07
SỰ
PHÁT TRIỂN TỊNH ĐỘ TÔNG CỦA
PHẬT
GIÁO TRUNG QUỐC
Nguyên
tác: Lương Vĩnh Khang
Việt
dịch: Thích Quảng Xả
I.
LỜI NÓI ĐẦU
Tám
tông phái Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc chỉ có Tịnh
độ tông là được lưu truyền rộng rãi hơn hết. Từ thời
Đông Tấn có đại sư Tuệ Viễn, trở về sau còn có các
ngài như ngài Đàm Loan đời Lương, ngài Đạo Xước đời
Tùy, ngài Thiện Tôn đời Đường, đều hoằng dương giáo
pháp Tịnh độ. Cho nên Tịnh độ tông trở nên phong phú được
và xem là tạm đủ về luận thuật, cũng như về nghi thức.
Từ đó về sau được các bậc đại đức truyền bá rộng
rãi … Gần đây, đại sư Ấn Quang làm thêm rực rỡ, có
những thành tựu to lớn, đưa Tịnh độ tông phổ cập xã
hội, đi sâu vào dân gian. Nghĩa lý Tịnh độ tông vốn không
sâu xa nhưng cũng chẳng dễ hiểu. Nếu suy xét nguồn gốc
của Tịnh độ tông thì tự nó có nguyên do. Tóm lại, Tịnh
độ tông có những đặc điểm như sau:
Trong
các kinh, là pháp môn đặc biệt.
Luận
cứ chân thật đủ để giải đáp các nghi ngờ.
Nội
dung uyên bác, vừa cạn vừa sâu.
Phương
pháp tu trì có phần phiền toái, có phần giản đơn.
Pháp
môn rất nhiều để phù hợp căn cơ chúng sanh.
Nghi
thức giản đơn hợp với thời đại.
Xét
về các khổ ở Ta bà, vốn không thể nói cho cùng, chỉ nhờ
niệm Phật trì danh để mau được vãng sanh Cực lạc; chỉ
cần đủ Tín, Nguyện, Hạnh thì có thể thẳng đến thành
Phật, vĩnh viễn không còn thối chuyển (không còn chịu khổ).
Thí dụ như hóa sanh trong hoa sen nên không có cái khổ về
sanh. Lạnh nóng không đổi dời nên không có cái khổ của
già. Báo thân thanh tịnh nên không có khổ của bệnh. Đã
hiểu rõ sanh tử nên không có khổ của chết. Thần thông
vô ngại, một niệm liền đến, không bị cái khổ biệt ly.
Các bậc Thượng thiện nhân đều hội tụ một chỗ, nên
không có khổ về việc không thích mà phải gặp. Thọ dụng
đồ ăn, thức uống, y phục, trân bảo tự hiện, thì làm
gì có cái khổ về sự cầu không được. Quán chiếu pháp
không, vắng lặng, vượt qua khổ ách nên không có cái khổ
về ngũ ấm xí thạnh. Cho nên, người được vãng sanh vĩnh
viễn không còn bị khổ, chỉ hưởng niềm vui, cảnh thánh
Tây phương chiếu hiện trước mắt, nghe pháp âm vi diệu,
liền đắc vô sanh nhẫn, hoa nở thấy Phật, được lợi ích
không cùng. Ở đây tôi xin chép một đoạn trong bài vịnh
của các vị cổ đức nói về sự thù thắng của cõi Tịnh
độ :
Dục
sanh An dưỡng quốc
Thừa
sự Cổ Âm Vương.
Hiệp
chưởng tu Tây hướng
Đê
đầu lễ bỉ phương.
Anh
nhi tư nhũ mẫu
Viễn
khách vọng gia hương.
Thận
trọng nghinh tân nguyệt,
Ân
cần tống tịch dương.
Hình
hài đồng thổ mộc,
Giới
kiểm nhược thuỷ sương.
Tưởng
niệm ly chư vọng,
Già
phu tại nhất sàng.
Sát
na đăng Tịnh vực,
Phương
thốn phát u quang.
Cốt
nhục đô dung hóa,
Càn
khôn cực liễu mang.
Thái
hư hàm biểu lý,
Phật
sát cứ trung ương.
Liên
thổ uy nhuy ngạc,
Ba
phiên liễm liễm đường.
Lâu
tuỳ tứ bảo hiệp,
Đài
bị thất chân trang.
Kính
diện phô giai thế,
Hà
tâm kết đổng phòng.
Dao
trì vô trú dạ,
Châu
thuỷ tự cung thương.
Cự
oánh kim sa để,
Phong
khinh bảo ngạn bàng.
Thiên
chi phân xích bạch,
Vạn
đóa gian thanh hoàng.
Tạm
ấp thân căn sảng,
Vi
thông dị quán lương.
Thánh
hiền vân ái đãi,
Thiên
nhạc nhật khanh thương.
Tuấn
vĩ thuần đồng tử,
Y ưu
tuyệt nữ lang.
Quải
kiên như ý phục,
Kình
bát tự nhiên tưởng,
Thoát
thể thù thanh tịnh,
Hàm
huy cánh hỗn hoàng.
Ca
sa lung thuỵ ái,
Anh
lạc sấn tiên thường.
Biến
chủ vi trần quốc,
Châu
du chánh giác tràng.
Vĩnh
hoài ân nhập tuỷ,
Thả
miễn độc xâm sang,
Hồi
ức Ta bà khổ,
Tranh
cấm thế lệ bàng.
Tạm dịch:
Muốn
sanh nước An dưỡng
Thờ
đức Cổ Âm Vương.
Chắp
tay hướng phía Tây
Đầu
đảnh lễ phương ấy,
Như
trẻ nhớ sữa mẹ,
Viễn
khách nhớ quê nhà.
Thận
trọng lúc trăng lên,
Chuyên
cần bóng chiều xuống.
Hình
hài đồng đất cây
Giới
hạnh như băng tuyết.
An
tọa thế liên hoa,
Tưởng
niệm lìa các vọng.
Sát
na lên cõi tịnh,
Tâm
u tối bừng vỡ.
Xương
thịt đều tan mất,
Trời
đất rộng thênh thang,
Trong
ngoài đều rỗng suốt.
Trung
ương cõi Phật ngự,
Đài
cánh sen nở rộ.
Hồ
long lanh gợn sóng,
Lầu
các bằng bốn báu.
Thất
bảo làm đài hoa,
Thềm
lan can bóng loáng.
Phòng
nhụy sen kết tu,ï
Ao
sen bằng ngọc Dao,
Không
có ngày và đêm1.
Thủy
châu vang tiếng nhạc,
Ao
cát vàng lóng lánh.
Ven
bờ gió hiu hiu.
Ngàn
cây cành đỏ trắng,
Hoa
xanh vàng đan xen.
Thân
tâm bỗng nhẹ nhàng,
Niềm
vui thật khó tả.
Thánh
hiền như mây nhóm,
Thiên
nhạc vang khắp nơi.
Đồng
nam thì tuấn tú,
Đồng
nữ cũng đẹp xinh,
Vai
mang y như ý,
Tay
cầm bát tự nhiên
(Trong
có sẵn thức ăn).
Dáng
thanh tịnh giải thoát,
Hào
quang tỏa quanh thân.
Cà
sa màu hoại sắc,
Lưới
châu viền thân áo.
Biến
khắp cõi vi trần,
Dạo
quanh tràng Chánh giác.
Ân
(Phật thật cao vời),
khắc
sâu trong tâm khảm,
Vượt
ra khỏi tam độc.
Nhớ
lại khổ ta bà,
Lệ thương đau dừng chảy.
Nếu
ai đọc kỹ bài thơ trên thì dễ rung động, tinh thần vui
vẻ, tự lãnh hội sâu sắc. Do đó mà Tịnh độ tông ở Trung
Quốc ngày càng phát triển, cố nhiên có nguyên nhân đặc
biệt độc đáo của nó. Điều này xin được bàn luận và
phân tích rõ ở phần sau.
II.
LUẬN CỨ RẤT CHÂN THẬT
Lúc
Thế Tôn còn tại thế, thuyết pháp 49 năm, giảng kinh hơn
300 hội. Ngộ được chân lý vũ trụ, giữa 96 ban ngoại đạo,
Ngài xây dựng hệ thống lý luận tư tưởng khác, độ vô
lượng chúng sanh, nên giáo pháp Ngài thuyết rất nhiều, văn
sức như hoa mùa xuân, rực rỡ tựa gấm hoa. Ví dụ, thời
giáo thứ nhất Ngài lấy hoa Vạn Đức để trang nghiêm Phật
quả, đây là thời Hoa nghiêm. Thời giáo thứ hai, Ngài dạy
5 vị đệ tử, biết khổ và dứt trừ nguyên nhân khổ, ưa
thích tu đạo Niết-bàn, hợp lại thành 4 tập A-hàm nên gọi
là thời A-hàm. Thời thứ ba, Ngài thuyết pháp Phương đẳng,
làm cho hàng tiểu căn liền mở được đại trí, nên gọi
là thời Phương đẳng, (có các kinh như: Duy-ma, Lăng-già, Tịnh
độ). Thời giáo thứ tư, Ngài khai triển Đại thừa để
chúng sanh thấy rõ vạn pháp do duyên sanh, gọi là thời Bát-nhã.
Thời giáo thứ năm, Ngài chỉ rõ hướng của ba thừa là pháp
quyền xảo, để hiển bày pháp chân thật nhất thừa, đây
gọi là thời Pháp hoa. Lại nữa, Ngài chỉ rõ cho tất cả
hữu tình thấy rằng ai cũng có đầy đủ bốn đức Niết-bàn:
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh một cách đầy đủ nên gọi là
thời Niết-bàn. Pháp môn tu hành đều có đủ: Đại, tiểu,
đốn, tiệm, thiên, viên, hiển, mật. Nhưng thông suốt con
đường tự lực mà chưa đoạn hết hoặc nghiệp (kiến hoặc,
tư hoặc) thì rất khó chứng chân lý. Mặc dù tu hành nhiều
đời, nhưng chúng ta cũng không thể ra khỏi bến sanh tử thiết
yếu này để đến được bờ Niết-bàn bên kia. Chỉ có Tịnh
độ, một tông phái bao gồm đầy đủ tự lực và tha lực
mới dễ dàng tu hành và thành công cao, dùng sức ít mà lại
chóng hiệu quả. Căn cứ của lý luận này, được nói rõ
ràng trong ba kinh Tịnh độ. Ở đời, nếu ai có nghi ngờ,
thì hãy nghiên cứu sâu thêm nữa, nhất định có thể tháo
gỡ được sự hồ nghi. (Ba kinh Tịnh độ là: Kinh Quán vô
lượng thọ, được đức Phật thuyết tại thành Vương-xá.
Kinh A-di-đà, Ngài thuyết tại vườn Cấp-cô-độc. Kinh Vô
lượng thọ được thuyết tại núi Kỳ-xà-quật, những di
tích này đều có thể khảo cứu), nhà xuất bản Nhật Bản
Cận Đại (Đông Doanh ) xuất bản tác phẩm
kinh Di-đà, dẫn chứng kinh luận cùng với hơn 200 kinh khác
có thể nói rất rõ ràng và đầy đủ.
III.
NỘI DUNG UYÊN BÁC
Pháp
môn Tịnh độ, chính đức Phật Thích Ca, Phật A-di-đà xây
dựng. Văn Thù, Phổ Hiền chỉ hướng quay về. Mã Minh (Đại
thừa khởi tính luận), Long Thọ (Dị hành phẩm) hoằng dương
pháp môn Tịnh độ. Sau khi truyền vào Trung Thổ, để khôi
phục kinh Tịnh độ, các Bậc thạc đức như: Khuông Lô, Thanh
Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Tài Lưu, Tỉnh Am, Triệt
Ngô, Ấn Quang v.v… đã phát huy đề xướng ra các phương
pháp đặc thù, viên đốn, diệu lý huyền nhiệm, vừa cạn,
vừa sâu. Ai y lời dạy hành trì thì tự có thể sanh về Tây
phương Cực lạc. Cho nên nói: “Không cần 3 kỳ kiếp tu phước
huệ, chỉ nương sáu chữ ra khỏi càn khôn”. Người đời
thường hay cho rằng chỉ niệm sáu chữ “Nam Mô A-di-đà Phật”,
liền có thể vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới. Do
phương pháp quá dễ mà ôm những lý luận nghi ngờ sanh tâm
bất tín. Nhưng pháp Phật nói, tuyệt đối không hư dối,
càng nghiên cứu các kinh luận Đại thừa sự trình bày về
pháp môn Tịnh độ, lược nói về Tịnh độ có các kinh như:
Kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa, kinh Lăng nghiêm, còn chuyên thuyết
Tịnh độ như kinh A-di-đà, kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô
lượng thọ, diệu nghĩa đã nói ở trong đó quá đầy đủ,
rõ ràng. Nên đại sư Ngẫu Ích dạy rằng: “Niệm A-di-đà
Phật thuần thục thì ba tạng 12 bộ loại, hết thảy giáo
lý của bậc thượng căn cùng với một ngàn bảy trăm công
án đều ở trong ấy; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, ba
tụ tịnh giới cũng ở trong ấy; sự vi diệu của pháp môn
này không có gì hơn, nội dung uyên bát trùm khắp ba căn. Nếu
thấy việc tu trì dễ dàng mà cho là nông cạn, thì người
ấy là kẻ quê mùa vậy! ”.
IV.
PHÁP MÔN HƯNG THẠNH NHẤT
Phật
thuyết tám vạn bốn ngàn pháp môn chủ yếu để chúng ta
có thể hiểu rõ sanh tử. Nhưng thực tế, lợi ích của pháp
môn là có thể phù hợp đúng với từng căn cơ. Pháp không
cao không thấp, nếu hợp căn cơ thì gọi là diệu. Phật giáo
truyền vào Trung Thổ trải qua gần 2 ngàn năm, dưới triều
đại nhà Đường, Phật giáo rất hưng thạnh. Tám tông phái
Đại thừa2 lần lượt hưng khởi, phương pháp tu hành tuy
có khác nhau đôi chút, nhưng quy về nguồn gốc thì không phải
khác. Cho đến hôm nay, Phật giáo có thể phổ cập xã hội,
thâm nhập vào lòng người, trong đó Tịnh độ tông thật
sự nổi bật. Nhưng vì mọi người đều thấy điều ấy
rõ ràng như vậy. Pháp sư Đạo Nguyên nói rằng: “Phật giáo
không phải là lý luận suông, mà quí nhất ở chỗ thực tiễn.
Cuối đời Đường, trên danh nghĩa tuy có tám tông, nhưng chỉ
có hai tông Thiền và Tịnh, còn lại các tông phái kia từ
từ lặng mất. Cho đến ngày nay, Thiền tông cũng chỉ còn
trên danh nghĩa, sự kế tục cũng bị mai một. Thật tế chỉ
còn một tông phái Tịnh độ, điều này là vì sao? Phải chăng
chính là do những tông phái kia về lý luận quá cao thâm, pháp
tu lại quá phiền phức, căn cơ bình thường không dễ lãnh
hội được cội nguồn”. Trong “Luận niệm Phật”, đại
sư Trạm Sơn Đàm Hư cũng nói: “Phật giáo Trung Quốc ở
trong xu thế tự nhiên nhưng đến người sau phân thành một
số tông phái như Thiên thai tông, Hiền thủ tông, Pháp tướng
tông (cũng gọi Từ ân tông hay Duy thức tông), Tịnh độ tông,
Chân ngôn tông, Thiền tông, Luật tông v.v… Điều này đều
do liên quan đến sự truyền thừa và học tập chuyên môn
của người đời sau nên mới lập ra các tông phái đó. Tất
cả những tông phái đều bình thường, duy chỉ Tịnh độ
tông và Luật tông, sự hành trì và giáo nghĩa ảnh hưởng
qua tông phái khác, vì phần giáo của Tịnh độ tông và Luật
tông có trong các tông phái, lại được đại chúng đệ tử
Phật cùng học. Ví dụ: Thiên thai tông, Hiền thủ tông, Tam
luận tông, Pháp tướng tông, phán giáo của mọi tông phái
không giống nhau, tu pháp quán cũng khác nhau. Nói tóm lại,
chúng ta để có thể lấy pháp tu Tịnh độ làm phương tiện
tốt nhất, đều có thể niệm Phật thành Phật. Chính Thiền
tông cũng tham cứu câu ‘niệm Phật là ai?’ Không luận xuất
gia hay tại gia, cũng không luận động cơ học Phật của hành
giả như thế nào, chỉ cần mục tiêu học Phật của người
đó là không ngoài niệm Phật để thành Phật, đồng thời
ở trong quá trình học Phật để trở thành Phật, chỉ cần
cùng tuân thủ giới luật thanh tịnh của Phật. Như mỗi chùa
ở nam, bắc Trung Quốc, không luận hành giả thuộc tông phái
nào, một ngày hai lần lên chánh điện nhiễu Phật thì đều
niệm ‘Nam Mô A-di-đà Phật’. Mở miệng lời ứng đáp cũng
niệm ‘Nam Mô A-di-đà Phật’. Đương nhiên mục đích cuối
cùng của Tịnh độ tông không ngoài việc được vãng sanh
thế giới Tây phương Cực lạc, để thấy Phật thành Phật.
Từ đây có thể thấy được pháp môn niệm Phật là rất
nhiều phương tiện và lại phổ biến”.
Theo
cách luận của hai vị Cao Tăng ở trên, ta thấy Tịnh độ
tông sẽ tồn tại ở đời lâu dài, nhất định là như vậy.
V.
PHƯƠNG PHÁP RẤT DỄ DÀNG
Xưa
Bồ-tát Long Thọ trước tác luận “Thập trụ Tỳ-bà-sa”,
trong đó ngài đem tất cả pháp môn phân thành hai loại: Hành
đạo dễ và hành đạo khó. Phàm nương vào kinh giáo, ngay
cõi Ta bà tích lũy công lao, đoạn hoặc chứng chơn, tu nhơn
đắc quả, tất cả đều thuộc hành đạo khó. Nhưng nương
vào pháp môn niệm Phật, vãng sanh Tịnh độ, ở trong nước
Cực lạc, dựa vào Phật lực để thành Chánh giác thì thuộc
hành đạo dễ. Ngày nay, gặp thời mạt pháp, thế giới biến
động bất an, chúng sanh không có ngày an ổn. Nếu như giáo
nghĩa quá ư sâu xa, khiến mình cảm thấy khó tu học thì xem
trong ý kinh Đại tập chép rằng: “Một ức người tu hành
thời mạt pháp, hình như chỉ một người đắc đạo, chỉ
nên nương vào câu niệm Phật để vượt thoát sanh tử”.
Bởi vậy các tông phái khác hoàn toàn nhờ vào tự lực, nên
sự tu chứng rất khó; còn Tịnh độ tông nương Phật lực
gia bị, vạn người tu vạn người vãng sanh. Pháp sư Ấn Quang
nói: “Pháp môn niệm Phật, cả hai Phật lực, tự lực đều
đầy đủ cả, cho nên người đã đoạn Hoặc nghiệp rồi
thì mau chóng chứng Pháp thân. Người còn đầy Hoặc nghiệp
thì cũng mang theo nghiệp mà vãng sanh. Phương pháp niệm Phật
rất bình thường, tuy người quê hèn, không hiểu biết, cũng
có thể được lợi ích từ phép niệm Phật”.
Lại
nữa, niệm Phật rất huyền diệu, dẫu Bồ-tát Đẳng giác
vẫn còn tu pháp môn niệm Phật, nên không một người nào
không tu được, cũng không có một người nào không thích
tu. Hạ thủ dễ mà thành công cao, dùng lực ít nhưng hiệu
quả nhanh. Đúng là pháp môn đặc biệt trong thời giáo một
đời đức Như Lai nói, cố nhiên không thể lấy cốt tủy
giáo lý mà luận phán. Chúng sanh thời mạt pháp, phước mỏng
tuệ cạn, nghiệp chướng sâu dày, không tu pháp này, muốn
nương tự lực đoạn hoặc chứng chơn để hiểu rõ sanh tử
thì thật là rất khó. Lời dạy của cổ đức hẳn nhiên
cũng đủ rõ ràng để lưu truyền cho vạn đời. Nhưng xét
về thực tiễn của pháp môn Tịnh độ cũng chỉ lấy ba pháp
Tín, Hạnh, Nguyện làm tông. Phật pháp như biển lớn, chỉ
có lòng tin mới có thể vào. Tổ sư Vân Thê dạy: “Muốn
vãng sanh Tịnh độ, điều thiết yếu cần phải có lòng tin
vững chắc, ngàn người tin thì ngàn người vãng sanh, vạn
người tin liền vạn người vãng sanh”. Đây là lời dặn
dò bằng tất cả tấm lòng vậy! Tín tâm đã đủ thì nguyện
mới thiết, Tịnh độ tuy xa nhưng có nguyện thì liền được
vãng sanh. Tổ sư Mộng Đông dạy: “Tu tập tịnh nghiệp quí
ở chỗ tín sâu, nguyện thiết, nhờ việc tín sâu nguyện
thiết này mà tất cả tà thuyết đều không thể làm dao động
mê hoặc”, thì nguyện tha thiết ấy cũng có ngày được
thỏa. Tín, Nguyện đã thiết tha thì Hạnh cũng phải cần
có lực. Các Hiền Thánh ngày xưa đã dạy: Được vãng sanh
hay không hoàn toàn do Tín và Nguyện có hay không? Phẩm vị
cao hay thấp hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn? Nên Tín, Nguyện,
Hạnh, ba pháp này, thế như ba chân của chiếc đảnh, thiếu
một không thể đứng được. Nếu tuân thủ điều này để
mà tu trì một cách chân thật thì tự có thể được lợi
ích thiết thực của sự vãng sanh vậy.
VI.
NGHI THỨC RẤT GIẢN TIỆN
Phật
pháp là pháp môn mà mọi người đều có thể học và cần
nên học. Vậy thì bắt đầu từ đâu để học Phật pháp,
để tu trì và lãnh thọ Phật pháp? Chẳng lẻ phải có vườn
rừng đình viện, chim hót, hoa thơm, bảo điện trang nghiêm,
tô son thếp vàng rực rỡ, cá hồng, khánh xanh, lụa đẹp
đắp thân, rồi mới học đạo hay sao? Chẳng lẻ phải sống
nơi phồn hoa đua hội, lầu gác nguy nga, rèm buông cửa thếp,
trời mây quang đãng, trông xa núi biếc … trong nhà thì có
tượng Phật vàng sáng rỡ, vẽ mặt mĩm cười, nhìn đâu
cũng thấy vui vẻ, sinh tâm hoan hỷ thì mới học đạo hay
sao? Điều này chỉ mới là phạm vi hẹp, đối tượng không
nhiều, không thể phổ biến vì đi ngược lại với ý định
phổ độ chúng sanh ban đầu của đức Phật. Chẳng lẻ muốn
danh thành lợi được, tài bảo đầy đủ, khuôn mặt phúc
hậu, cháu hiền con thảo, với dung nhan tuấn tú một thời,
đầy đủ tiếng tốt ở trần thế rồi thì mới học Phật
pháp hay sao? Đây chỉ là phước báu nhân gian không nhiều,
cảnh ngộ cũng thường theo đời biến đổi mà tiêu mất.
Theo sự đòi hỏi mà nói ra các điều này, cố nhiên không
dễ dàng đầy đủ. Thứ đến là theo nghi thức mà luận có
kẻ cũng thường sinh ra phiền toái, chẳng hạn như nhà cửa
ở đô thị, cuộc sống nhộn nhịp, khẩn trương được mô
tả trong kinh Dược Sư và Pháp hoa tam-muội sám nghi … : “Tục
trần bon chen, sống trong lao nhọc, tu hành không dễ, may lại
gặp bậc Cao đức của Liên tông, trấn hưng tông phong, xiễn
dương các pháp môn giản dị nhưng đầy đủ vô lượng công
đức, tuy tay chân chai sạn, cũng có thể thành tựu, dẫu hoàn
cảnh cơ hàn cũng có thể tu hành. Con đường mà lịch đại
tôn sư đã chỉ bày vừa dễ giữ, vừa dễ thực hành, như
pháp ngữ của đại sư Minh Triều Liên Trì có dạy: “Luận
về người học Phật, không bàn hình thức bên ngoài đẹp
đẽ, chỉ quí ở sự tu hành chân thật. Tại gia cư sĩ, không
nhất thiết phải buộc lụa, đội khăn, buộc tóc, không cần
phải gõ chuông đánh trống, tự mình có thể thường xuyên
niệm Phật. Người ưa thích thanh vắng, có thể ở nơi thanh
vắng niệm Phật, không nhất thiết phải đến các hội niệm
Phật. Người sợ giao tiếp, tự mình có thể nhập thất niệm
Phật, không nhất thiết phải vào chùa nghe kinh. Người biết
chữ, tự mình có thể nương lời dạy mà niệm Phật. Ngàn
dặm hành hương, không bằng ngồi yên ở nhà niệm Phật.
Cung phụng thầy mình, không bằng hiếu thuận cha mẹ mà niệm
Phật. Giao thiệp rộng rãi bạn xấu, không bằng độc thân
thanh khiết niệm Phật. Tạo phước kiếp sau sung sướng không
bằng hiện tiền tác phước niệm Phật. Cúng tế cầu nguyện
không bằng sám hối tội lỗi rồi niệm Phật. Học tập văn
thơ ngoại đạo không bằng người không biết chữ niệm Phật.
Không biết lý thiền mà đàm luận lung tung không bằng tha
thiết trì giới niệm Phật. Mong cầu cảm thông quỷ thần
không bằng tin đúng nhân quả niệm Phật. Nói tóm lại, trực
tâm diệt ác, niệm Phật như vậy gọi là Thiện nhân. Nhiếp
tâm trừ sự tán loạn, niệm như vậy gọi là Hiền nhân.
Ngộ tâm đoạn Hoặc (phiền não), niệm như vậy gọi là Thánh
nhân”.
Phần
khai thị trên quả thật mở mang chánh đạo tu trì. Như việc
đời nhiều ràng buộc thì đại sư Ấn Quang đề xướng pháp
môn thập niệm (phương pháp sớm tối mười hơi niệm Phật).
Ở đây cung kính chép như sau: Nếu công việc nhiều thì niệm
tu theo nghi thức đơn giản: Sớm tối, sau khi súc miệng rửa
mặt xong, có Phật thì lễ Phật ba lạy, đứng ngay ngắn chắp
tay niệm “Nam Mô A-di-đà Phật” hết một hơi là một niệm,
niệm đến 10 hơi thì đọc bài sám ngắn về Tịnh độ hay
đọc “Nguyện sanh Tịnh độ cảnh phương Tây, Chín phẩm
liên hoa là cha mẹ, hoa nở thấy Phật ngộ Vô sanh, Bồ-tát
bất thối là bạn hữu” (Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ
trung, Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ
Vô sanh). Đọc xong lễ Phật ba lạy là hoàn tất nghi thức.
Nếu không có thờ Phật thì hướng phía Tây lễ lạy. Niệm
theo phương pháp trên gọi là pháp môn Thập niệm. Ngài Tống
Từ Vân Sám Chủ vì vương thần bận rộn nhiều chính sự3
không lúc nào rảnh để tu trì mà lập ra pháp niệm này. Vì
sao phải dùng hơi niệm Phật, vì tâm chúng sanh tán loạn,
lại không rảnh rỗi để chuyên niệm, nên lúc niệm thì mượn
khí để nhiếp tâm thì tâm tự nhiên không tán loạn. Song,
nên tùy theo hơi dài hay ngắn mà niệm, không nên cưỡng ép
niệm một lần nhiều câu, cưỡng ép thì dễ bệnh và lại
chỉ 10 lần niệm, không nên niệm 20 hay 30 lần; niệm nhiều
sẽ tổn khí dẫn đến tâm niệm sẽ tán loạn, khó được
vãng sanh. Pháp này có thể hướng tâm qui về một chỗ, nhất
tâm niệm Phật quyết định sẽ vãng sanh. Số lần niệm Phật
tuy ít nhưng công đức rất nhiều, trình bày ở văn trên rất
rõ và cũng được coi là Pháp hoàn bị.
VII.
RẤT THÍCH HỢP VỚI THỜI CẬN ĐẠI
Học
thuyết tôn giáo sở dĩ có thể được lưu truyền rộng rãi
đến vạn đời là do nó có đầy đủ những điểm đặc
sắc siêu nhiên. Hơn nữa, lại thích ứng được với trào
lưu, đồng thời quí ở chỗ là có cùng xu hướng với dòng
chảy của thời đại, nên mới trải qua muôn đời mà vẫn
luôn mới mẻ. Cuộc sống đô thị ngày nay dần dần có xu
hướng bị công nghiệp hóa thì thời gian hẳn nhiên rất là
quí trọng, công việc cũng nhiều phiền bận. Giả sử thường
xuyên tranh thủ trong lúc rãnh một ít thời giờ để nghiên
cứu đôi chút Phật pháp thì vô cùng quí giá. Dẫu núi non
hữu tình, cung vàng điện ngọc, mà đường dài hiểm trở
thì chưa chắc họ đã đến. Nếu như có nhiều cơ sở lớn
để lập đạo tràng thuyết pháp thì cũng vì xuôi ngược
để kiếm miếng cơm manh áo nên không thể thấm nhuần mưa
pháp. May mắn lại có pháp môn Tịnh độ như mưa ngọt mây
lành, như sức sống mùa xuân.
Kinh
A-di-đà có chép: “Nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe đức
Phật A-di-đà thuyết pháp, giữ trì danh hiệu, từ 1 ngày đến
7 ngày, đạt được nhất tâm bất loạn, lúc sắp lâm chung
người ấy được Phật A-di-đà và các Thánh chúng hiện ra
trước mặt, và khi chết tâm không điên đảo, ngay khi đó
được vãng sanh về nước Cực lạc của Phật A-di-đà”.
Nên có thể biết rằng trì danh niệm Phật hạ thủ rất dễ,
thích hợp với nhiều căn cơ, không luận nam nữ già trẻ,
người trí kẻ ngu, giàu sang bần cùng, thiện ác bệnh khổ,
sống bằng nhiều nghề, mọi hạng người đều có thể tùy
thời tùy chỗ niệm Phật mà không mất vàng bạc, không hao
tổn khí lực. Không chỉ có lợi ở đời sau, lìa khổ được
vui mà còn được sống lâu, không gặp khó khăn và được
lợi ích trong sanh tiền. Cho nên, phương pháp giản lược không
phiền toái này rất thích hợp với sinh hoạt thường ngày
của mọi người. Đây chính là đường tắt trong đường
tắt. Nếu muốn cầu tinh tấn hơn thì các lịch đại tôn
sư chế định những giới luật nghiêm tịnh điển hình cụ
thể là những phép tắc đang tồn tại, tự bản thân chúng
ta có thể lấy những phép tắc này để thực hành và xem
như là bậc thầy. Đây chính là dùng hương thơm tỏa ra để
cúng dường.
VIII.
LỜI KẾT
Tôn
sư các thời đại của Tịnh độ tông đều lấy pháp môn
này để tự tu và dạy người. Trải qua khoảng một ngàn
năm mãi cho đến nay pháp môn này vẫn còn thịnh mà ngày càng
được phát dương. Các Tổ sư của nhiều tông phái khác nhau
như: Thiên thai tông có đại sư Trí Giả, tôn giả Trí Minh,
Hoa nghiêm tông có quốc sư Thanh Lương, Luật tông có luật
sư Nguyên Chiếu và thời cận đại có đại sư Hoàng Nhất;
Thiền tông có Trường Lô, Trung Phong, Sở Thạch. Thời gian
gần đây có ngài Hư Vân và các thiền sư khác, tuy mỗi vị
mở rộng tông phái riêng nhưng đều nghiêng về tán thán Tịnh
độ, có lẽ là vì mọi người đều tu trì pháp môn này.
Pháp môn Tịnh độ có bốn phương pháp tu tập:
Thật
tướng niệm Phật
Quán
tượng niệm Phật
Quán
tưởng niệm Phật
Trì
danh niệm Phật
Tuy
nhiên phương pháp trì danh thông dụng nhất, bởi vì hạ thủ
dễ mà thành công cao. Từ sau khi Phật pháp lưu truyền vào
Trung Quốc, các bộ luận như Thành thật luận, Câu-xá luận,
người tu tập thì ít còn Tam luận tông, Duy thức tông thì
nghĩa lý uyên áo rắc rối rất khó nghiên cứu. Người trí
kém không thể hiểu rõ, còn người thích đơn giản thì chẳng
thích nghiên cứu. Chỉ Thiền và Thiên thai tông được hàng
nho sĩ để tâm, nhưng chỉ giới hạn ở thành phần trí thức.
Riêng Tịnh độ tông dùng phương pháp giản dị, thâm nhập
vào dân gian, ai có lòng tin vững chãi thì mọi lúc đều được
an ủi. Từ xưa đến nay, người như vậy thâu hoạch rất
nhiều lợi ích. Pháp sư Bảo Tịnh dạy: “Hồ sen trước
mặt, vạc nấu sau lưng, không sanh An dưỡng thì sanh ở đâu
bây giờ? Bậc trí thì khéo suy nghĩ việc này, đừng trở
lại tham luyến trần lao, sống quanh quẩn mà để đời trôi
qua một cách vô ích, hãy lấy một câu Di-đà ôm chặt trong
lòng, tín chân thật, nguyện tha thiết vãng sanh, thành thật
trì danh niệm Phật, dũng mãnh hướng thẳng về phía trước,
đừng để biếng nhác phát sinh”. Hãy đem lời này chỉ dạy
cho kẻ mê và khắc lên gần bên chỗ ngồi!