08
CUỘC
ĐỜI VÀ TƯ TƯỞNG NIỆM PHẬT
CỦA
ĐẠI SƯ HUỆ VIỄN
Nguyên
tác: Đại sư Diễn Bồi
Việt
dịch: Thích Quảng Mẫn
I
Pháp
môn Tịnh độ là một trong muôn vàn pháp môn tu tập của
giáo lý Phật đà. Nó được xem là pháp môn phương tiện
thù thắng nhất mà đức Phật đã khéo léo mở bày đúng
theo căn cơ của chúng sanh trong thế giới Ta bà. Chỉ cần
niềm tin vững chắc, ước nguyện thành khẩn và nương theo
giáo pháp thực hành thì nhất định sẽ được sự lợi ích
sanh về thế giới Cực lạc. Cũng vì lẽ đó mà tông phái
Tịnh độ đặc biệt được thịnh hành ở Trung Quốc.
Bàn
đến tư tuởng Tịnh độ, không cần phải nói cũng biết
giáo thuyết này xuất phát từ kinh điển Đại thừa. Cõi
Tịnh độ vốn được kinh sách bàn đến rất nhiều, nhưng
cõi Tịnh độ của riêng một đức Phật được thể loại
kinh đặc biệt bàn luận, cũng như lời mọi người thường
nói, thì chỉ có các cõi nước thanh tịnh của đức Phật
A-súc, đức Phật Dược Sư và đức Phật A-di-đà. Như nói
cõi Tịnh độ của đức Phật A-súc thì có kinh A-súc Phật
quốc; cõi Tịnh độ của đức Phật Dược sư thì có kinh
Dược Sư Như Lai bổn nguyện. Nói đến cõi Cực lạc của
đức Phật A-di-đà thì có kinh A-di-đà v.v… Trong đó, những
kinh giới thiệu về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà
chiếm số lượng nhiều nhất. Điều này cũng dễ hiểu, vì
những người tu theo pháp môn Tịnh độ ở Trung Quốc rất
tôn sùng cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà ở phương
Tây và vô cùng khát ngưỡng được vãng sanh về thế giới
Cực lạc này.
Trong
ba kinh Tịnh độ trên, đức Phật tuy giới thiệu cho mọi
người cõi Cực lạc phương Tây nhưng nơi xây dựng cho tư
tưởng Tịnh độ thành một tông phái độc lập, thì đó
là ở Trung Hoa chứ không phải là Ấn Độ. Người tu pháp
môn Tịnh độ thời nay điều biết đại sư Huệ Viễn ở
núi Lô Sơn là người đầu tiên sáng lập ra đạo tràng Liên
xã, để cầu nguyện vãng sanh Cực lạc. Nhưng theo sự ghi
chép của sách cổ thì người đầu tiên cầu sanh Cực lạc
là Khuyết Công Tắc đời Tây Tấn, rồi sau mới đến ngài
Huệ Viễn ở triều đại Đông Tấn. Tuy nhiên, Khuyết Công
Tắc chỉ là một người chuyên tu chứ chưa đem tư tưởng
Tịnh độ quảng bá vào quần chúng. Người có tầm ảnh hưởng
đến quần chúng và cùng tu tập pháp môn Tịnh độ với mọi
người, đó là đại sư Huệ Viễn.
Những
điều trên đây không ngoài việc giúp những người tu trì
pháp môn niệm Phật hiểu rõ về vị đã sáng lập ra Liên
tông. Phần dưới đây xin giới thiệu những nét đặc trưng
về tư tưởng niệm Phật cũng như sự tích của đại sư
Huệ Viễn để làm gương cho mọi người noi theo.
II
Đại
sư Huệ Viễn là người sống ở triều đại Đông Tấn, nhằm
vào đời vua Thành Đế niên hiệu Hàm hoà năm thứ chín (Tây
Lịch 334). Ngài sinh ở Nhạn Môn huyện Lâu Phiền (tức huyện
Quách, Đại Châu, tỉnh Sơn Tây). Thuở nhỏ rất ham đọc
sách, năm mười ba tuổi, ngài bắt đầu đến Hứa Châu tỉnh
Hà Nam du học. Với bẩm tánh thông minh lanh lẹ, chẳng bao
lâu đại sư đã làu thông Lục kinh và rất tâm đắc về
giáo học của Lão Trang. Các bạn đồng học thời bấy giờ
không những đối xử với đại sư một cách đặc biệt
như bậc anh tú của Nho học, mà còn rất quí trọng và xem
ngài là một người thành tựu rực rỡ nhất. Lúc hai mươi
mốt tuổi, ngài muốn du hành đến Giang Đông tìm các bậc
học giả nổi tiếng để nâng thêm tầm hiểu biết của mình,
nhưng vì lúc ấy Trung Nguyên đang có nạn binh đao, giao thông
ách tắc nên ngài không xuống phía nam được và đành ở
lại Trung Nguyên. Tuy vậy, lòng thao thức đến việc học hỏi,
cầu đạo của đại sư vẫn không suy giảm. Ngài luôn luôn
mong ngóng gặp được một bậc minh sư để thoả ước nguyện
của mình. Đang lúc như thế thì ngài nghe đâu đại sư Đạo
An đang xây dựng tự viện và giảng pháp ở Hằng Sơn, Thái
Hành (tức châu Hỗn Nguyên, phủ Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây)
nên vui mừng đến nơi ấy và bắt đầu theo học với đại
sư. Gặp lúc thầy Đạo An đang giảng kinh Bát-nhã cho đại
chúng, ngài Huệ Viễn vừa nghe xong liền có chút sở ngộ,
và từ đó xin phát tâm xuất gia làm đệ tử đại sư. Sau
khi xuất gia, ngài thường ước mong thấu đạt cương yếu
của Phật pháp và xem đại pháp như là trách nhiệm của chính
mình. Do đó, ngài luôn tinh tấn hành đạo, chẳng chút trễ
nãi biếng nhác. Đại sư Đạo an thấy ngài có đầy đủ
túc căn, lại hết lòng vì đạo pháp nên thường khen ngợi
rằng: “Khiến cho Phật pháp lưu truyền rạng rỡ ở nước
Đông (Đông Tấn) ấy chẳng phải là Huệ Viễn đó sao?”.
Chỉ một lời này thôi chúng ta cũng có thể tưởng tượng
tài đức của ngài như thế nào rồi.
Về
sau, khi ở Tương Dương, đại sư Đạo An đã cho đệ tử
của mình đi khắp nơi xiển dương Phật pháp. Mỗi khi một
người đệ tử nào đó ra đi, đại sư cũng ân cần
dạy những lời thiết thực: Bảo vị ấy phải truyền bá
giáo pháp như thế nào, độ người ra sao v.v… Nhưng riêng
ngài Huệ Viễn thì đại sư không dạy một lời nào, điều
này khiến ngài Huệ Viễn cảm thấy rất buồn. Như tự cho
mình là người không xứng đáng được thầy dạy bảo nên
ngài buồn lo đến trước đại sư quì xuống thưa rằng: “Đệ
tử đợi mãi mà không nghe thầy nhắn nhủ điều gì cả …,
phải chăng đệ tử chẳng đủ khả năng để được thầy
giao phó?”. Khi xa rời bậc thầy kính yêu của mình mà không
nghe thầy dạy một lời nào thì đương nhiên có cảm nghĩ
như trên. Nhưng đại sư Đạo an có xem ngài Huệ Viễn là
một người không xứng đáng để dạy không? Chắc chắn là
không. Đại sư hiểu đệ tử mình rất rõ, thấy học trò
là một người nhiệt tâm vì đạo pháp, tinh tấn tu học nên
không cần dạy thêm điều gì nữa, hễ gặp chuyện thì tự
nhiên hoàn thành công việc tốt đẹp. Cho nên đại sư
trả lời ngài Huệ Viễn rằng: “Người như thầy đây thì
Lão Tăng còn gì để lo lắng nữa … ta cũng không còn gì
để nói cho thầy! Từ nay về sau nhất định thầy sẽ làm
rạng rỡ Phật pháp. Thôi! Thầy hãy đi đi, gắng giữ gìn
sức khoẻ! Rất nhiều Phật sự đang chờ thầy hoàn thành”.
Nghe thầy mình nói như thế, ngài rất an lòng cùng khoảng
mười đệ tử hướng phía nam đến Kinh Châu và dừng chân
tại chùa Thượng Minh. Kế đó, ngài lại muốn dời đến
núi La Phù nhưng khi đi qua Lô Sơn, thấy cảnh vật núi này
thanh tịnh rất thích hợp cho việc tu tập và hành đạo của
mình, nên quyết định ở lại tinh xá Long Tuyền.
Lúc
bấy giờ, có Đạo hữu của ngài là Huệ Vĩnh nói với Thứ
sử Hoàn Y rằng: “Thầy Huệ Viễn mới bắt đầu đi hoằng
pháp mà đã có rất nhiều đồ chúng theo học, tương lai cứ
như vậy phát triển thì lượng người đến tu học sẽ nhiều
biết nhường nào! Nếu thầy ấy không có đủ cơ sở tự
viện rộng rãi hơn bây giờ thì làm sao hành đạo?” Hoàn
Y nghe ngài Huệ Vĩnh nói vậy liền phát tâm ủng hộ thầy
Huệ Viễn hết mình. Ông ta cho xây chánh điện và rất nhiều
phòng xá ngay bên phía đông núi Lô Sơn, đây là ngôi chùa
Đông Lâm nổi tiếng trong lịch sử. Từ đó, ngài Huệ Viễn
an tâm hành đạo tại Lô Sơn, đại sư ở đây suốt hơn ba
mươi năm và chưa hề ra khỏi vùng này một bước. Gặp lúc
cần thiết như đưa tiễn khách quí thì ngài cũng tiễn đến
ranh giới (suối) Hổ Khê là cùng, tuyệt nhiên không đi quá
Hổ khê nửa bước. Nên trong Phật giáo thường có câu nói:
“Tống quân bất quá Hổ khê” (tiễn khách không quá Hổ
khê). Do đạo đức của ngài rạng rỡ nên lúc ấy chùa Đông
Lâm đã trở thành một trung tâm Phật giáo hùng mạnh nhất
ở phương nam. Nếu so với chốn Trường An Phật giáo trăm
hoa đua nở thì đúng là thiên hạ đã chia đôi một cách cân
xứng cho hai trung tâm này. Cố nhiên chúng xuất gia qui tụ
về chùa Đông Lâm ngày một đông thêm, các bậc hiền tài
thời bấy giờ đến rất đông, họ thường ở lại y chỉ
tu học với ngài. Thế mới biết sự cảm hoá lòng người
của đại sư sâu rộng biết dường nào !
III
Công
việc hoằng hoá của đại sư Huệ Viễn ngày một phát triển
nên chúng Tăng càng đông đúc thêm. Để mọi người vừa
khỏi sống nhàn hạ vô ích lại được ích lợi từ giáo
pháp giải thoát, nên ngài đã nương theo pháp môn niệm Phật
mà đức Thích Tôn đã nói ra, thành lập một đạo tràng niệm
Phật cùng phát nguyện sinh về Tây phương. Đây chính là đạo
tràng Liên xã rất nổi tiếng ở Lô Sơn, cũng là nơi đầu
tiên lập hội niệm Phật. Đại khái đạo tràng được hình
thành như vầy: Ngài Huệ Viễn cùng Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông
v.v... gồm một trăm hai mươi ba thành viên đến trước tượng
Phật A-di-đà ở tinh xá Bát-nhã Vân Đài, cùng lập nguyện
sinh về Tây phương Cực lạc và ước mong sau khi lâm chung
nhất tề đều được vãng sanh. Văn hiến ghi dấu cho
sự việc trọng đại này chính là bài văn phát nguyện của
Lưu Di Dân. Nhưng chúng ta nên biết rằng, đạo tràng Liên
xã mà ngài Huệ Viễn sáng lập luôn luôn lấy việc niệm
Phật tam-muội là chính. Và giáo điển mà hội lập cước
chính là kinh Bát-chu tam-muội chứ không phải một trong ba
kinh Tịnh độ. Vì kinh Quán vô lượng thọ v.v... thời bấy
giờ chưa được lưu truyền sang Trung Hoa. Kinh Bát-chu tam-muội
do hai đại sư Chi-sấm và Trúc Phật Sóc dịch vào cuối đời
Hán. Nội dung kinh đặt nặng về việc quán Phật Vô Lượng
Thọ. Khi tu pháp quán này thành công, đức Phật A-di-đà sẽ
hiện rõ trong tam-muội. Cho nên, đây là pháp môn niệm Phật
tam-muội chứ không phải là pháp môn niệm Phật đọc nơi
miệng được lưu hành rộng rãi như thời nay. Trong kinh nói
rằng, lúc tu pháp quán này thành tựu, chư Phật hiện tại
đều hiện rõ trước mặt. Hành giả tu theo pháp quán này
mục đích được trực tiếp thấy Phật A-di-đà nhưng kết
quả lại thấy tất cả chư Phật. Thật ra, điều này cũng
giống như ý nghĩa mà kinh Quán vô lượng thọ Phật đã từng
nói: “Thấy việc này rồi (thấy Phật) thì cũng có nghĩa
là thấy được mười phương chư Phật”.
Theo
sự ghi chép trong quyển thứ hai mươi bảy sách “Quảng hoằng
minh tập” thì Lưu Di Dân cùng mọi người đã y theo lời
chỉ dạy của ngài Huệ Viễn, ngày đêm siêng năng tu niệm
Phật tam-muội. Chỉ độ không quá nữa năm thì các vị ấy
đã tu thành công phép niệm Phật tam-muội này. Trong Tam-muội,
mọi người thường thấy đức Phật thân sắc vàng hiện
ra, nên những người ở núi Lô Sơn lập hội niệm Phật để
sau khi mạng chung được vãng sanh Cực lạc, cố nhiên là mục
tiêu sau cùng của họ, nhưng ngay nơi thân này thấy được
Phật lại là một mục tiêu không kém phần quan trọng. Lưu
Di Dân thấy Phật trong tam-muội, ngài Huệ Viễn cũng thấy
Phật A-di-đà nhưng không nói ra cho mọi người biết.
Theo
một truyền thuyết khác thì trong lúc tịnh tu ở núi Lô Sơn,
ngài Huệ Viễn rất tinh tấn dõng mãnh, đã ba lần thấy tướng
thù thắng của chư Phật và Bồ-tát trong khi nhập vào niệm
Phật tam-muội. Nhưng ngài là người thận trọng nên dầu
có thấy cũng không bao giờ tùy tiện nói với mọi người.
Về sau, lúc ở Đông kham (nhà thờ Phật
phía đông), Bát-nhã Đài, ngài vừa xuất định thì thấy
đức Phật A-di-đà tràn ngập cả hư không, trong hào quang
rực rỡ có vô số hoá Phật, có Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát
Đại Thế Chí v.v... Đồng thời lại có ngài Huệ Trì, Đàm
Thuận, Lưu Di Dân v.v… Lúc đó, đức Phật A-di-đà bảo ngài
rằng: “Do bổn nguyện lực nên Ta đến đây hộ niệm cho
ông, bảy ngày sau ông sẽ sanh về cõi Cực lạc của Ta”.
Đồng thời, Lưu Di Dân và rất nhiều người cùng hiện đến
trước ngài Huệ Viễn thưa rằng: “Ngài phát tâm sớm hơn
chúng tôi, nhưng sao ngài lại về muộn như thế?”
Từ
những việc trên chúng ta biết được rằng, trong lúc nhập
vào niệm Phật Tam-muội, ngài không những có thể thấy đức
Phật A-di-đà mà còn được đức Phật thân hành đến chỉ
dẫn. Do ngài Huệ Viễn thấy một cách rõ ràng các cảnh thù
thắng và biết chắc chắn thời điểm vãng sanh Tịnh độ
của mình, nên ngài mới nói rõ cho Pháp Tịnh, Huệ Bảo và
mọi người, mình thấy được tướng thù thắng như thế
nào, lúc nào vãng sanh … quả nhiên đến thời gian ấy thì
ngài thâu thần thị tịch.
Nơi
quyển trung sách “Đại thừa yếu nghĩa”, ngài Huệ Viễn
và ngài Cưu-ma-la-thập đã từng thảo luận về việc thấy
Phật trong định. Ban đầu, ngài Huệ Viễn dựa vào việc
dẫn dụ về điều mộng mà kinh “Bát-chu tam-muội” thường
nhắc đến để đặt nghi vấn. Luận rằng Phật được thấy
trong định, giả như nói nó hoàn toàn thuộc về điều mộng
thì đó bất quá cũng chỉ là tưởng tượng chủ quan mà thôi,
hoàn toàn không phải Phật hiện ra thật. Còn nếu đó là
khách quan, Phật từ bên ngoài đến, thì Phật thật hiển
hiện một cách chân thực rồi, sao lại có thể lấy mộng
làm dụ?
Ngài
Cưu-ma-la-thập đánh đúng vào trọng tâm câu hỏi của ngài
Huệ Viễn và trả lời như sau: Hành giả muốn thấy được
Phật thì có rất nhiều cách để thấy. Sở dĩ trong kinh lấy
mộng để dụ là nhằm đánh tan mối nghi hoặc của mọi người.
Vì có người nghi như vầy: Đại Bồ-tát đạt được thần
thông thì chuyện đi đến mười phương thế giới, mặt đối
diện với Phật Đà chẳng có gì là khó. Còn như hạng người
bình thường, đã không biết tu pháp môn Thiền định lại
chẳng chứng được thần thông, mà cõi Tây phương Cực lạc
của đức Phật A-di-đà xa hơn mười vạn ức Phật độ,
thử hỏi làm sao thấy được? Chúng ta đều biết năng lực
của mộng rất phi thường, mộng đến đi trong khoảnh khắc.
Trong mộng có thể thấy được những vật ở từ rất xa.
Việc nhập vào Bát-chu niệm Phật tam-muội có thể xa thấy
tất cả chư Phật, thì đó cũng giống như trong mộng thấy
được những sự vật. Do đó, đức Phật đặc biệt lấy
mộng để dụ.
Đồng
thời cần biết rằng, ngay cả thân Phật còn không có một
tướng quyết định nào, vì sao vậy? Bởi trong kinh đã nói
rõ cho chúng ta biết: Thân của chư Phật đều do các duyên
sanh, mà từ duyên sanh thì tất nhiên không có một tự tánh
chân thật, tất cả đều như mộng như hóa, rốt ráo không
tịch. Nên hành giả muốn thấy thân chư Phật thì không nên
lấy sự hư vọng để nhìn. Nếu cho việc thấy Phật là hư
vọng thì đó là do ngộ nhận thân Phật có một tướng quyết
định, và do dùng sự tưởng tượng phân biệt để nhìn.
Theo
sự đối đáp giữa ngài Cưu-ma-la-thập và đại sư Huệ Viễn,
chúng ta có thể biết rõ rằng: Ngài Huệ Viễn không chỉ
tu tập pháp môn niệm Phật Tam-muội một cách chín chắn,
mà ngay cả nội dung của niệm Phật Tam-muội ngài cũng cứu
xét rất tường tận rồi mới đi vào thực tiển tu tập.
Chứ không như người tu hành bây giờ, cứ tu một cách mù
mù mờ mờ, đến ngay việc mình tu cái gì, vì sao phải tu
như vậy, trong quá trình tu có khả năng phát sinh những vấn
đề gì, họ đều không để ý tới. Do đó, người tu hành
thì nhiều nhưng người được thấy Phật vãng sanh Tịnh độ
ít đến mức đáng thương.
Tóm
lại, ngài Huệ Viễn là một hành giả tu pháp môn Tịnh độ,
là người đầu tiên sáng lập hội Liên xã, điều này chẳng
còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng người tu pháp môn niệm Phật
đời nay cần phải biết một sự thật rằng: Pháp môn mà
đại sư Huệ Viễn thực hành chính là hạnh Bát-chu niệm
Phật tam-muội. Nó hoàn toàn không phải đơn giản ở một
câu niệm “A-di-đà Phật” được thực hành rộng rãi như
ngày nay đâu. Nếu cho rằng chỉ có câu “A-di-đà Phật”
mới là chơn chánh niệm Phật thì người này không những
không có sự thấu hiểu về chân nghĩa của niệm Phật mà
đối với đại sư Huệ Viễn, người đầu tiên sáng lập
ra hộ Liên xã, họ cũng chưa có một sự hiểu biết chính
xác.
Song,
xin quí vị hãy chú ý: Tôi (tác giả) nói như vậy cốt ý
không phải hoàn toàn phủ định câu “A-di-đà Phật” là
phương tiện niệm Phật. Tôi chỉ muốn nói rằng niệm Phật
thì không duy nhất ở một câu “Di-đà”, mà thực hành niệm
Phật Bát-chu Tam-muội ngay nơi thân này thấy được Phật
cũng là một trong số các cách để tu tập.
IV
Đại
sư Viễn Công sáng lập ra hội Liên xã thì cố nhiên là vị
sơ tổ của tông phái Tịnh độ ở Trung Quốc. Nhưng sự cống
hiến của đại sư đối với nền Phật giáo Trung Quốc, thì
không chỉ ở việc sáng lập tông phái Tịnh độ, ngài còn
là người rất tâm huyết trong việc nỗ lực đưa Phật pháp
vào nước ta (Trung Quốc). Vì vào thời Đông Tấn, Phật pháp
tuy được truyền vào không ngớt nhưng xét một cách toàn
diện thì vẫn chưa đạt đến chỗ hoàn bị. Cho nên các Phạm
Tăng (Tăng Ấn Độ) cứ không ngớt vào hoằng đạo ở Trung
Quốc. Theo sự ghi chép của truyện ký thì ngài Huệ Viễn
đã sai các đệ tử như ngài Pháp Tịnh, Pháp Lĩnh v.v... qua
Lưu Sa1, vượt dãy núi Tuyết Lĩnh đến một chốn rất xa
(Tây Vực) để thỉnh kinh và các đồ đệ của ngài đã thỉnh
về rất nhiều bản kinh bằng tiếng Phạn. Do đó, việc ngài
Huệ Viễn một mình lập ra trường phiên dịch ở Bát Nhã
Đài tại Lô Sơn, một lần nữa nói lên rằng, ngài chính
là người đầu tiên trong lịch sử phiên dịch của Trung Quốc
đã mở ra Dịch trường.
Đại
sư không chỉ sai các đệ tử ra nước ngoài cầu pháp mà
ngay như các Tăng sĩ người Ấn đến Trung Quốc, chỉ cần
các vị ấy có thể phiên dịch thì bất luận thuộc bộ phái
nào, đại sư cũng không quản khó nhọc đến thỉnh các vị
ấy về phiên dịch. Sau đây xin nêu một vài ví dụ để làm
rõ ý trên:
1.
Đại sư Phất-nhã-đa-la đến Trường An vào giữa năm Hoằng
Thuỷ đời Diêu tần, là một học giả tinh thông luật Thập
tụng và từng cọng tác với ngài Cưu-ma-la-thập dịch bộ
luật này. Nhưng thật bất hạnh, khi mới hoàn thành được
hai phần ba thì ngài Phất-nhã-đa-la đã vội về cõi Phật.
Những người trọng pháp, nhất là đại sư Huệ Viễn, không
khỏi bùi ngùi trước sự tổn thất to lớn này, và tiếc
cho đại pháp không thể đến được phương Đông (Đông tấn).
Đến năm Hoằng Thuỷ thứ bảy, ngài Đàm-ma-lưu-chi đến
Quan Trung (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) và đem Luật tạng truyền
khắp nơi. Ở Lô Sơn xa xôi, ngài Huệ Viễn vừa nghe được
tin này liền tức tốc sai đệ tử Đàm Ung đến nước Tần,
đồng thời đích thân viết một lá thư gởi cho ngài Lưu-chi,
một lòng thỉnh cầu ngài ấy phát tâm dịch hết phần luật
Thập tụng còn lại. Ngài Lưu-chi cảm mến sự nhiệt tâm
vì đạo của đại sư Huệ Viễn nên dốc lòng dịch hết
phần luật mà ngài Phất-nhã-đa-la chưa kịp dịch. Thế là
bộ luật Thập tụng được hoàn thành.
2.
Lúc ở Quan Trung, đại sư Đạo An từng mời ngài Đàm-ma-nan-đề
đọc và chuyển ngữ bộ luận “A-tỳ-đàm tâm” nhưng do
ngài ấy không hiểu hết ngôn ngữ Trung Hoa nên việc dịch
thuật chưa thật khả quan lắm. Khiến cho các học giả không
hiểu hết nghĩa lý của bộ luận. Đến năm thứ mười sáu
niên hiệu Thái Nguyên đời Hậu Tấn, ngài Tăng-già-đề-bà
đến Trung Quốc. Đại sư Huệ Viễn biết ngài Đề-bà rất
tâm đắc với bộ luận trên mới thỉnh ngài ấy dịch lại
bộ “A-tỳ-đàm tâm” và “Tam pháp độ luận”. Hai bộ
luận này để lại cho hàng hậu học những lợi ích không
phải là ít. “Tâm luận” là bộ sách do luận sư Pháp Thắng
viết vào thế kỷ thứ sáu sau Phật nhập Niết-bàn. Nó nổi
tiếng là bộ luận rất lô gích và uyên áo. Trước khi bộ
luận Câu-xá chưa ra đời thì Tâm luận đã được lưu truyền
ở Ấn Độ. Nó được dịch sang tiếng Hán và được nhiều
học giả để tâm nghiên cứu. Do vậy, những học giả của
nước Trung Quốc học được Tâm luận thì không thể không
nhớ đến công lao của đại sư Huệ Viễn.
3.
Tam Tạng Cưu-ma-la-thập đến Quan Trung vào thời Diêu Tần,
ngài là người dịch và xiển dương học thuyết “Bát-nhã
tánh không”. Lúc ấy, học giả quy tụ rất nhiều và nơi
này đã trở thành trung tâm của Phật giáo phương bắc. Nhưng
ở núi Lô Sơn, đại sư Huệ Viễn không cảm thấy ngài La-thập
là mối lấn áp tư tưởng Tịnh độ, mà ngay một chút thái
độ phản ứng đại sư cũng không có. Không như người thời
nay, họ nghe chút ít lời nói chẳng phải về tư tưởng Tịnh
độ thì liền đả kích đối phương là kẻû hủy báng chánh
pháp, là tà tri tà kiến; không chỉ vậy, ngài còn viết thư
giao hảo, ân cần hỏi han. Đến khi nghe ngài La-thập muốn
trở về nước thì đại sư Huệ Viễn cũng không khỏi mang
tâm sự buồn rầu tiếc nuối. Tất cả chư vị tổ sư sở
dĩ được xem là tổ sư của một thời đại là vì tâm của
các ngài đều rộng lượng bao dung như vậy cả. Những hạng
người có tâm lượng hẹp hòi thì đâu thể hy vọng có ấn
tượng như các ngài.
4.
Khi ở phương bắc, Tam tạng pháp sư Giác Hiền tuy là người
rất uyên bác nhưng tư tưởng lại không dung thông với ngài
Cưu-ma-la-thập. Đại sư Huệ Viễn hiểu điều ấy nên sai
đệ tử Đàm Ung đến Quan Trung hoà giải. Bởi ngài Giác Hiền
không muốn trở lại phương bắc nên về trú ở núi Lô Sơn.
Sau đó, tại chùa Đạo Tràng đất Kiến Khang (kinh đô nhà
Đông Tấn), ngài Giác hiền chuyển dịch kinh Hoa nghiêm thành
sáu mươi cuốn, là tác phẩm mà Pháp Lĩnh, đệ tử ngài Huệ
Viễn được tiếp thu, và bộ luật Tăng-kỳ mà Pháp Hiển
tiếp thụ cũng do ngài Giác Hiền dịch ra. Tông phong Hoa nghiêm
được thực sự truyền bá kể từ khi ngài Giác Hiền xuống
phương nam. Do đó, việc ngài Giác Hiền xuống phương nam và
đóng góp cho nền Phật giáo nước nhà là do công lao của
đại sư Huệ Viễn. Giả như đại sư không có tâm bao dung
thì dẫu ngài Giác Hiền có tâm huyết cho đại pháp mà không
nơi để phát huy thì chẳng phải phí bỏ đó sao!
Từ
những việc trên ta có thể thấy rằng, đại sư Huệ Viễn
tuy là người thực hành pháp môn niệm Phật nhưng không vì
vậy mà yếm thế bỏ đời. Đối với những pháp môn trọng
yếu, nhất là những việc có liên hệ đến sự nghiệp hoằng
truyền giáo pháp, thì ngài đều lấy tinh thần tích cực để
phụng sự, tuyệt nhiên không có tâm chán chường hay sợ gánh
vác trách nhiệm. Tinh thần vì pháp của đại sư thật đáng
để hàng giáo đồ Phật giáo thời nay, nhất là những người
thực hành pháp môn Tịnh độ, kính phục và học hỏi.
V
Đại
sư Huệ Viễn chí bền hơn đá, đạo hạnh cao vời, quyền
thế chẳng thể uy hiếp mà vinh hoa nào cám dỗ được ngài.
Ngài chỉ làm những điều mà một người Tăng sĩ phải làm,
không hề lấy lòng mọi người, cũng không lui tới nhà quyền
quý. Ở thời đại chuyên chế, quyền uy của đế vương là
cao tột nhất, chẳng một ai dám trái lệnh. Nếu vua đến
đâu thì quan dân ở đó nhất định phải xuống đường tung
hô “vạn tuế” ba lần. Nhưng ngài Huệ Viễn thì không làm
như vậy, như lúc vua Tấn An Đế từ Giang Lăng về kinh đô,
quan Phụ quốc Hà Vô Kị bảo ngài đến bờ sông nghinh giá
nhưng ngài cáo bệnh không đi. Mà kể cũng lạ! Vua An Đế
không những không xem chuyện này là phạm thượng với mình,
trái lại còn viết thư đến vấn an đại sư Huệ Viễn, vua
viết: “Nghe đại sư bêïnh nặng chưa khỏi, trẫm rất băn
khoăn! … đại sư ẩn mình tu học ở chốn núi rừng lại
mắc bệnh nặng, đường sá xa xôi trẫm không đến thăm được,
chắc đại sư trách trẫm lắm!”. Khi tể tướng Hoàn Huyền
đi đánh dẹp Ân Trọng Kham, nhân hành quân ngang núi Lô Sơn,
ông ta yêu cầu ngài Huệ Viễn ra khỏi Hổ Khê để gặp mặt.
Thiết nghĩ một người quyền cao chức trọng lẫy lừng như
Hoàn Huyền thì ai dám từ chối không đến bái kiến! Song
ngài Huệ Viễn đã thoái thác đang bệnh không thể đến được,
chớ không phá lệ để ra Hổ khê đón khách. Kết quả là
Hoàn Huyền tự động lên núi. Ban đầu ông ta kiêu ngạo không
hành lễ đại sư, đâu hay vừa thấy phong thái thanh thoát
trang nghiêm của đại sư, ông ấy bất giác cúi chào ngài
rất cung kính. Lúc lên núi, trong thâm tâm ông ta muốn đưa
ra nhiều câu hỏi để vấn nạn, nhưng mới đàm luận với
đại sư được một lúc thì ông chẳng dám đưa ra một câu
hỏi nào. Chỉ cảm thấy đại sư sao quá vĩ đại còn mình
thì bé nhỏ, hạn hẹp. Do đó sau khi xuống núi, ông đã nói
với mọi người rằng: “Người như đại sư Huệ Viễn thật
từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến giờ ta chưa từng gặp qua,
ngài đúng là một bậc cao tăng thạc đức!”
Về
sau, tể tướng Hoàn Huyền ra lệnh sa thải Tăng chúng nhưng
ông cẩn thận dặn quan sở thuộc rằng: “Những Sa-môn làu
thông kinh điển, bàn luận thao thao nghĩa lý hoặc trai giới
thanh tịnh thì giữ lại cho hành đạo; những vị nào không
đủ các điều trên thì cho hoàn tục. Riêng Lô Sơn là nơi
hội tụ các vị đạo hạnh siêu thoát thì không nằm trong
qui định trục xuất đề ra này!”. Đại sư cảm hoá mọi
người một cách sâu xa, thế mới biết, một bậc xuất gia
có đầy đủ đạo lực thì phong thái của vị đó chắc chắn
không giống với hạng người tầm thường, và dung mạo trang
nghiêm từ hoà hiện ra bên ngoài cũng lan xa.
Theo
truyện ký thì pháp sư Huệ Nghĩa là một người cương trực,
không kiêng dè bất cứ điều gì, ông không tin đại sư Huệ
Viễn có đạo phong và tiếng tăm như vậy nên đã đến xem
thử ngài Huệ Viễn là người thế nào. Ông ấy bảo với
Huệ Bảo, đệ tử ngài Huệ Viễn rằng: “Các ông đều
là hạng người tầm thường nên mới dốc lòng bái phục
đại sư Huệ Viễn. Còn ta thế nào nhỉ? Ồ! Chắc chắn ta
không hành sự như các ông đâu!”. Nói thì nói vậy, chớ
khi đến Lô Sơn, gặp lúc đại sư đang giảng kinh Pháp hoa,
mấy lần ông định vấn nạn nhưng cuối cùng vì trong lòng
quá run sợ nên một câu cũng chẳng dám hỏi. Câu chuyện ngài
Huệ Nghĩa khâm phục đại sư Huệ Viễn là như vậy đó.
Nhìn vào phong thái của ngài Huệ Viễn, không khỏi khiến
người ta bùi ngùi hổ thẹn khi nghĩ đến Tăng chúng thời
nay.
VI
Ngài
Huệ Viễn ở Lô Sơn hơn ba mươi năm nhưng bóng dáng của
ngài không lúc nào ra khỏi núi, và bước chân cũng chưa từng
in dấu nơi chốn phàm tục; ngài chỉ tiển khách đến Hổ
Khê là dừng lại. Trong hơn mấy mươi năm ấy, ngài trước
sau cố nhiên không bao giờ xao nhãng việc hoằng dương Phật
pháp. Đối với sự tu trì của bản thân ngài cũng không để
gián đoạn trể nải. Nhưng sanh già bệnh chết nào nhẹ tay
cho ai trên cuộc đời này vẫn rõ ràng lời Phật dạy, ngài
Huệ Viễn cũng không ngoài lẽ thường tình kia. Do đó, đến
tháng tám năm thứ mười hai niên hiệu Nghĩa Hy đời Tấn
(Tây Lịch 416), ngài có bệnh nhẹ, mọi người thỉnh ngài
dùng rượu Cổ (Cổ tửu ?) và cháo lỏng,
ngài từ chối. Đại chúng tha thiết xin ngài dùng mật đặc
thì đại sư bảo phải kiểm tra trong luật xem có đúng với
luật không. Nếu không trái luật thì uống, trái thì không
uống. Nào hay luật chưa kiểm tra xong thì ngài đã thâu thần
về cõi Cực lạc. Ngài nhẹ bước ra đi lúc tám mươi ba tuổi,
nhục thân được nhập tháp ở phía Tây núi Lô Sơn, Tạ Linh
Vận khắc văn bia. Bậc thầy của một đời đến đây đã
quay gót Ta bà, cao miền Cực lạc.
VII
Niệm
Phật được sanh về Tịnh độ mà đức Thế Tôn đã chỉ
cho chúng ta là chuyện không còn gì để nghi ngờ nữa. Nhưng
làm thế nào để được vãng sanh, đó mới là chuyện đáng
để chúng ta bàn luận. Tôi cho rằng, một người niệm Phật
nếu muốn cầu sanh Cực lạc một cách chân chính thì điều
kiện tối thiểu là không được quên mất đức giáo chủ
Thích Ca Mâu Ni của mình. Nghĩa là trước mỗi lúc niệm Phật,
chúng ta niệm danh hiệu bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần,
sau đó liên tục niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà. Khi công
phu niệm Phật được chín muồi, đến lúc lâm chung tự nhiên
sẽ được đức Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.
Tôi
cho rằng, những lời dặn dò lúc lâm chung của Lưu Di Dân,
một trong mười tám vị hiền nhân cùng tu với ngài Huệ Viễn,
đáng làm mẩu mực cho những người tu Tịnh độ thời nay.
Truyện chép rằng: “Trước lúc lâm chung, đối trước Phật
đài đốt hương lễ Phật chúc tán rằng: đệ tử nương
theo lời di giáo của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nên nay mới
biết có đức Phật A-di-đà. Nén hương lòng này trước dâng
lên cúng dường đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, cúng dường
đức Phật A-di-đà và kinh Diệu pháp liên hoa. Chúng sanh được
sinh Tịnh độ là do công đức của kinh này. Nguyện tất cả
chúng sanh đồng sinh về cõi Tịnh độ”.
Lời
nói trên muốn nhắc nhở chúng ta rằng: Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni là giáo chủ của chúng ta, là bậc thầy của mọi loài.
Đức Phật A-di-đà là bậc đạo sư tiếp dẫn và Đại thừa
kinh điển là hành trang vô cùng quí báu để chúng ta sanh về
cõi Phật. Phải tâm nguyện như vậy mới khả dĩ sanh về
Cực lạc. Nhưng một số người bây giờ đi ngược lại điều
đó, họ chỉ biết duy nhất đức Phật A-di-đà, họ không
để ý đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trước sau cũng chỉ một
câu niệm Phật, họ nào biết đọc tụng kinh điển. Thậm
chí còn hô hào “Bổn sư” A-di-đà Phật, hoặc nói gì là
đọc tụng Tâm kinh, công đức niệm Phật đều là không tưởng
và cũng chẳng có hy vọng để sanh về Tây phương! Không biết
họ căn cứ vào kinh luận nào mà dám nói như vậy. Tôi hổ
thẹn vì đọc kinh luận không nhiều, nhưng tôi thấy trong
kinh luận chỉ ghi là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà không
ghi là Bổn sư A-di-đà Phật. Chỉ nói rằng đọc tụng kinh
điển Đại thừa thời có thể sanh lên Thượng phẩm thượng
sanh, chớ không nói công đức đọc tụng Tâm kinh và niệm
Phật là rỗng không, cũng không nói không thể vãng sanh Cực
lạc. Đương nhiên lúc sanh về thế giới Cực lạc phương
Tây thì Phật A-di-đà là Bổn sư của chúng ta, nói Bổn sư
A-di-đà Phật cũng không có gì là không được. Nhưng trước
khi chưa sanh Cực lạc thì chúng ta vẫn là một chúng sanh của
thế giới Ta bà này, vẫn là đệ tử của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Chúng ta đừng bao giờ quên đức Phật Thích Ca Mâu
Ni là Bổn sư của chúng ta!
Hôm
nay là ngày kỷ niệm ngài Huệ Viễn sáng lập đạo tràng
niệm Phật ở núi Lô Sơn. Chúng ta sum họp về đây cùng niệm
Phật là để ghi nhớ rằng, ngày này chính là một ngày trọng
đại. Đây là một việc đáng để chúng ta vui mừng. Cuối
cùng, tôi (Tác giả) mong sau khi hiểu rõ tinh thần vĩ đại
của ngài Huệ Viễn, mọi người sẽ lấy đó để bắt chước
học hỏi. Mong rằng ngoài việc tu tập cho bản thân, quí vị
sẽ làm nhiều việc lợi ích thiết thực cho xã hội, tích
tập vô biên căn lành để làm tăng thượng duyên tối thắng
cho việc sinh lên Thượng phẩm thượng sanh. Được vậy, tức
chúng ta đã không phụ hoài tâm nguyện phát tâm niệm Phật
A-di-đà của mình!