 3), nhằm năm Kỷ Mùi. Năm thứ 26.
Trương
Thuyên10 sinh (Thập bát hiền truyện).
Đời
Tần, niên hiệu Cam Lộ năm thứ hai (Đông Tấn, niên hiệu
Thăng Bình năm thứ 4), nhằm năm Canh Thân. Năm thứ 26.
Thích
Đàm Sẫn, Vương Mật11 sinh.
Đời
Tần, niên hiệu Cam Lộ năm thứ ba (Đông Tấn, niên hiệu
Thăng Bình năm thứ 5), nhằm năm Tân Dậu. Năm thứ 28.
Do
trời hạn hán, sâu bọ phá hại mùa màng, giặc cướp thảo
khấu hoành hành khắp nơi … Hơn năm trăm người theo ngài
Đạo An lánh nạn, vào núi Nữ Cơ12, Vương Ốc.
Xuất
tam tạng ký tập, quyển 15, Đạo An truyệnviết: “Đệ tử
theo học đạo có ngài Huệ Viễn và hơn năm trăm người,
….Bấy giờ có loạn Thạch Thị (họ Thạch), ngài Đạo An
bèn gọi đồ chúng đến dạy: ‘Hiện nay thiên tai hạn hán,
sâu bọ phá hại mùa màng, giặc cướp thảo khấu hoành hành
khắp nơi, ở đây tu học bất an, giải tán thì không đành
… Ngài bèn dẫn chúng vào núi Nữ Cơ, Vương Ốc (núi Vương
Ốc nay nằm phía tây nam huyện Dương Thành tỉnh Sơn Tây.
Núi Nữ Cơ, Cao tăng truyện gọi là núi Nữ Lâm, không rõ
vị trí ở đâu. Có thể gọi chung là núi Nữ Cơ Vương Ốc
hoặc giả núi Nữ Cơ là chi nhánh mạch núi Vương Ốc). Sau
đó lại cùng đồ chúng qua sông vào núi Lục Hồn, ăn hoa
quả cây cỏ tạm thời tu học. Không bao lâu, Mộ Dung Tuấn
đánh chiếm Lục Hồn, ngài lại chạy về nam đến Tân Dã”.
Theo sự kiện quân yên kéo đến Hà Nam vào năm thứ hai niên
hiệu Vĩnh Ninh, chắc tấn công Lục Hồn vào năm đó. Như
vậy, ngài Đạo An đến Lục Hồn trước năm đó hay ngài
đến Vương Ốc trước, không rõ năm tháng, nên tạm thời
theo thứ tự mà khảo cứu.
Đời
Đông Tấn, Ai Đế Tư Mã Phi, niên hiệu Hưng Ninh nguyên niên,
nhằm năm Quí Hợi. Năm thứ 30.
Theo
ngài Đạo An hơn năm trăm người, đến núi Nữ Cơ Vương
Ốc, lại qua sông đến núi Lục Hồn (nay phía đông bắc huyện
Tung tỉnh Hà Nam) tỉnh Hà Nam, Tư Châu đất Tấn (Tham khảo
Hồng lượng cát đông Tấn cương vực chí).
Đời
Đông Tấn, niên hiệu Hưng Ninh năm thứ 2, nhằm năm Giáp Tý.
Năm thứ 31.
Tháng
hai, quân Yên chiếm đất Hà Nam. Tháng tư, quân Yên công phạt
Hứa Xương, Nhữ Nam và cát cứ các quận (xem Thông giám, quyển
101). Do quân Yên bức bách Lục Hồn, Đạo An cùng đồ chúng
… đến núi Lục Hồn, nhắm hướng nam về Nam Dương (nay
phía đông nam huyện Đặng tỉnh Hà Nam), Kinh Châu.
Xuất
tam tạng ký tập, quyển 15, Đạo An truyện viết: “Không
bao lâu Mộ Dung Tuấn bức bách núi Lục Hồn, ngài Đạo An
theo hướng nam về Tân Dã”. Qua các sách dẫn chứng về những
nơi ngài Đạo An đã sinh sống thì có lược bớt chi tiết.
Ngài Đạo An đến Tân Dã và ở đó ba năm. Vào tháng tư sau
năm thứ nhất (ở Tân Dã), Tập Tạc Xỉ13 cùng ngài Đạo
An viết sách. Trong sách có dẫn: “Lại nghe nói có ba ngàn
đệ tử đến Nam Dương”. Nam Dương phía bắc Tân Dã, nên
có thể biết ngài Đạo An chưa đến Tân Dã trước mà khoảng
thời gian ấy dừng ở Nam Dương, bởi do Lục Hồn bị Nam
chinh. Cho nên ngài đến Nam Dương trước, rồi mới đến Tân
Dã (Xem Đông Tấn cương vực chí).
Đời
Đông Tấn, niên hiệu Hưng Ninh năm thứ 3, nhằm năm Ất Sửu.
Năm thứ 32.
Tháng
giêng, Hoàn Hoát làm Thứ sử Kinh Châu (Thông giám q.101). Ngày
5 tháng tư, Tập Tạc xỉ cùng ngài Đạo An viết sách. Ông
khuyên ngài Đạo An nên đi về Đông (Đông Tấn) (Hoàng minh
tập, q.12).
Đời
Đông Tấn, vua Tư Mã Dịch, niên hiệu Thái Hòa năm thứ hai,
nhằm năm Đinh Mão. Năm thứ 34.
Số
người theo ngài Đạo An có hơn năm trăm người Nam Dương,
nơi này chinh chiến, nên đến Tân Dã (nay huyện Tân Dã tỉnh
Hà Nam). Sau lại đến Tương Dương, Lương Châu.
Trong
Truyện An hòa thượng viết: “(Ngài Đạo An và số đệ tử)
ở núi Lục Hồn ăn hoa quả cây cỏ tu học, vì bị Mộ Dung
bức bách nên mới đến trú tại Tương Dương”. Xuất tam
tạng ký tập, quyển 15, Đạo An truyện viết: “ … nhắm
hướng nam về Tân Dã. Ngài bảo: ‘Năm nay mất mùa, thời
thế tao loạn, nếu không y vào nước có chủ thì pháp sự
khó lập mà việc hoằng pháp cần phải rộng khắp’. Khi
ấy, tất cả môn đồ đồng thưa: ‘Tuỳ thầy chỉ dạy’.
Ngài Đạo An bèn dạy … Pháp Hòa vào đất Thục. … Đạo
An cùng đệ tử Huệ Viễn … trong đêm vượt sông, gặp lúc
mưa gió sấm sét, cứ nương tia sáng ánh chớp mà thẳng tiến.
Giây lâu, mọi người thấy một gia cư, trước nhà có hai
cây dương liễu, chính giữa treo một cái gùi. Dung lượng
cái cái gùi ấy có thể chứa một hộc14. Khi ấy, ngài Đạo
An gọi: ‘Lâm Bá Thăng’. Chủ nhà kinh sợ, quả nhiên người
ấy họ Lâm tên Bá Thăng. Người trong gia đình gọi ngài là
Thần nhơn, đem lòng tôn kính mà tiếp đãi. Chúng đệ tử
hỏi ngài sao biết được danh tánh của người ấy. Ngài nói:
‘Hai cây dương liễu là hai chữ Mộc thành chữ Lâm. Chính
giữa treo một cái gùi chứa được trăm thăng là Bá Thăng’.
Sau đó, thầy trò tiếp tục đến Tương Dương”. Huệ Viễn
truyện cũng viết: “(ngài Huệ Viễn) sau theo An Công nam du
đến Phiền Miện”. Thập bát hiền truyện: “Sau theo thầy
đến Nam Dương”. Căn cứ trong Ma-ha-bát-la-nhã Ba-la-mật kinh
sao tự của ngài Đạo An: “Trước ở Hán Âm 15 năm” (Xuất
tam tạng ký tập, q.8).
Xuất
tam tạng ký tập, quyển 15 cũng nói: “Đạo An ở tại Phiền
Miện 15 năm”. Căn cứ năm ngài Đạo An từ Tương Dương
vào đất Tần là năm thứ 7 niên hiệu Thái Nguyên. Từ năm
đó tính ngược lại là 15 năm. Vậy ngài từ Tân Dã đến
Tương Dương cũng là năm đó.
Thích
Pháp Hòa từ Tân Dã vào đất Thục. Thích Huệ Vĩnh muốn
đến núi La Phù nhưng lại qua Tầm Dương, Giang Châu, bị Đào
Phạm (người trong quận) giữ lại, ở Lô Sơn kiến tạo chùa
Tây Lâm.
Cao
tăng truyện, quyển 6, Huệ Vĩnh truyện viết: “Thích Huệ
Vĩnh họ Bà15, người Hà Nội … Thầy ngài là Sa-môn Trúc
Đàm Hiện. Sau khâm phục ngài Đạo An. Trước đây ngài cùng
Huệ Viễn có kỳ hẹn kết am ở ngọn La Phù nhưng Huệ Viễn
vì thầy mình (Đạo An) mà ở lại. Lúc ấy Huệ Vĩnh có ý
định muốn qua Ngũ Lãnh, đến Tầm Dương, nhưng bị Đào
Phạm người trong quận giữ lại ở chùa Tây Lâm, Lô Sơn.”
Văn
bia “Âu dương tu tây lâm đạo tràng” trong Âu dương tu tập
ghi: “Có Đàm Tỳ-kheo họ Trúc (?), vốn là tướng nhà Triệu.
…. Trấn tích quang lâm, dựng thảo am giữa núi này. … Có
Tức Từ Huệ Vĩnh, người Hà Nội, là bậc Cao túc thượng
thủ … nối nghiệp tông phái, tu thiền dựng chùa. Nước
Tấn, quan Quang Lộc Khanh ở Tầm Dương là Đào Phạm mến
mộ tài đức của ngài, đưa ngài dạo các thắng địa …
sau hưng khởi kiến lập ngôi Phật tự, gọi là Tây Lâm. Năm
đó nhằm năm thứ hai niên hiệu Thái Hòa”. Trong lời bạt
Âu Dương Tu cũng ghi: “Tấn, niên hiệu Thái Hòa năm thứ
hai, Đào Phạm là người đầu tiên giúp ngài Huệ Vĩnh tạo
chùa, hiệu Tây Lâm.”
Theo
Thập bát hiền truyện thì nói ngài Huệ Vĩnh đến Tầm Dương
vào năm đầu niên hiệu Thái Hòa. Như vậy chưa chắc lắm,
có thể nhầm niên hiệu Thái Nguyên chính là Thái Hòa. Căn
cứ vào năm đó, ngài Đạo An thường giảng kinh Phóng quang
Bát-nhã Ba-la-mật. (Căn cứ Ma-ha-bát-la-nhã Ba-la-mật kinh sao
tự, Xuất tam tạng ký tập, q. 15, Trí thăng khai nguyên thích
giáo lục) Trường Sa Thái Thú Đằng Tuấn bỏ nhà ở Giang
Lăng, Kinh Châu, thưa với ngài Đạo An xin một vị Tăng đức
độ, đến đó lập chùa. Ngài Đạo An bảo ngài Thích Đàm
Dực đi. Ngài Đàm Dực trấn tích đến đó, kiến thiết đạo
tràng tức chùa Trường Sa (không rõ thời gian).
Cao
tăng truyện, quyển 5, Đàm Dực truyện ghi: “Thích Đàm Dực
họ Diêu, người Khương …. Hoặc là người Ký Châu … nhận
An Công làm thầy. Thuở nhỏ chuyên nghiên cứu giới luật
hành trì. … Lại theo ngài Đạo An đến chùa Đàn Khê. Quan
Thái Thú Đằng Hàm Chi ở Giang Lăng, Trường Sa, đất Tấn
cải gia vi tự (đổi nhà làm chùa), đến thưa với ngài Đạo
An xin một vị Tăng đến đó trú trì. Ngài Đạo An bảo: ‘Sĩ
tử thứ dân nơi đất Kinh Sở cần có một vị Tôn sư, ta
muốn cho người qua đó giáo hóa nhưng chưa biết chọn ai?
Ngài Đàm Dực liền trấn tích trượng hướng về nam, kiến
tạo ngôi Phật tự tức chùa Trường Sa vậy.”
Pháp
uyển châu lâm (Đạo Thế soạn đời Đường), quyển 21 viết:
“Năm thứ hai niên hiệu Vĩnh Hòa, Trường Sa Thái Thú Đằng
Tuấn bỏ nhà làm chùa. … thưa với pháp sư Đạo An đang
thống lãnh Tương Châu, thỉnh xin một vị Giám hộ. Ngài Đạo
An bảo đệ tử Đàm Dực: …. Thầy nên đến đó vậy!”.
Căn cứ chuyện ngài Đàm Dực theo ngài Đạo An ở Tương Dương
và ngài Đạo An ở đất Triệu vào năm thứ hai niên hiệu
Vĩnh Hòa, ngài Phật Đồ Trừng chưa đến đất Tấn, đều
là niên hiệu “Vĩnh Hòa” chứ không phải niên hiệu Thái
Hòa. Còn cư sĩ Đằng Tuấn, Đằng Hàm Chi tức một người.
Vị ấy tên Tuấn tự Hàm Chi.
Niên
hiệu Thái Hòa năm thứ 4, nhằm năm Kỷ Tỵ. Năm thứ 36.
Hoàn
Huyền16 sinh.
Niên
hiệu Thái Hòa năm thứ 5, nhằm năm Canh Ngọ. Năm thứ 37.
Đại
Tư Mã Hoàn Ôn truất phế Tư Mã Dịch, lập Hội Khể Vương
Tư Mã Dục.
Hiếu
Võ Đế Tư Mã Diệu, niên hiệu Ninh Khang năm đầu (Đời nhà
Tần, niên hiệu Kiến Nguyên năm thứ 9), nhằm năm Quí Dậu.
Năm thứ 40.
Tháng
7, Kinh Châu Thứ Sử Hoàn Hoát tức Chinh Tây Tướng Quân trấn
giữ Giang Lăng. Vì Hoàn Hoát mến ngài Đạo An nên theo ngài
đến Giang Lăng.
Cao
tăng truyện, quyển 5, Đạo An truyện viết: “Chinh tây Tướng
Quân Hoàn Lãng Tử (Hoát) trấn giữ Giang Lăng, vì mến Đạo
An nên đến đây”, cùng Cao tăng truyện, quyển 5, Huệ Viễn
truyện : “Sau theo An Công nam du về Phiền Miện.”
Căn
cư theo Cao tăng truyện, quyển 5, Thích tăng Quang Truyện ghi:
“Quang cùng Đạo An, Pháp Thải … nam du đến Tấn Bình (Tấn
thư địa lý chí nói: Tấn Bình thuộc quận Uất Lâm tỉnh
Quảng Châu, nay thuộc vùng Quảng Tây) giảng đạo hoằng hóa,
sau về lại Tương Dương.” Y theo thời gian này thì biết
ngài Đạo An ở Tương Dương, và có lần đi Tăng Quang đến
Tấn Bình. Sự việc này trong Đạo An truyện không thấy ghi,
nên không rõ thời gian nào? Hoặc giả có thể năm đó ngài
đi Giang Lăng, vì vùng Giang Lăng rất gần. Nhưng không đủ
bằng chứng, vả lại không biết đại sư đã từng đến
đó chưa. Tất cả đều không rõ ràng.
Niên
hiệu Ninh Khang năm thứ 2 (Đời Tần niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 10), nhằm năm Giáp Tuất. Năm thứ 41.
Theo
ngài Đạo An từ Giang Lăng về Tương Dương. Ngài Đạo An
thấy chùa Bạch Mã hẹp, bỏ lấy nhà Trương Ân kiến tạo
chùa Đàn Khê. Từ đó ngài ở chùa Đàn Khê.
Cao
tăng truyện, quyển 5, Đạo An truyện: “Hoàn Lãng Tử trấn
Giang Lăng, vì mến ngài Đạo An nên tạm qua đó. Châu Tự
trấn giữ phía tây lại thỉnh ngài về Tương Dương. Ngài
Đạo An thấy chùa Bạch Mã hẹp nên lập chùa khác hiệu Đàn
Khê, tức là nhà của Thanh Hà Trương Ân. Trương Ân là đại
phú trưởng giả phát tâm trợ giúp dựng tháp năm tầng, xây
400 phòng Tăng”.
Căn
cứ theo chi tiết trong truyện tường thuật thì việc đúc
tượng Phật, ngài Đạo An làm đầu tiên. Ngài Đạo An đúc
tượng Phật tại chùa Đàn Khê, Tương Dương, vào năm thứ
ba niên hiệu Ninh Khang. Ở đây đã ghi rõ, việc đúc tượng
xảy ra trước khi về Tương Dương. Xét theo năm này thì ngài
Đạo An có chép soạn kinh: “Đại minh hoán hách …. Do bị
hỏa hoạn ở Vân Dạ nên được cất giữ chỗ Hán Âm, tuy
có chỗ chứa nhưng không đủ” v.v… Gọi là “Hán Âm”
nhưng thật ra là lối chơi chữ, tức Tương Dương. Nếu ở
Giang Lăng thì không gọi Hán Âm . Nên biết trong năm nàyngài
Đạo An trở về Tương Dương nên mới có thể nói như vậy.
Ngài mới đến Giang Lăng, tuy chưa chắc chắn ở năm này nhưng
xét theo tháng 7 năm trước, ngài ở Tương Dương sau mới đến
Giang Lăng. Nếu đặt vào một thời điểm khác thì quá cấp
bách nên lấy năm này, ý là không quá xa.
Lại
chiếu theo việc Châu Tự trấn giữ Tương Dương sau đó ba
năm. Trong truyện tường thuật, ngài Đạo An về Tương Dương
xây chùa trước, sau lại nói Châu Tự trấn phía tây (Tương
Dương) mới thỉnh ngài về, điều này không sai lầm. Theo
đoạn văn sau sẽ rõ dụng ý này: Châu Tự thất thủ ở Trương
Bản, lại không rõ Châu Tự trấn giữ Tương Dương vào năm
nào (trong Cao tăng truyện, quyển 6, Huệ Viễn truyện dẫn:
Phù Phi đánh chiếm Tương Dương vào năm thứ 9 niên hiệu
Kiến Nguyên là nhầm). Cho nên phải phân tích việc đó, chứ
không thể nói cẩu thả được.
Đạo
An soạn chép kinh.
Cao
tăng truyện, quyển 5, Đạo An truyện viết: “Khi đến Tương
Dương, lại tuyên dương Phật pháp, …Từ thời Hán, Ngụy
đến thời Tấn có một số người truyền bá kinh điển nhưng
không nói rõ danh tánh, người sau truy tầm không biết niên
đại. Ngài Đạo An bèn tổng tập danh mục, theo niên biểu
mà biết người truyền bá. Ngài lại chú giải những tác
phẩm tân cựu (cũ mới), soạn chép kinh lục. Các kinh có cơ
sở dẫn chứng đều do công của ngài.”
Trong
Kinh lục ghi rằng: “Các bộ kinh này, soạn ra không chỉ một
thời mà từ thời Hiếu Linh Đế, niên hiệu Quang Hòa mãi
về sau. Đến đời Tấn, niên hiệu Ninh Khang năm thứ hai,
gần hai trăm năm, gặp chỗ thiếu chỗ đủ, chẳng phải một
người, rốt cuộc khó mà tổng hợp, thâu tóm nghĩa lý. Vì
lẽ đó mà soạn thành một quyển”. (Xuất tam tạng ký tập,
q.5, Đại tạng kinh q. 55). Đời nhà Tấn không có niên hiệu
“Khang Ninh”, “Khang Ninh” phải viết “Ninh Khang”, bởi
trong truyện viết nhầm. Từ đời Hậu Hán Linh Đế, niên
hiệu Quang Hòa năm đầu cho đến năm này là 196 năm nên mới
nói gần 200 năm.
Niên
hiệu Ninh Khang năm thứ 3, (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 11), nhằm năm Ất Hợi. Năm thứ 42.
Ngày
mùng tám tháng, cùng Đạo An đúc tượng Phật Thích Ca cao
1 trượng 6.
Cao
tăng truyện, Đạo An truyện viết: “Thứ sử Lương Châu
là Dương Hoằng Trung cúng dường một vạn cân đồng, dự
kiến sẽ định làm Thừa lộ bàn17. Ngài Đạo An bảo: Lộ
bàn đã giao cho Thái Công (Pháp Thái) tạo rồi. Ta muốn dùng
đồng để đúc tượng, sự thế như vậy có được không?
Hoằng Trung hoan hỷ vâng lời y giáo. Đại chúng cùng nhau lấy
đồng, trợ lực rót tượng Phật cao 1 trượng 6, tướng hảo
quang minh, thần sắc sáng rực (Cao tăng truyện q.5, tr. 3 thượng).
Thích
Đạo Tuyên Thích Ca phương chí ghi: “Ngày mùng tám tháng hai,
năm thứ 3 niên hiệu Ninh Khang … ngài Đạo An đúc tượng
Phật Vô Lượng Thọ cao 1 trượng 6, phía tây thành ở Tương
Dương. Mùa đông năm sau, công việc thành tựu rực rỡ”.
(Quyển 4, tr. 14 thượng) Đại sư Tấn Tương Dương trượng
lục kim tượng tụng ghi: “Viễn sinh ra đã giỏi, dạy cũng
tận tâm, khéo điều hành chúng hội, mọi người rất kính
phục, …. (trong mộng) thấy vị Sa-môn hết sức kỳ lạ,
dung nghi phảng phất, hiện ra chỉ khoảnh khắc. Tuy thần hồn
trong mộng nhưng rất tỉnh ngộ … . sau đó, ngài liền bảo
mọi người đúc tượng Phật ấy. Bấy giờ, tứ chúng đều
vui mừng, kẻ đạo người tục đồng qui ngưỡng hướng về.
… người người tháo vát công việc, không thấy ai than mệt
mỏi lao nhọc”. (Hoàng minh tập, q.16, trang 11 hạ) trong văn
tụng Đại sư: “Phật Thích Ca suốt đời giáo hóa không
ngừng.” Nên có thể biết đúc tượng ấy là tượng Phật
Thích Ca. Nhưng trong Thích Ca phương chí nói là tượng Phật
Vô Lượng, vậy thuyêt này chắc nhầm.
Tần
Vương Phù Kiên sai sứ cúng dường cho ngài Đạo An một tượng
Phật ngoại quốc, là tượng Phật Di-lặc.
Lương
thích bảo xướng danh tăng truyện chép rằng: “Phù Kiên sai
sứ cúng dường một tượng ngồi mạ vàng, cao bảy thước
mốt. Một tượng ngồi bằng vàng, một tượng Di-lặc kết
châu. Tượng thêu tơ vàng, tượng dệt (bằng châu ngọc, gấm,
tơ …) mỗi thứ một tấm. (Danh tăng truyện sao, Tục tạng
kinh nhị biên, bộ 7). Trong Cao tăng truyện cũng có ghi sự
việc này, ở sau có tường thuật chuyện đúc tượng nên
mới có chỗ căn cứ.
Tông
Bính18 sinh
Niên
hiệu Thái Nguyên (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên năm thứ
12), nhằm năm Bính Tý. Năm thứ 43.
Tháng
12, khi việc đúc tượng Phật cao một trượng sáu hoàn thành,
đại sư liền làm bài tụng Tấn Tương Dương trượng lục
kim tượng. Tháng tư năm đó, Thích Huệ Thường ở Lương
Kỳ cùng Đạo An, Trúc Pháp Hộ … dịch kinh Thủ lăng nghiêm
và tu sửa lại một số kinh khác. Tháng năm, thì soạn kinh
Quang tán Bát-nhã Ba-la-mật … Ngài Đạo An soạn hợp Phóng
quang, Quang tán tuỳ lược giải. Tháng 10 chuẩn bị soạn kinh
khác.
Đều
căn cứ theo các kinh sách không có tên họ mà dẫn soạn đầy
đủ bộ Thập trú tự (Xuất tam tạng ký tập, q.9, Đại tạng
kinh q.55, tr. 612 hạ), Đạo An hợp Phóng quang Quang tán tuỳ
giải tự (Xuất tam tạng ký tập, Đại tạng kinh q.55, tr.
47 hạ).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 2 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 13), nhằm năm Đinh Sửu. Năm thứ 44.
Châu
Tự làm Thứ sử Kinh Châu. Thứ sử Kinh Châu Hoàn Hoát mất,
Hoàn Xung kế vị, đổi lên trấn giữ Thượng Minh (nay phía
tây huyện Tùng Tư tỉnh Hồ Bắc. (Thông giám, q.104).
Châu
Tục Chi19 sinh.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 3 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 14), nhằm năm Mậu Dần. Năm thứ 45.
Tháng
hai, tướng Tần là Phù Phi công phá thành (Thông giám 104).
Quân
Tần tấn công thành, Đạo An bảo đại chúng phân tán. Huệ
Viễn cùng em là Huệ Trì, pháp hữu Đàm Huy và một số đệ
tử hơn 10 người bỏ Tương Dương về nam lánh nạn, đến
chùa Thượng Minh, thành Thượng Minh đất Kinh Châu.
Căn
cứ Cao tăng truyện, quyển 6, Huệ Trì truyện (tr. 13 hạ),
Đàm Huy truyện (quyển 5, tr. 17 hạ), trong bản truyện ghi:
“Tướng Tần Phù Phi thôn tính Tương Dương. Ngài Đạo An
vì Châu Tự nên lưu lại không thể ra đi, bèn phân tán đồ
chúng, mỗi người tuỳ nơi mình chọn. Giờ phút chia tay lên
đường, các vị Trưởng đức đều được ngài Đạo An dặn
dò dạy bảo nhưng riêng Huệ Viễn, ngài không nói lời nào.
Huệ Viễn quì thưa: ‘Thầy không dạy con lời nào, e rằng
con chẳng phải người mẫu mực’. Ngài Đạo An bảo: ‘Đối
với ông ta không còn lo gì nữa’. Viễn an lòng cùng đệ
tử hơn 10 người về nam, đến Kinh Châu, trú ở chùa Thượng
Minh.”
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 4 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 15), nhằm năm Kỷ Mão. Năm thứ 46.
Tháng
hai, quân Tần vây Tương Dương, Đạo An … bị bắt. (Xuất
tam tạng ký, Đạo An truyện, Thông giám, q.104).
Thích
Đàm Dực sinh. (Cao tăng truyện, Đàm Dực truyện, quyển 14,
tr. 16 thượng).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 5 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 16), nhằm năm Canh Thìn. Năm thứ 47.
Thích
Pháp Trang sinh.
Căn
cứ Cao tăng truyện, Pháp Trang truyện (quyển 14, tr. 4 hạ)
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 6 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 17), nhằm năm Tân Tỵ. Năm thứ 48.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 7 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 18), nhằm năm Nhâm Ngọ. Năm thứ 49.
Đạo
An theo quân Tần đến Trường An.
Căn
cứ theo Xuất tam tạng ký, Đạo An truyện, Đạo An Tỳ-kheo
đại giới tự (Xuất tam tạng ký tập, q.11, Đại tạng kinh
q.55), lời tựa: “Năm Thuần Đại20, từ Tương Dương đến
Quan Hữu (phía tây cửa Hàm Cốc).”
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 8 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 19), nhằm năm Quí Mùi. Năm thứ 50.
Đại
sư (Huệ Viễn) với bạn đồng học là Huệ Vĩnh, cùng hẹn
ước kết am (xây chùa) tại núi La Phù, nhưng đến lúc muốn
thực hiện lời giao ước xưa thì ngài lại cùng em là Huệ
Trì v.v… đến ở chùa Thượng Minh. Khi tới Tầm Dương, Giang
Châu, thấy cảnh Lô Sơn thanh tịnh, liền dừng chân dưỡng
tâm. Bạn đồng học Huệ Vĩnh cũng ở tại núi này, ngài
bèn ở lại tinh xá Long Tuyền, Lô Sơn.
Căn
cứ Cao tăng truyện (quyển 6, tr. 2 thượng), Huệ Vĩnh truyện
(quyển 6, tr. 25 hạ), Phật tổ thống ký ghi: Đại sư truyền
dạy rằng, năm xưa ta biết trước sẽ nương núi này tu hành
hoằng truyền Tịnh nghiệp (quyển 26, tr. 8 hạ). Đồ thư tập
thành, quyển 137 dẫn về niên phổ Huệ Viễn: “Vào năm thứ
8 (Quí Mùi) niên hiệu Thái Nguyên, Huệ Viễn bắt đầu đến
Lô Sơn).
Tháng
tám năm đó, tướng Tần Lữ Quang thảo phạt các nước Tây
Vực, Qui Tư … (Thông giám, q.105).
Tăng-già-đề-bà
(Chúng Thiên) đến Trường An, đất Tần (Căn cứ Đạo An
A-tỳ-đàm tự, Xuất tam tạng ký tập, q.10, Đại tạng kinh
q.55, tr. 72 hạ).
Thích
Đàm Ung theo ngài Đạo An xuất gia (Cao tăng truyện, quyển
6, Đàm Ung truyện, Thông giám, quyển 105).
Thích
Tăng Triệt sinh (Cao tăng truyện, q.7, tr. 24 hạ).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 9 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 20), nhằm năm Giáp Thân. Năm thứ 51.
Tháng
hai, Hoàn Y làm Châu thứ sử.
Châu
thứ sử Hoàn Y nghe Huệ Vĩnh nói là đại sư xây chùa Đông
Lâm ở Lô Sơn.
Căn
cứ trong Cao tăng truyện: “Huệ Vĩnh ở tại Tây Lâm cùng
bạn hiền đồng môn là Huệ Viễn. Bấy giờ Huệ Vĩnh nói
với Thứ sử Hoàn Y: ‘Viễn Công đến đây hoằng đạo,
nay đồ chúng đã nhiều, học giả các nơi đều qui tụ về.
Chỗ của bần đạo hiện nay quá nhỏ hẹp, không phải nơi
tương xứng, vậy phải làm thế nào?’ Hoàn Y bèn cúng dường
đất phía đông của núi, lập phòng điện, tức đất Đông
Lâm.” Căn cứ trong Cao tăng truyện thì biết, ngôi chùa ấy
khai sáng và hoàn thành sau năm đó, sau Hoàn Y làm Thứ sử,
trước năm thứ 11 niên hiệu Thái Nguyên.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 10 (Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên
năm thứ 21), nhằm năm Ất Dậu. Năm thứ 52.
Ngày
mùng tám tháng hai, ngài Đạo An thị tịch tại chùa Ngũ Cập,
Trường An, đất Tần.
Căn
cứ trong Xuất tam tạng ký tập, quyển 15, Đạo An truyện
(Đại tạng kinh q.55, tr. 109 thượng).
Thâu
nhận đệ tử Thích Đàm Ung (không rõ năm nào).
Căn
cứ theo Cao tăng truyện, Đàm Ung truyện ghi: “Đàm Ung theo
An Công xuất gia. Khi An Công quá vãng thì tới Lô Sơn nhận
Viễn Công làm thầy. (quyển 6, tr. 18 hạ)
Tạ
Linh Vận sinh21 (Tống thư Linh Vận truyện, q.67, tr. 1 thượng)
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 11 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ nhất), nhằm năm Bính Tuất. Năm
thứ 53.
Chùa
Đông Lâm hoàn thành. Từ đó, đại sư (Huệ Viễn) ở chùa
Đông Lâm. (Thập bát hiền truyện, Lô sơn ký q.3, tr. 36 hạ)
Lôi
Thứ Tông22 sinh.
Tăng-già-đề-bà
và Pháp Hòa từ nước Tần đến thành Lạc Dương dịch kinh
(không rõ ở đâu, năm nào). Căn cứ Xuất tam tạng ký tập,
quyển 13, Đề-bà truyện (Đại tạng kinh q. 55, tr. 99 thượng)
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 12 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 2), nhằm năm Đinh Hợi. Năm thứ
54.
Trúc
Pháp Thái viên tịch ở chùa Ngõa Quan, Kinh Sư. Căn cứ theo
Thái nguyên khởi cư chú (Thế thuyết tân ngữ bát chú, q.4,
tr. 6 hạ), Cao tăng truyện, Pháp Thái truyện (quyển 5, tr. 12
hạ).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 13 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 3), nhằm năm Mậu Tý. Năm thứ
55.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 14 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 4), nhằm năm Kỷ Sửu. Năm thứ
56.
(Huệ
Viễn) thâu nhận đệ tử Thích Pháp Trang. (Cao tăng truyện,
Pháp Trang truyện, q.14, tr. 4 hạ)
Phạm
Ninh23 làm Thái thú Dự Chương.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 15 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 5), nhằm năm Canh Dần. Năm thứ
57.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 16 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 6), nhằm năm Tân Mão. Năm thứ
58.
Tăng-già-đề-bà
đến Lạc Dương24.
(Huệ
Viễn) thỉnh Tăng-già-đề-bà dịch Pháp thắng A-tỳ-đàm
tâm luận, Tam pháp độ luận.
Đầu
tiên ngài Đạo An ở tại thành Trường An nước Tấn, thỉnh
những vị Sa-môn ngoại quốc dịch các bộ luận này. Do người
dịch chưa thông thạo ngôn ngữ nước Tấn nên dịch nhiều
chỗ chưa hoàn hảo lắm. Khi ngài Tăng-già-đề-bà đến, đại
sư đưa hai bộ luận này, ngài Tăng-già-đề-bà mới dịch
lại và do Đạo Từ biên chép, hoàn thành bộ A-tỳ-đàm tâm
luận, 4 quyển; Tam pháp độ luận, 3 quyển. Tất cả đại
sư đều ghi lời tựa.
Căn
cứ Xuất tam tạng ký tập, quyển 10 ghi, Đại sư A-tỳ-đàm
tâm tự (tựa) (Đại tạng kinh q. 55, tr. 72 hạ), Tam pháp độ
tự (tr. 73 thượng), Thất danh A-tỳ-đàm tâm tưï (tr. 72 hạ),
Tăng-già-đề-bà truyện, Cao tăng truyện, Đại Đường nội
điển lục, Đạo Tuyên soạn, q. 9 (Đại tạng kinh q. 55, tr.
325 thượng). Năm này, ngài nhận đệ tử Thích Đạo Kính
(Thập bát hiền truyện).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 17 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 7), nhằm năm Nhâm Thìn. Năm thứ
59.
Mùa
đông tháng 11, Ân Trọng Kham do Hoàng Môn Lang đưa ra làm Thứ
sử Kinh Châu, lại lên núi gặp đại sư đàm luận Dịch học.
Ông ta hỏi đại sư, Dịch lấy gì làm thể. Đại sư đáp:
Lấy cảm làm thể. Trọng Kham lại hỏi: Núi Đồng tây lở,
chuông Linh đông ứng, vậy là Dịch sao? Đại sư cười không
đáp. Căn cứ theo Tống Lưu nghĩa khánh thế thuyết tân ngữ
(quyển 2, tr. 11 thượng), Cao tăng truyện, Thông giám (quyển
108).
Năm
ấy, đại sư thấy một số kinh, luật, luận chưa hoàn bị,
ngài bèn bảo đệ tử là Chi Pháp Lãnh, Pháp Tịnh v.v… sang
Thiên Trúc tìm thêm kinh điển. Căn cứ Cao tăng truyện (quyển
6, tr. 6 hạ), Tứ phần luật tự, Khai nguyên thích giáo lục,
quyển 4, Trí Thăng soạn đời Đường (Đại tạng kinh q. 55,
tr. 517 thượng).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 18 (Đời Hậu Tần vua Diêu Trường,
niên hiệu Kiến Sơ năm thứ 8), nhằm năm Quí Dậu. Năm thứ
60.
Từ
đó đại sư ra khỏi núi.
Trong
văn bia Pháp sư Lô Sơn ghi: “Từ năm đó đến năm Nhĩ Thuận
(60 tuổi), đi không ra khỏi núi”.
Mùa
thu thì soạn chép kinh sách và dựa vào đó soạn Thích nghi
luận, đại sư nói rằng, muốn hiểu điều gì phải suy tận
cùng cái lý của nó. Từ đó mới có thể phân định, luận
đàm về việc tích thiện, tích ác … Đó là lời chỉ dạy
cho người.
Châu
Tục Chi xem bộ luận đó, rồi trước tác Nan thích nghi luận.
Căn cứ theo Hoằng minh tập, Đạo Tuyên soạn đời Đường
(quyển 20, tr. 2 thượng đến tr. 4 hạ), Tấn thư đới lục
truyện (quyển 94), Tống thư Châu Tục Chi truyện (quyển 93).
Năm
sau lại chú thích (kinh sách).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 19 (Đời Hậu Tần vua Diêu Hưng,
niên hiệu Hoàng Sơ năm đầu), nhằm năm Giáp Ngọ. Năm thứ
61.
Đại
sư phúc đáp sách Đới Quì25, ngài bảo lấy Nan thích nghi
luận của Châu Tục Chi phúc đápsách của Quì, để trùng
tuyên lại nghĩa trước. Nhân đó, đại sư cũng trước tác
Tam báo luận, nói rõ về thiện, ác, có Hiện báo, Sanh báo,
Hậu báo. Mục đích trả lời sách của Đới Quì. Căn cứ
Hoằng minh tập (quyển 5, tr. 26 thượng), Quảng hoằng minh
tập (quyển 26, tr. 10 thượng): Đại sư, Châu Tục Chi cùng
Đới Quì luận về việc khó hiểu của nghiệp báo. Sau khi
Châu Tục Chi lên núi thì trước đó Đới Quì chưa mất. Quì
mất vào năm thứ 20 niên hiệu Thái Nguyên, lúc này Tục Chi
18 tuổi nhưng trong Tống thư nói là 13 (ý này nhầm). Vì ngài
ở chỗ Phạm Ninh học nhiều năm, rồi đến Lô Sơn, thì khoảng
trước sau năm thứ 17 niên hiệu Thái Nguyên. Khoảng hai hay
ba năm. Lại khảo cứu trong sách của đại sư nói rằng: Qua
mùa thu, mọi người cùng đoc luận của ngài, biết được
Quì gửi luận phúc đáp với đại sư, sự việc cách một
năm.
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 20 (Đời Hậu Tần vua Diêu Hưng,
niên hiệu Hoàng Sơ năm thứ 2), nhằm năm Ất Mùi. Năm thứ
62.
Bạn
đồng học Thích Đàm Huy viên tịch ở chùa Thiện Minh tại
Kinh Châu (Cao tăng truyện q.5, Đàm Huy truyện, tr. 17 thượng).
Đới Quì mất (Tấn thư Đới Quì truyện, q.94).
Niên
hiệu Thái Nguyên năm thứ 21 (Đời Hậu Tần vua Diêu Hưng,
niên hiệu Hoàng Sơ năm thứ 3), nhằm năm Bính Thân. Năm thứ
63.
Sư
đệ Huệ Trì đưa người cô là Tỳ-kheo ni Đạo Nghi đến
Kinh Sư (căn cứ theo Lương Thích Bảo Xương Tỳ-kheo ni truyện,
q.1, tr. 11 hạ, Cao tăng truyện, q.6, tr. 13 hạ).
Lưu
Trình Chi lên núi (Quảng hoằng minh tập, q.32, tr. 1 thượng).
Đời
Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông, niên hiệu Long An năm
đầu (Đời Hậu Tần vua Diêu Hưng, niên hiệu Hoàng Sơ năm
thứ 4), nhằm năm Đinh Dậu. Năm thứ 64.
Tăng-già-đề-bà
và Đạo Từ đến Kinh Sư, cùng Huệ Trì, Trúc Đạo Tổ v.v…
dịch lại kinh Tăng nhất A-hàm, Trung A-hàm.
Theo
trong Đạo từ trung A-hàm tự (Xuất tam tạng ký, q.9, Đại
tạng kinh q.55, tr. 64 thượng), Khai nguyên thích giáo lục, quyển
2 (Đại tạng kinh q.55, tr. 505 hạ), Xuất tam tạng ký tập,
quyển 13, Đề-bà truyện (Đại tạng kinh q.55, tr. 99 trung).
Lôi
Thứ Tông lên núi (Tống thư Thứ Tông truyện, quyển 93)
Trúc
Đạo Sinh đến núi (Xuất tam tạng ký tập, quyển 15, Đạo
Sinh truyện, Đại tạng kinh q.55, tr. 110)
Thích
Đạo Ôn sinh (Cao tăng truyện, q.8, Đạo Ôn truyện, tr. 7 hạ)
Đời
Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông, niên hiệu Long An năm
thứ 2 (Đời Hậu Tần vua Diêu Hưng, niên hiệu Hoàng Sơ năm
thứ 5), nhằm năm Mậu Tuất. Năm thứ 65.
Hoàn
Huyền chinh phạt Ân Trọng Kham, quân đi qua Lô Sơn, muốn đại
sư ra khỏi Hổ Khê nhưng đại sư cáo bệnh không đi được
nên Hoàn Huyền đích thân vào núi. Người hầu nói với Hoàn
Huyền: “Xưa Ân Trọng Kham có vào núi kính lễ Viễn Công.
Xin ngài chớ tôn kính ông ta”. Nhưng khi Hoàn Huyền diện
kiến đại sư bất giác kính ngưỡng hết sức. Huyền hỏi:
“Không dám làm bị thương thì vót tên nhọn để làm gì?
(không dùng chinh chiến thì cai trị quốc gia như thế nào?)”.
Đại sư đáp: “Lập thân hành đạo”. Huyền nghe trả lời
hay và được thỏa mãn câu hỏi nên không dám trả lời lại,
bèn hỏi về ý nghĩa chiến tranh. Đại sư không trả lời.
Huyền hỏi: “Đại sư nguyện gì?” Đại sư đáp: “Nguyện
cho Đàn-việt an ổn, để họ không giống như ngài”. Huyền
ra về nói với thuộc hạ: “Một người thật hiếm thấy
trong đời”. Căn cứ trong Cao tăng truyện (quyển 6, tr. 9 hạ),
Thông giám (quyển 110, tr. 8 thượng).
Hoàn
Huyền làm Châu thứ sử (Thông giám, q.110, tr. 7 hạ).
Dự
Chương Thái Thú Phạm Ninh (Phạm Ninh làm Thái thú ở Dự Chương)
thỉnh ngài Huệ Trì giảng kinh Pháp hoa (Cao tăng truyện, Huệ
Trì truyện, q.6, tr. 14 thượng).
Đào
Uyên Minh26 đến Kinh Khẩu làm Tham quân cho Trấn quân tướng
quân Lưu Lao Chi27. (Tống thư Đào Tiềm truyện, q.94, Thông
giám, q.110).
Đời
Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông, niên hiệu Long An năm
thứ 3 (Đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thuỷ năm đầu),
nhằm năm Kỷ Hợi. Năm thứ 66.
Châu
thứ sử Hoàn Huyền có ý mời đại sư về kinh, ông viết
thư khuyên đại sư bỏ đạo: “Lý Phật thâm sâu, há suốt
đời tập cầu mãi sao. …Tiên Thánh có nói, sinh còn chưa
biết huống gì biết tử, mà khiến cho một đời này hình
hài khốn khổ, để cầu phước báo mờ mịt ở dưới suối
vàng. … Mê mà biết trở lại thì nên bỏ đạo, thế cũng
chưa muộn, tuổi sắp già rồi thật đáng thương thay! Tạm
tặng vài lời chân thành mong thọ nhận cho điều ấy.”
Đại
sư hồi âm cự tuyệt: “Đời người sống trong trời đất
như bóng câu qua khe cửa, lấy việc đó mà suy thì mấy ai
được sống lâu dài. Vậy sao không làm một việc gì đó
để lại cho hậu thế. … Một đời vinh hoa phú quí như tia
chớp tụ rồi tan, biết tham bao nhiêu cho đủ đây! … Bần
đạo hình chẳng ra người, tài vật không bằng thế gian,
cho nên huỷ bỏ hình hài này, lý ấy đã bị bần đạo chiết
phục, cắt đứt. Tâm bần đạo chưa mờ để Huyền giáo
hóa. Viễn này còn giữ pháp chế của bậc Đại thánh, há
có thể bỏ bổn hoài đó mà quên đi lời dạy của Cao nhân
hay sao?!”. Căn cứ Hoằng minh tập, ghi Hoàn Huyền cùng Viễn
pháp sư viết thư (quyển 11, tr. 22 thượng, Đại sư đáp Hoàn
Nam Quận thư, q.22 hạ), Xuất tam tạng ký, quyển 15 (Đại
tạng kinh q.55, tr. 110), Cao tăng truyện (quyển 6, tr. 10 thượng).
Căn
cứ trong Cao tăng truyện thuật lại việc này: Sau khi Hoàn
Huyền gặp đại sư, trước tiên Huyền sa thải chúng Tăng.
Xét sự việc hình như năm này Hoàn Huyền đang ở Tầm Dương.
Bởi từ tháng 12 năm đó, Hoàn Huyền đến Giang Lăng, không
rảnh rổi đến đây vậy!
Tháng
12 năm đó, Hoàn Huyền phát binh đánh Giang Lăng, Ân Trọng
Kham bị hại (Thông giám, q.111, tr. 6 hạ).
Sư
đệ Huệ Trì từ biệt đến thành đô (Cao tăng truyện, Huệ
Trì truyện, q.6, tr. 14 hạ).
Tạ
Linh Vận bắt đầu từ Tiền Đường về Kinh Sư (Tống Lưu
Kính Thúc dị uyển, q.7, tr. 37 thượng).
Đời
Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông, niên hiệu Long An năm
thứ 4 (Đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thuỷ năm thứ 2),
nhằm năm Canh Tý. Năm thứ 67.
Tháng
5 mùa Hạ, ngài cùng đồ chúng hơn 30 người đến Thạch Môn,
làm bài thơ “Ngũ ngôn du Lô Sơn”. Từ Lưu Trình Chi, Vương
Kiều Chi, Trương Dã đều làm thơ hòa, hoặc làm tựa ghi lại
sự việc này. Thơ ghi trong Tống Trần Thuấn Du Lô Sơn ký
(quyển 4, tr. 6 thượng), Thất danh thị Lô Sơn chư đạo nhân
du Thạch Môn thi ký (Lô Sơn cổ kim du ký tùng sao, quyển thượng,
tr. 6 thượng).
Tháng
5 năm đó, Đào Uyên Minh từ Kinh Sư trở về Sài Tang. Căn
cứ trong Tĩnh Tiết tiên sinh tập canh tý tuế ngũ nguyệt trung
tùng Đô Hoàn Trở Phong ư qui lâm thi (quyển 3, tr. 2 hạ).
Đời
Đông Tấn, An Đế Tư Mã Đức Tông, niên hiệu Long An năm
thứ 5 (Đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thuỷ năm thứ 3),
nhằm năm Tân Sửu. Năm thứ 68.
Ngày
20 tháng 12, Cưu-ma-la-thập (Đồng Thọ) từ Kinh Châu đến
Trường An, nước Tần. Căn cứ Xuất tam tạng ký, Tăng Duệ
đại phẩm kinh tự (Đại tạng kinh q. 55, tr. 521), Đại trí
luận ký (Đại tạng kinh q.55, tr. 75), La-thập truyện (Đại
tạng kinh q.55, tr. 100).
Đào
Uyên Minh đến Giang Lăng. Căn cứ Tĩnh Tiết tiên sinh tập
tân sửu tuế thất nguyệt phó Giả Hoàn Giang Lăng thi (quyển
3, tr. 12 thượng).
Tạ
Linh Vận được phong hiệu Khang Lạc Công (Tống thư Tạ Linh
Vận truyện, quyển 67).
Niên
hiệu Nguyên Hưng năm đầu (niên hiệu Hoằng Thuỷ năm thứ
4), nhằm năm Nhâm Dần. Năm thứ 69.
Tháng
hai, ngài Cưu-ma-la-thập dịch kinh A-di-đaø. Căn cứ Đường
nội điển lục 3 (Đại tạng kinh q.55, tr. 253), Khai nguyên
thích giáo lục 4 (Đại tạng kinh q.55, tr. 512).
Hoàn
Huyền dẫn binh vào Kinh Sư, tháng 3 đổi niên hiệu Nguyên
Hanh thành Đại Hanh. Hoàn Huyền làm Thái uý (Thông giám, q.112,
tr. 9 thượng, hạ).
Thái
uý Hoàn Huyền muốn sa thải Tăng chúng, đại sư viết thư
làm luận nói rõ sự được mất với Hoàn Huyền.
Hoàn
Huyền cùng Liêu Thuộc bảo rằng: “Đạo Phật quí là chỗ
Vô vi … tuyệt dục … nếu bắt họ lăng trì thì chắc phải
bỏ đạo. Đất Kinh Sư, họ sống xa hoa, dâm dục, …. làm
ô uế danh khí, lại lánh việc nặng nhọc trốn nơi xa xăm,
hoặc tập trung đầy ở chùa miếu. … tổn thương chính trị,
gây hại quốc gia, bụi trần cặn đục Phật giáo. … Có
thể nghiêm trị những hạng Sa-môn này. Nhưng vị nào có khả
năng biên chép, đối đáp kinh điển, xướng thuyết nghĩa
lý trong đạo, hoặc tu trì tinh nghiêm giới luật, … hay người
thường ở nơi A-luyện-nhã28, chí dưỡng nơi núi rừng, không
giao lưu với người thế tục, tất cả đều chờ thời đủ
cơ duyên ra giáo hóa. … Còn số người phạm giới ở đây
bắt phải bỏ đạo. Chính quyền địa phương buộc Tăng chúng
phải đăng ký hộ tịch, nghiêm theo qui tắc nhà nước. …
Riêng nơi Lô Sơn là chỗ đạo đức nên không cần phải dùng
luật lệ tra xét”.
Đại
sư viết thư cho Hoàn Huyền: “Phật giáo hủ bại, ngày càng
uế tạp, mỗi lần suy nghĩ thì buồn rầu phẫn uất. … Thấy
Đàn-việt lắng lòng nghe lời dạy của Đạo nhơn thật hợp
với lòng mình. Luận rằng đục lấy trong để gạn, cong lấy
thẳng để phân, trong đục khác dòng, cong thẳng cách biệt.
Thể dụng phù hợp thì nhị lý dung thông, nhiên hậu giúp
cho kẻ nguỵ tạo lấy điều tốt bỏ đi con đường sai lầm
và khiến cho hàng thế tục kính tín đạo chân chánh không
còn trở lại chê bai nữa.
Kinh
giáo đặt ra có ba điều: Thứ nhất là tinh tấn thiền định,
thứ hai là đọc tụng kinh điển, thứ ba là kiến tạo phước
nghiệp. Tuy ba điều dạy khác nhau nhưng đều lấy luật hạnh
làm gốc. Qui tắc của Đàn-việt cũng giống điều này. Chuyện
này không còn nghi ngại, vì có nguời đã tăng trưởng phước
báo, bên trong không huỷ cấm giới, mà những người này không
phải trong số người tu ở A-luyện-nhã, tụng kinh nhiều,
ngâm vịnh bất tuyệt. Cũng chẳng phải người thường giảng
thuyết kinh điển, hoặc bậc Cao niên kỳ túc, đồng thời
tuy không nhớ ba điều trên nhưng thể tánh chánh trực, không
phạm trọng tội. Như vậy thảy thảy đều không còn ngờ
vực nữa. Nay nhìn những tấm gương của một số Đàn-việt
không nên tra hỏi mà khiến mọi người hoảng sợ không được
an ổn.
Luận
rằng, hình ảnh dấu tích dễ tìm nhưng chân ngụy (sai trái)
thì khó phân, nếu chính mình không rõ thì việc ấy khó tin.
… Việc Sa-môn ở các đô ấp qua lại với Đàn-việt, nếu
có người thấy nghe thì chuyện ấy không nghi gì; hoặc (chuyện
ấy) xa sở cách ty (quan), sự biết mập mờ thì chưa đạt
lý lẽ, hoặc phụng lệnh mà hại đến người lành thì việc
ất thật đáng buồn. Nếu quan sở tại chấp vào pháp luật,
ý còn chưa rõ thì xin một khi khác Sa-môn sẽ đến đại phủ,
đem kinh giảng nghĩa lý rộng hơn”.
Hoàn
Huyền liền đồng ý lý giải của đại sư. Căn cứ Hoằng
minh tập, quyển 12 ghi việc Hoàn Huyền cùng Liêu Thuộc bảo
sa thải Tăng chúng, đại sư cùng Thái uý Hoàn Huyền viết
thư luận xét nghĩa lý (tr. 32 thượng, 31 hạ).
Căn
cứ Cao tăng truyện (quyển 6, tr. 10 thượng), Phật tổ thống
ký: “Việc Hoàn Huyền sa thải Tăng chúng vào năm thứ 2 niên
hiệu Long An (quyển 36, tr. 13 thượng). Nhưng trong Cao tăng truyện
thuật sự việc: Sau khi Hoàn Huyền khuyên đại sư bỏ đạo
và bắt Sa-môn kính vương giả, không phải năm thứ 2 niên
hiệu Long An. Nay truy tìm luận thư của Huyền và thư phúc
đáp của đại sư thì rõ Hoàn Huyền đến Kinh Sư, lúc ấy
làm Thái uý. Tháng hai năm đó Huyền đến Kinh Sư, tháng ba
từ chức Thừa tướng đổi Thái uý, tháng tư ra khỏi Cô
Thục, sự việc này xảy ra khoảng giữa tháng hai năm đó.
Tháng
tư, Thái uý Hoàn Huyền ra khỏi đất Cô Thục, muốn sa thải
Sa-môn và bắt Sa-môn phải tôn kính hàng vương giả và cùng
Bát Tòa Thư nói rằng: “Tại sao Sa-môn không kính vương giả?
Tuy đã luận về việc đó nhưng chưa có lý để quật ngã
điều đó. … Đức Phật giáo hóa lấy sự tôn kính làm gốc
… Lão Tử đồng với vương hầu ở ngôi tam đại (Thiên,
địa, nhân). Luận về nguồn gốc sự quan trọng ấy, … đều
tại của cải sự sống thông vận với nhau, … như lấy đức
lớn của trời đất hợp lại gọi sinh (sống). Thông rõ thấu
cuộc sống hiểu cái lý sự vật đều tồn tại ở vương
giả (người giàu sang). Cho nên phải tôn kính thần khí ấy
(sự giàu sang), thì lễ nghi mới thật cao quí. …. Sự sống
còn và tư tài của Sa-môn thọ dụng thường nhật há không
thừa hưởng cái đức, cái lý đó hay sao? Nếu thấm đượm
cái ân đó sao không tỏ lòng tôn kính!?”.
Khi
ấy Thượng thư Linh Hoàn Khiêm, Lãnh quân tướng quân Vương
Mật đều không nói như vậy. Họ thường cùng Huyền qua lại
luận nạn. Huyền lại lấy việc đó cùng Bát Tòa Thư bảo
đại sư rằng: “Sa-môn bất kính vương giả, xét về tình
đã không đúng, đối với lý thì chẳng thuận. Việc lớn
một đời không cho cáithể của mình gần gũi, thì nay tôi
cùng Bát Tòa Thư khuyên ngài, ngài có thể thuật lại để
Sa-môn tôn kính vương giả. … Để hành sự điều này không
thể lệnh ban một hai lần là xoay chuyển được. … Vương
Lãnh Quân cũng có nhã ý này. …. Căn cứ theo cái lý hơi khác
thì chưa thể giải thích mối nghi liền được. … Lệnh cho
Quách Giang Châu nhận thư phúc đáp của ngài cũng vì mục
đích đó”.
Đại
sư đáp thư: “Kinh Phật dạy rõ có hai khoa. Một là nhập
thế hoằng hóa, hai là xuất gia tu đạo. … Người xuất gia
là khách bên ngoài, … đã tránh được cái hoạn gia duyên
trói buộc, thân được giải thoát và biết đời là huyễn
hóa, không thuận tạo hóa mà cầu cạnh. Cho nên không trọng
tài chất, xem nhẹ sinh mạng, … ẩn cư dưỡng trí, bỏ đời
tu đạo, thoát tục giữ giới, ẩn cư là điều cao thượng,
cho nên không thể đồng tục lễ bái! … Tuy bên trong trái
ngược với trời đất nhưng không nghịch hiếu đạo; ngoài
khiếm khuyết cung phụng vương chúa mà lòng vẫn giữ chữ
kính. …. Một người toàn đức thì đạo hợp lục thân,
hòa thiên hạ, tuy không ở địa vị vương hầu nhưng đã
khế hợp Hoàng cực (ngôi vua), như vậy đã che chở sự sống
cho dân rồi. Há đâu có ngồi không hưởng cái đức kia, đón
ân huệ nọ. …. Ca-sa chẳng phải sắc phục của triều tông
ban thưởng, bát đất đâu phải vật qúi giá, lẽ nào hạ
mình lễ bái các vị … trộm nghĩ điều đó chưa đúng”.
Căn cứ Hoằng minh tập, quyển 12, Hoàn Huyền dữ Bát Tòa
Thư (tr. 14 hạ), Viễn pháp sư thư (tr. 25 hạ), Đại sư đáp
Hoàn thái uý thư (tr. 2 thượng), Cao tăng truyện (quyển 6 tr.
10 hạ), Thông giám (quyển 112, tr. 10 thượng).
Ngày
28 tháng 7, sư lập hội niệm Phật, nguyện trọn đời tu Tịnh
nghiệp và nguyện cầu vãng sanh Tịnh độ. Những người đồng
chí hướng với ngài như Lưu Trình Chi, Lôi Thứ Tông, Châu
Tục Chi, Tất Dĩnh Chi, Tông Bính, Trương Dã, Trương Thuyên,
Vương Kiều Chi, Huệ Vĩnh, Trúc Đạo Sinh và số đệ tử
của ngài: Huệ Duệ, Huệ Nghiêm, Huệ Quán, Đạo Bĩnh, Đạo
Kính, Đàm Hằng, Đàm Sẫn, Đàm Dực, Đàm Ung, Tăng Tế, Tăng
Triệt, Pháp An, Huệ