05
LỊCH
SỬ TỊNH ĐỘ TÔNG TRUNG QUỐC
Nguyên
tác: Lý Hiếu Bổn
Việt
dịch: Thích Quảng Hiếu
I.
LỜI NÓI ĐẦU
Có
một niềm tin tuyệt đối với chư Phật và tin sự tồn tại
cảnh giới Tịnh độ của các Ngài, hy vọng sinh tiền được
Phật nhiếp hộ, sau khi chết sanh về cõi Tịnh độ, sự tín
ngưỡng này là tư tưởng Phật giáo Đại thừa, gọi là Tịnh
độ giáo.
Chúng
ta thường xem trong các kinh luận Đại thừa, tuy nói rõ mười
phương vô số chư Phật nhưng nói Tịnh độ của các Ngài
và sự giáo hóa chúng sanh ở quốc độ đó thì chỉ nói về
Phật A-di-đà, Phật A-súc, Phật Dược Sư v.v.. mà thôi. Nhưng
đa số kinh điển nói về đức Phật A-di-đà rất nhiều và
cũng nói rõ lời phát nguyện tu hành, sự tạo dựng “Thế
giới Tây phương Cực lạc” trang nghiêm của Ngài khi Ngài
tại vị. Cho nên Tịnh độ của Phật Di-đà trở thành đại
biểu cho các Tịnh độ của các đức Phật.
Ở
Ấn Độ, tín ngưỡng này rất thịnh hành mà các kinh điển
phần nhiều cũng nói rõ ý nguyện sanh về cõi Tịnh độ.
Sau đó, tín ngưỡng Tịnh độ truyền vào Trung Quốc, người
Tăng kẻ tục hướng về lên đến cả hàng vạn người. Do
đó, trở thành một tín ngưỡng thực tiễn.
Tịnh
độ giáo truyền vào Trung Quốc vào năm thứ hai niên hiệu
Quang Hòa, đời Hậu Hán Linh Đế, (179 TL), ngài Chi-lâu-ca-sấm
dịch ra kinh “Bát-chu tam-muội” truyền đến đầu tiên.
Sau đó đời Tây Tấn có kinh “Đại A-di-đà”, kinh “Bình
đẳng giác” được phiên dịch truyền vào; tiếp đến đời
Hậu Tần có ngài Cưu-ma-la-thập, đến đời Lưu Tống nối
tiếp sự nghiệp trên có ngài Bảo Vân cùng ngài Cương-lương-da-xá
v.v… Đồng thời người cầu sanh về Tây phương điển hình
như ông Khuyết Công Tắc, sống vào đời Tây Tấn nhưng người
nổi tiếng nhất đó là Lô Sơn Huệ Viễn vào đời Đông
Tấn. Ngài ở phía nam Lô Sơn lập ra hội “Bạch liên” cùng
với hội chúng tin tấn tu “Niệm Phật tam-muội”, nương
vào kinh Bát-chu tam-muội, mong muốn khi vãng sanh được gặp
Phật. Vì lẽ đó, tự nhiên trở thành dòng chính của
trào lưu Tịnh độ ở Trung Quốc.
Từ
sau đời Nam Bắc triều Lưu Tống, tín ngưỡng Tịnh độ dần
dần truyền rộng khắp nơi, có chỗ giảng dạy đọc tụng
kinh Vô lượng thọ, có vùng tạo dựng tượng Phật Di-đà.
Triều Bắc Ngụy, đời Tuyên Võ Đế có ngài Bồ-đề-lưu-chi
dịch kinh “Vô lượng thọ Ưu-bà-đề-xá” của ngài Thế
Thân. Sau đó, ngài Đàm Loan chú giải, bao gồm trong “Thập
trụ Tỳ-bà-sa luận”, nói về hai con đường khó và dễ
(nan hành, dị hành), chủ trương về tha lực bổn nguyện,
để xiển minh lập giáo bổn nghĩa Tịnh độ trước đây;
lấy phía bắc Tinh Châu làm trung tâm và đa số mọi người
đều nguyện sanh về Tịnh độ. Sau nhà Chu đến đời nhà
Tùy, đối với kinh văn, sự nghiên cứu kinh Vô lượng thọ
có các ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Gia Tường Cát Tạng …
Luận về thân Phật trong các cõi có ngài Thiên Thai, Trí Khải,
Ca Tài ... Đương thời, phái Địa luận và các học phái khác,
phần nhiều có khuynh hướng tín ngưỡng Phật A-di-đà; chỉ
có các tu sĩ ở học phái Nhiếp luận lấy sự vãng sanh của
hàng phàm phu trong Quán kinh (Quán vô lượng thọ kinh) v.v...
làm “Biệt thời ý thuyết” để thứ tự vãng sanh là không
thể được. Nhân việc này đã làm phương hại đến sự
hoằng dương rộng rãi tín ngưỡng Tịnh độ không phải ít.
Đến
đời nhà Đường, ngài Đạo Xước và Thiện Đạo v.v... kế
thừa giáo chỉ của ngài Đàm Loan, họ tận lực hoằng truyền
bổn nguyện của đức Phật; lại chủ trương tư tưởng thời
mạt pháp mà nói lên những điều cốt yếu phù hợp thời
giáo. Đặc biệt, ngài Thiện Đạo dùng ý nghĩ chí hướng
của mình soạn Quán kinh sơù1, để luận phá nghĩa lý của
các học phái khác và lấy giáo nghĩa Tịnh độ làm cơ sở
độc lập. Lúc này ở Trường An và các nơi khác, các tu sĩ
đều nghiên cứu kinh A-di-đà, kinh Vô lượng thọ v.v..., kinh
điển Tịnh độ đạt đến đỉnh cao của trào lưu tư tưởng.
Đầu
đời nhà Đường, ngài Huệ Nhật từ Ấn Độ trở về, thấy
đồ chúng của Thiền tông cho Tịnh độ chỉ là lời nói
hư vọng dẫn đường người ngu. Phản bác đối lại điều
đó thì càng tăng thêm nỗi đau, nhưng ngài vẫn chủ xướng
cốt yếu niệm Phật vãng sanh. Các ngài Thừa Viễn, Pháp Chiếu,
Phi Tích v.v… cũng theo thuyết này, lấy niệm Phật Tam-muội
là phương tiện thâm diệu của Thiền môn, hết lời bài xích
lại những người học thiền bụng rỗng tâm cao. Lúc này,
đệ tử nhà Thiền có thốt lên tiếng nói chung, như ngài
Tuyên Thập đệ tử của Ngũ Tổ, xướng ra một phái Thiền
“Nam sơn niệm phật môn”. Nam Dương Huệ Trung đệ tử ngài
Lục Tổ cũng đề xướng Hành, Giải song tu. Đến đời Hậu
Chu, các ngài: Pháp Nhãn Đích Tôn, Vĩnh Minh Diên Thọ lại
nói rõ lý “Chơn không diệu hữu” và cổ súy Thiền, Tịnh
song tu. Từ đó hưng khởi một dòng Thiền tông. Đến đời
Tống, Thiền Tịnh song tu được áp dụng rộng rãi cho cả
Tăng lẫn tục, đều do sự ảnh hưởng dòng Thiền trên để
lại. Lúc đó, trong Thiên Thai tông cũng có nhiều người sùng
tín và hiểu nghĩa Tịnh độ. Đến đời Tống, các đệ tử
của Thiên Thai cùng nối tiếp nhau soạn thuật kinh Quán vô
lượng thọ, kinh A-di-đà và các tác phẩm khác, đều xiển
minh giáo chỉ Tịnh độ. Trong đó, có “Quán kinh sớ diệu
tông sao” của ngài Tứ Minh Tri Lễ rất nổi tiếng, ngài
nghĩ lời Phật nói là một sự dung hợp cả Thiên Thai và
Tịnh độ. Xưa nay, đệ tử trong môn phái Thiên Thai chú trọng
đến điều này. Lại có ngài Nguyên Chiếu người Dư Hàng,
kết hợp luật của phái Nam Sơn để hoằng dương Tịnh độ,
sớ giải Quán kinh v.v.. , tự xây dựng một tông phong riêng.
Lúc này ở phương Nam, hội niệm Phật được thịnh hành,
kết hội “Bạch liên” ở Lô Sơn, mô phỏng ngài Thiện
Đạo, theo gót ngài Pháp Chiếu. Thời kỳ đầu Nam Tống, ngài
Từ Chiếu Tử Nguyên xướng tông Bạch liên, ngài Lô Sơn phổ
độ kế tục trước tác “Liên tông bảo giám” để nêu
rõ tông chỉ ấy. Song, trong tông đồ có những tư tưởng
lệch lạc về mê tín, liên quan đến sự băng hoại và hỗn
loạn của phong tục nên đã nhiều lần đặt ra các điều
ngăn cấm. Về sau, Bạch liên giáo phiến động gây loạn đến
các tầng lớp thiếu hiểu biết, qua một thời gian dài gây
tác hại đến trị an các địa phương, do đó, Bạch liên
giáo được mệnh danh là tông tà.
Từ
thời nhà Nguyên trở về sau, tông phong Thiền Tịnh song tu
được phát triển và lưu hành rộng rãi. Bấy giờ có ngài
Trung Phong Tông Bổn, Thiên Như Duy Tắc v.v… đều hướng tâm
về Tây phương. Điều nữa, môn đồ tông Thiên Thai đều
tán dương pháp môn Tịnh độ. Đến đời Minh, các ngài Sở
Sơn Thiệu Kỳ, Không Cốc Cảnh Long, Nhất Nguyên Tông Bổn,
Vân Thê Châu Hoành, Hám Sơn Đức Thanh, Cổ Sơn Nguyên Hiển
... nối tiếp hoằng truyền thuyết Thiền Tịnh song tu. Trong
đó, ngài Châu Hoành nổi tiếng nhất. Trong những năm niên
hiệu Long Khánh, Ngài ở núi Vân Thê, Hàng Châu, chuyên ròng
tu niệm Phật tam-muội, chú giải kinh A-di-đà; ngoài ra còn
trước tác các sách cổ súy Thiền Tịnh song tu. Sau ngài đã
cảm hóa mọi người bao trùm cả một vùng rộng lớn.
Tông
Thiên Thai cũng có các ngài Cừ Am Đạo Hữu, U Khuê Truyền
Đăng, Linh Phong Trí Húc ... mỗi vị đều viết sách làm sáng
tỏ tông giáo Tịnh độ. Đặc biệt ngài Trí Húc đề xướng
luận “Tam học nhất nguyên” dùng ba tông: Thiền, Giáo, Luật;
hình thành một thế chân vạc, hỗ trợ lẫn nhau, nếu bỏ
một thì không thể được. Vả lại, chủ trương tam học
này quay về pháp môn Tịnh độ. Lúc này có các cư sĩ Trang
Quảng Hoàn, Viễn Hoành Đạo ... đều soạn sách tuyên dương
Tịnh độ. Đến đời nhà Thanh, tín ngưỡng Tịnh độ
phần nhiều do các cư sĩ cổ súy như Bành Thiệu Thăng, Hy
Thích Phụ Tử, họ biên chép truyện “Vãng sanh” và soạn
sách nhằm ca ngợi Tây phương, hết sức truyền bá rộng rãi
Tịnh giáo. Trong khoảng thời gian từ vua Khang Hy đến Càn
Long có các ngài: Đạo Bái Vi Lâm, Vân Đảnh Năng Tế, Thật
Hiền Tư Tề ... tinh tấn tu Tịnh độ. Đặc biệt ngài Thật
Hiền Tư Tề, kế thừa tông phong ngài Châu Hoành để lại.
Ở Hàng Châu, ngài lập hội niệm Phật, giáo hóa gần xa,
được mọi người kính trọng tôn xưng là Vĩnh Minh tái thế.
Tóm
lại, Từ đời Tống về sau, Tịnh độ giáo thịnh hành phía
Nam sông Chiết (tỉnh Chiết Giang) và sông Mân (tỉnh Phúc Kiến),
vì triều đình nhà Thanh kiến đô tại Bắc Kinh nên sự hoằng
truyền sớm có cơ hồ thoát khỏi hạn hẹp ở phương Nam.
Đời Minh về sau, Phật giáo hầu như tán mất sinh khí không
còn khả quan khai sáng trở lại. Từ đó, việc soạn sách
Tịnh độ quá lắm chỉ sao chép hay nói lên pháp ngữ của
người xưa mà thôi. Từ năm Dân Quốc thứ nhất đến nay,
Phật giáo dần dần có chiều hướng phục hưng. Như pháp
sư Ấn Quang chủ trương pháp môn Tịnh độ, với hoài bão
xuất thế, mục đích hướng đến quả Phật, ra sức cứu
tế trong xã hội; công đức hóa độ rộng như biển cả.
Do đó, người Tăng kẻ tục các nơi lập hội niệm Phật
ngày càng đông thêm. Chẳng may, cuộc chiến Trung-Nhật phát
khởi, mở rộng ra thành đệ nhị thế chiến. Sau đó, Đại
Lục càng lún sâu vào vòng xoáy bạo lực và nằm trong bàn
tay của loài ma quái. Phật giáo bị phá hủy cũng do chính
từ trong thâm ý của con người gây ra cả!
II.
TÍN NGƯỠNG TỊNH ĐỘ VÀO THỜI KỲ ĐẦU
1.
Sự phiên dịch truyền bá kinh điển Tịnh độ.
Sự
nghiệp phiên dịch kinh điển ở Trung Quốc bắt đầu vào
đời Hậu Hán, triều đại Hoàn Đế, ngài An Thế Cao
là người đầu tiên dịch Tam tạng kinh. Cuối đời Hoàn Đế,
ngài Trúc Phật Sóc và Chi-lâu-ca-sấm đến Lạc Dương dịch
kinh điển Đại thừa như Bát-nhã v.v... Tháng mười năm thứ
hai niên hiệu Quang Hòa, Linh Đế (179 TL), ngài Chi-lâu-ca-sấm
và Trúc Phật Sóc dịch kinh “Bát-chu tam-muội”. Đây là
lần đầu tiên Trung Quốc truyền dịch kinh điển A-di-đà.
Kinh này tuy chưa nói rõ sự trang nghiêm của cõi Tinh độ nhưng
chỉ ra rằng nương vào pháp môn niệm Phật sẽ được thấy
Phật A-di-đà ở Tây phương; tức nói rõ việc đạt đến
tam-muội làø thấy pháp Phật.
Vào
đời Tam Quốc, ở nước Ngô, trong những năm từ đầu niên
hiệu Hoàng Vũ đến Kiến Hưng, ngài Chi Khiêm dịch kinh “Đại
A-di-đà”, 2 quyển. Vấn đề trọng yếu trong kinh này nói
rõ ràng chi tiết về tâm phát nguyện và cảnh trang nghiêm
Cực lạc Tịnh độ của Phật A-di-đà khi tại nhân vị2.
Đời
Tây Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ dịch kinh “Vô lượng thanh tịnh
bình đẳng giác”, 2 quyển. Kinh này thuật kể lại gần giống
với kinh “Đại A-di-đaø” mà ngài Chi Khiêm dịch, nhưng
24 lời nguyện trong văn và nội dung thì khác nhau, có thể
do bản văn chữ Phạn không đồng.
Vào
khoảng thời gian từ đời Tam Quốc đến đời nhà Tấn, Việc
dịch ghi chép nói về kinh điển Bổn Sanh ... của Phật A-di-đà
cũng không ít. Ở nước Ngô, ngài Chi Khiêm dịch kinh Huệ
ấn tam-muội, Vô lượng môn vi mật trì. Ở Tây Tấn, ngài
Trúc Pháp Hộ dịch Đức Quang thái tử kinh, Quyết định tổng
trì kinh, Hiền kiếp kinh, Chánh pháp hoa kinh, Tế chư phương
đẳng học kinh, Sanh kinh, Quán Thế Âm kinh, Đại Thế Chí
thọ quyết kinh v.v… Lại có kệ Phật A-di-đà, sau đó các
bài kệ này được ghi chép thành một quyển. Phải chăng được
phiên dịch từ bản chữ Phạn? Hay là được soạn thuật
ở Trung Quốc? Điều này không được rõ lắm, nhưng đó là
những sách có trước đời Lưu Tống thì không thể nghi ngờ
gì nữa.
Năm
thứ 3, niên hiệu Hoằng Thủy đời Diêu Tần (401 Tl), ngài
Cưu-ma-la-thập từ Cô Tạng3 đến Trường An, dịch kinh A-di-đà,
luận Thập trụ Tỳ-bà-sa v.v… Kinh A-di-đà (1 quyển) cùng
tên là kinh Vô lượng thoï, lược thuyết về sự trang nghiêm
Cực lạc Tịnh độ, được mọi người xưa nay đọc tụng
rộng rãi. Về sau đến đời Đường, niên hiệu Vĩnh Huy năm
đầu (650 TL), ngài Huyền Trang dịch lại kinh đó. Gọi là
kinh “Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thọ”, luận “Thập
trụ Tỳ-bà-sa” (17 quyển). Trong phẩm “Dị hành” có đưa
ra hai con đường khó và dễ, xưng danh hiệu mười đức Phật
trong mười phương … cho đến không thối chuyển là con đường
dễ thực hành. Lại đặc trưng 32 hàng kệ tán thán Tịnh
độ Di-đà.
Đời
Lưu Tống, niên hiệu Vĩnh Sơ năm thứ hai (421 TL), ngài Bảo
Vân trú chùa Đạo Tràng ở Dương Đô dịch kinh “Tân vô
lượng thọ” (2 quyển). So với bản dịch xưa, kinh “Đại
A-di-đà” và kinh “Bình đẳng giác” khác nhau rất nhiều.
Lời tựa, số lời nguyện cũng tăng lên gấp đôi, thành 48
lời nguyện. Vả lại, không có đề cập đến vua A-xà-thế
và sự nhập diệt của Phật Di-đà, ký sự về ngài Quan Thế
Âm thành đạo v.v… Trong đó, có nhiều chỗ thêm bớt không
ít. Vì vậy, gọi là kinh “Tân vô lượng thọ”.
Đời
Bắc Lương, niên hiệu Huyền Thủy, năm thứ 8 (419 TL), ngài
Đàm-vô-sấm dịch kinh “Bi hoa” (10 quyển), ghi chép về vua
Vô Tránh Niệm là tiền thân của Phật Di-đà làm đối tượng
trung tâm. Trong “Đại bổn sanh đàm” nói về Phật Di-đà
đối với Phật Thích Ca, Tịnh độ đối với Uế độ thành
Phật. Lấy đức Phật Di-đà làm đại biểu thành Phật ở
cõi Tịnh độ, nói rõ Ngài tại nhân vị phát tâm và nêu
lên 52 lời nguyệân của Ngài.
Đời
Lưu Tống, niên hiệu Nguyên Gia năm đầu (424 TL), ngài Cương-lương-da-xá
dịch kinh “Quán vô lượng thọ” (1 quyển), thuyết minh Phật
Di-đà, hai vị Bồ-tát Quan Âm và Thế Chí, đồng thời trang
nghiêm Cực lạc Tịnh độ v.v… Bởi do trừ diệt được
nghiệp chướng mà sanh vào đó, đời sau người ta lấy ba
bộ kinh: Quán vô lượng thọ, Vô lượng thọ và Di-đà cùng
gọi là Tịnh độ. Kinh điển Tịnh độ tiếp tục truyền
dịch đến nay gần như đầy đủ.
Sau
thời kỳ kinh điển Tịnh độ dịch ra, dần dần có người
đọc tụng cầu nguyệân sanh về Tây phương. Căn cứ vào
sách “Pháp uyển châu lâm”, chương 32 “Minh trường ký”
đưa ra truyện: Vào đời Tây Tấn, có ông Khuyết Công Tắc
và các môn nhơn của ông là Vệ Sĩ Độ đều được vãng
sanh Tây phương Cực lạc. Đây là những người tín ngưỡng
Di-đà từ buổi ban sơ hiện còn lưu giữ sớm nhất trong Văn
hiến. Cuối đời Tây Tấn, có ngài Trúc Tăng Hiển, người
phương Bắc, đi đến Giang Nam bị nhiễm bệnh. Ông liền niệm
Phật Di-đà nguyện sanh về Tây phương, lúc lâm chung được
Phật cảm ứng tiếp dẫn. Lại có ngài Trúc Pháp Khoáng thường
tụng hai bộ kinh Pháp hoa và Vô lượng thọ, ở bất cứ chỗ
nào có người đông thì ông thuyết giảng kinh đó. Năm Hưng
Ninh (363 TL), ngài đến Vũ Huyệt4 chữa trị bệnh dịch cho
mọi người trong làng. Lúc này, cũng có ngài Trúc Đạo Lân
tạo tượng Phật Vô Lượng Thọ, còn ngài Pháp Khoáng khuyên
tín đồ kiến lập đại điện để kết duyên với đạo.
Đầu
thời kỳ Đông Tấn, ngài Chi Đạo, người Trần Lưu, thuê
thợ tạo tượng Phật Di-đà, tự viết văn tán thán Phật.
Năm đầu niên hiệu Nguyên Hưng đời Đông Tấn (402 TL), ngài
Huệ Viễn lập ra hội “Bạch liên”, cùng đại chúng lập
thề nguyện trước tôn tượng Phật Di-đà. Nên biết rằng
lúc này ở Lô Sơn đã an trí, phụng thờ tượng Phật. Căn
cứ vào kinh “Bát-chu tam-muội”5, phẩm “Tứ sự” có nói
rằng: “Muốn mau chóng đạt đến Bát-chu tam-muội, nên làm
ra hình tuợng Phật”. Vì vậy, thời kỳ đầu tín ngưỡng
Tịnh độ là tạo lập tượng Di-đà để chóng đạt được
Tam-muội. Và muốn người đời sau lấy tượng Phật Di-đà
làm tượng Phật tiêu biểu hướng đến qui y, tôn kính nhưng
tự mỗi người tôn kính khác nhau.
2.
Ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn và hội Bạch liên.
Tại
Lô Sơn, Giang Tây, ngài Huệ Viễn lập ra hội Bạch liên cùng
đồ chúng của ngài chuyên ròng tu niệm Phật tam-muội. Vì
hợp với căn cơ, cho nên một thời giáo pháp Tịnh độ chan
hoà hưng thịnh. Ngài đã cảm hoá đến cả người đời sau
nên được mọi người tôn xưng là tổ “Liên tông” ở
Trung Quốc. Đến nay vẫn được mọi người kính trọng.
Ngài
Huệ Viễn sanh vào đời Đông Tấn, niên hiệu Hàm Hoà, năm
thứ 9 (334 TL); người Lâu Phiền, Nhạn Môn, Sơn Tây. Năm 13
tuổi, ngài du học ở Hứa Lạc, Hà Nam, nghiên cứu học tập
thông suốt sáu kinh, rất giỏi về đạo Lão, Trang. Lên 21
tuổi, ngài vào núi Thái Hành, Hằng Sơn, Sơn Tây, nghe ngài
Thích Đạo An giảng Bát-nhã, hốt nhiên đại ngộ. Rồi cùng
em là Huệ Trì xuống tóc xin làm đệ tử. Sau đó, ngài cùng
bạn đồng học hơn 400 người, theo ngài Đạo An sang Tương
Dương. Năm thứ 15 hiệu Kiến Nguyên, đời Phù Tần (379 TL),
tướng Phù Kiên đem quân vây hãm Tương Dương. ngài cùng Đạo
An trở lại Trường An. Sau ngài lại dẫn mười vị đệ tử
đến Kinh Châu.
Đến
đời Đông Tấn, niên hiệu Thái Nguyên năm thứ 6 (381 TL),
ngài mới đến Lô Sơn, trú ở tinh xá Long Tuyền. Sau khi quan
Thứ sử Hoàn Y ở Giang Châu xây dựng Tinh xá Đông Lâm ở
Sơn Đông thì Ngài đến đó an trí một cảnh thiền lâm; đồng
thời kiến trúc am thất thờ hình tượng đức Phật. Ngày
đêm, ngài khuyến khích sách tấn đại chúng tu học. Năm thứ
16 niên hiệu Thái Nguyên (391 TL), ngài thỉnh ngài Tăng-già-đề-bà
đến Lô Sơn dịch kinh. Năm sau, ngài bảo đệ tử là Chi Pháp
Lãnh … sang Tây Vực cầu kinh. Danh tiếng Huệ Viễn vang vọng
bốn phương cho nên kẻ Tăng người tục không kỳ hẹn mà
đến thọ giáo ngày càng đông. Họ vứt bỏ mọi vinh hoa phú
quý ở đời, để cầu được tắm gội trong dòng nước Phật
hoá.
Tháng
7 năm đầu niên hiệu Nguyên Hưng (401 TL), ngài cùng Lưu Di
Dân ... cả thảy 123 người, quỳ trước tượng Phật A-di-đà
tại tinh xá Bát-nhã Đài, lập thề nguyện tu niệm Phật tam-muội,
mong muốn được sanh về Tây phương. Lô Sơn Bạch liên xã,
chính là nơi sanh ra hội niệm Phật. Khi ấy Lưu Di Dân soạn
bài văn thề nguyện, đại chúng đều làm thơ ngâm vịnh ca
ngợi Tịnh độ, Huệ Viễn viết lời tựa đầu đề cuốn
sách “Niệm Phật tam-muội thi tập”. Năm sau, Hoàn Huyền
ở Giang Đông xưng vương, bắt Sa-môn lạy các bậc vương
giả. Ngài Huệ Viễn soạn luận “Sa-môn bất bái vương giả”.
Sau
đó, ngài Cưu-ma-la-thập đến Trường An, viết sách, tặng
vật kết mối giao hảo và chất vấn về nghĩa mười tám
khoa thâm diệu trong Đại thừa. Ngài Cưu-ma-la-thập truyền
ngài Phật-đà-bạt-đà-la đến Lô Sơn dịch kinh “Đạt-ma-đa-la
thiền” v.v… rồi thọ pháp thiền ở đó.
Huệ
Viễn ở Lô Sơn hơn ba mươi năm, chưa từng xuống núi, tiễn
khách không quá suối Hổ Khê. Vào ngày mồng sáu tháng tám,
niên hiệu Nghĩa Hy, năm thứ 12 (416 TL), ngài thị tịch, hưởng
thọ 83. Nhục thân của ngài được mai táng ở núi Tây Lĩnh,
tháp xây bằng đá vụn. Ngài Tạ Linh Vận soạn văn bia ghi
lại công lao đóng góp của ngài. Đến đời Đường Tuyên
Tông, niên hiệu Đại Trung năm thứ 2 (848 TL), vua sắc chiếu
chỉ phong thụy ngài là “Biện Giác Đại Sư”. Nam Đường,
niên hiệu Thăng Nguyên năm thứ 3 (937 Tl), phong thụy “Chánh
Giác”. Năm thứ 3 niên hiệu Hưng Quốc, đời Tống Thái Bình
(978 TL), phong thuỵ “Viên Ngộ”; Nam Tống, niên hiệu Càn
Đạo năm thứ 2 (1166 TL) lại phong thụy “Chánh Giác Viên
Ngộ Đại Sư”. Những tác phẩm của ngài trước tác: “Lô
Sơn tập” (10 quyển), “Đại trí độ luận yếu lược”
(20 quyển), “Vấn đại thừa trung thâm nghĩa thập bát khoa”
(3quyển) v.v…
Hội
niệm Phật của ngài Huệ Viễn là dựa vào pháp niệm Phật
tam-muội, thấy Phật mà cầu vãng sanh. Lúc bấy giờ, kinh
Quán vô lượng thọ chưa được truyền dịch cho nên tư tưởng
của ngài là lấy kinh Bát-chu tam-muội làm nền tảng. Tam-muội
có nghĩa là chuyên về “tư” không khởi “tưởng” thì
khí thông suốt thần sáng tỏ, trí tự phát ra soi chiếu thấu
suốt đến cảnh giới vi diệu u tịch. Song, trong mỗi mỗi
tam-muội, hành giả niệm Phật tam-muội phải hết sức gia
công, như vậy mới có sự tiến chuyển lên cao được. Bởi
vì, đức Như Lai đã đến tận cùng sự huyền diệu, tối
cực nơi vắng lặng. Thân và Thể hoà hiệp hay biến đổi
tùy vào sự vật. Vì thế, khiến chúng ta nhập vào tam-muội
này. Muội có nghĩa là “biết vọng”, chính từ cảnh giới
sở duyên mà thành tựu để trí sáng tỏ. Đây nói rõ ra rằng
nếu một tâm chuyên niệm ngưng lặng các tưởng thì trí tự
phát soi chiếu và thấy cảnh giới của Phật
Lúc
này, phía bắc Trường An, soán đoạt ngôi vị, chiến loạn
không dứt. Còn ở phương nam, mọi người sống trong sự thanh
bình. Lạ thay! Ở Lô Sơn không những vắng bóng chiến tranh
mà còn giàu có sung túc, đồng thời lại xuất hiện một
vĩ nhân chấn chỉnh tuyên dương đạo pháp. Cho nên, bậc ẩn
sĩ có đạo đức thì bất kỳ ở đâu mọi người đều tìm
đến. Học trò của ngài lên đến ba ngàn người.
3.
Truyền bá tín ngưỡng Tịnh độ.
Sau
khi ngài Huệ Viễn viên tịch, ngài Đạo Bĩnh lên kế thừa
chức viện chủ tinh xá Đông Lâm. Các ngài: Đàm Hằng, Đàm
Tiên v.v… cũng đều dừng chân ở núi này, tuyên dương giáo
pháp theo di phong của ngài Huệ Viễn. Đồng thời các đệ
tử hay chúng hội niệm Phật, phần nhiều đi du hoá khắp
các nơi. Từ đó, tín ngưỡng Tịnh độ được truyền bá
rộng rãi. Ở phương Nam, các ngài: Đàm Thuận, Đàm Ung, Tăng
Triệt v.v… cùng tới Giang Lăng thuộc tỉnh Hồ Bắc, truyền
đạo. Huệ Viễn, Đạo Tổ Pháp Tôn dừng chân ở chùa Hạnh,
Giang Lăng6, thường cầu nguyện về An dưỡng, mà chiêm bái
lễ lạy đức Phật Di-đà. Cư sĩ Tông Bính cũng dựng nhà
sống nhàn cư ở Tam Hồ, Giang Lăng. Năm thứ 3 niên hiệu Long
An (399 TL), Huệ Trì em Huệ Viễn từ biệt anh vào đất Thục
đến Thành Đô trú tại tinh xá Long Uyên hoằng dương Phật
pháp. Đạo Uông ở chùa Kỳ Hoàn tại Thành Đô trấn hưng
Phật giáo. Vào năm đầu niên hiệu Hiếu Kiến (454 TL), ngài
Đạo Ôn được nhà vua ban chiếu chỉ trú trì chùa Trung Hưng,
Kiến Khang; lại ở chùa Đạo Tràng, Dương Đô7 dịch kinh
Tân vô lượng thọ8. Hội Liên xã kết chúng truyền thừa,
ngài Lôi Thứ Tông v.v… cũng kế tục đồ chúng an cư kiến
nghiệp và một số du hóa đến Chiết Giang rất nhiều. Huệ
Kiềm đến chùa Gia Tường huyện Thiệu Hưng (tỉnh Chiết
Giang). Đạo Kính vào núi Nhược Tà, Thiệu Hưng trấn hưng
pháp hóa. Ngài Đàm Dực đến Hàng Châu, núi Tần Vọng tạo
lập tinh xá.
Ngoài
ra, tuy chẳng phải ở trong môn hạ hay hội chúng của ngài
Huệ Viễn lập ra nhưng cũng có rất nhiều người cầu sanh
về Tây phương. Ngài Tăng Thuyên vào huyện Ngô, tại núi Hổ
Kheo tạo dựng kim tượng, tìm đến chùa Phương Hiển, Tiền
Đường, cầu nguyện sanh về Tịnh độ, chép kinh về Phật
A-di-đà cả ngàn bộ. Đàm Hoằng tuổi về chiều đến chùa
Tiên Sơn ở Giao Chỉ, An Nam (nước Việt Nam ngày nay) tụng
kinh: Vô lượng thọ và Quán vô lượng thọ, thề nguyện sanh
về An dưỡng. Năm thứ 2 niên hiệu Hiếu Kiến (455 TL), ngài
gom củi trong núi tự đốt thân mình. Trong truyện có ghi lại
các Ngài: Giang Lăng Đạo Hải, Bắc Châu Huệ Khám, Đông Châu
Huệ Cung, Hoài Nam Đàm Hoằng, Hoằng Nông Đạo Quang v.v…
đều nguyện sanh về Tây phương, khi lâm chung có điềm báo
trước.
Đến
đời Tề Lương, không chỉ mọi người nhiệt thành cầu sanh
về Tịnh độ, mà còn giảng dạy, đọc kinh Vô lượng thọ
… rất thịnh hành. Vào lúc này, “hải triều” nghiên cứu
giáo lý Tịnh độ ngày càng dâng cao. Trong sách “Tăng truyện”
phần nhiều cũng có ghi lại sự tụng kinh, lễ sám, chép kinh,
tạo tượng. Huệ Tấn trú trì chùa Cao Tòa ở Kiến Khang,
thường ngày tụng một bộ kinh Pháp hoa, chép ra cả trăm bộ
kinh. Siêu Biện ở chùa Định Lâm Thượng, Kiến Khang, lễ
sám Pháp hoa, Di-đà. Pháp Lâm ở chùa Linh Kiến, đất
Thục thường tụng kinh: Vô lượng thọ và Quán vô lượng
thọ. Tăng Nhu thông hiểu nhiều kinh, mở trường giảng dạy.
Sau đó, Ngài đến chùa Định Lâm Thượng ở Kiến Khang được
hai vua Văn Huệ, Văn Tuyên rất khâm phục kính trọng, tiếng
vang một đời. Hàng ngày, ngài thường thề nguyện sanh về
An dưỡng. Cứ mỗi khi hoàng hôn buông xuống, ngài chắp tay
ngay ngắn cầu nguyện. Pháp Độ, người Hoàng Long, trú chùa
Thê Hà, Giang Tô, cũng được các vua Văn Huệ và Văn Tuyên
kính trọng, nhiều lần giảng kinh Vô lượng thọ. Chùa Thê
Hà này, nguyên là một am tranh của Minh Tăng Thiệu, ẩn sĩ
người Tề Châu đã sống ở đó một thời. Đạo hữu Pháp
Độ, bạn của ngài giảng kinh Vô lượng thọ ở đây, trong
đêm, bỗng thấy xuất hiện một luồng ánh sáng. Năm thứ
bảy niên hiệu Vĩnh Minh đời nhà Tề (489 TL), (sau khi Minh
Tăng Thiệu tịch, ngài Pháp Độ) bỏ nhà xây chùa.
Sau
khi Tăng Thiệu viên tịch, đệ tử của ngài là Trọng Cảnh
cùng Pháp Độ ở Thạch Bích, Tây Phong, xây nhà để thờ,
điêu khắc tượng Phật Vô Lượng Thọ ở tư thế ngồi cao
ba trượng một mét năm tấc, xây nhà cao bốn trượng để
thờ hai tượng Bồ-tát cao ba trượng ba tấc. Trong các vương
gia, vương tử: Văn Huệ, Văn Hiến, Văn Tuyên, Thuỷ An đều
hỗ trợ cho việc tạo tượng. Rồi bỗng dưng có thêm Tống
Thái Tể Giang Hạ Vương Chi Hoắc, Tề Ung Châu Thứ Sử Điền
Quýnh v.v… bố thí tài vật, gọt giũa chà mài những tảng
đá lớn, tạo ra ức vạn hoá thân Phật.
Năm
thứ 10 niên hiệu Thiên Giám nhà Lương (511 TL), Tĩnh Huệ Vương
ở Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây) phát tâm tô điểm thêm cho các
tượng. Ở đây người ta gọi Nhiếp Sơn Thiên Phật Nham (động
ngàn Phật ở núi Nhiếp). Ngài Bảo Lượng lúc đầu ở chùa
Trung Hưng, Kiến Khang, sau đến chùa Linh Vị. Năm thứ 8 niên
hiệïu Thiên Giám, (509 TL), theo thánh chỉ của vua Võ Đế,
ngài chú giải, biên chép kinh Niết-bàn (Niết-bàn nghĩa sớ)
gồm 71 quyển, giảng kinh Vô lượng thọ 10 lần. Đệ tử
của ngài là Pháp Vân ở chùa Quang Trạch cùng ngài Tăng Mân,
Trí Tạng được người đương thời tôn xưng là ba vị Pháp
sư đời Lương. Tuy ngài Pháp Vân không truyền bá hướng dẫn
tín đồ cầu sanh về Tịnh độ. Song, ngài đã trước tác
“Pháp hoa kinh nghĩa ký”9, trong quyển thứ 5 giải thích phẩm
“Tín giải” về trưởng giả là Phật Di-đà; trong quyển
thứ 8 phẩm “Như Lai thọ lượng” giải thích câu: “Hoặc
chỉ thân mình hoặc chỉ thân người”. Nghĩa là thân mình
ví như Phật Thích Ca, thân người khác được xem như Phật
Di-đà. Ở đây, lấy Phật Di-đà là bổn thân của Phật Thích
Ca, để nói lên chủ trương này có rất nhiều thâm ý. Vả
lại, căn cứ trong “Thỉnh Quan Âm kinh sớ” của ngài Trí
Khải, ngài An Bẩm ở chùa Kỳ Ám10 coi Phật Thích Ca là Ứng
thân, Tích thân; Phật Di-đà là Chơn thân, Bổn thân. Điều
này cho thấy rõ sự phối hợp giữa Tích môn và Bổn môn,
nên nghĩ rằng: Đây là lời dạy của ngài Pháp Vân.
Đời
Lương, niên hiệu Thiên Giám năm thứ 8, ngài Pháp Duyệt v.v...
đúc tạo kim tượng Vô Lượng Thọ cao một trượng chín,
an trí ở chùa Quang Trạch. Lúc này, chùa Quang Trạch là một
trung tâm tín ngưỡng Tịnh độ. Trong truyện có kể rằng:
Ngài Đạo Trân đến nước Lương, buổi đầu đến Lô Sơn,
hàng ngày tu tịnh nghiệp (Tịnh độ), một đêm nọ nằm mộng
thấy có thuyền từ nước Phật Di-đà đến đón mình trở
về. Trước đây, do không đọc tụng kinh A-di-đà, mà còn
lo kinh doanh xây dựng nhà cửa, nên không thấy gì. Sau này,
Ngài tụng kinh, bèn thấy rõ những điềm báo vãng sanh.
Cuối
đời nhà Tấn trở về sau, tín ngưỡng Tịnh độ được
truyền bá các nơi ở phương nam; đồng thời, tượng Phật
Di-đà cũng lần lượt được tạo dựng. Phương nam chủ yếu
người ta dùng vàng hợp kim để đúc. Ngài Tăng Hồng trú
chùa Ngõa Quan ở Kiến Khang, do cuối đời Tấn đồng bị
cấm rất nghiêm ngặt, ngài quyên góp mọi người đúc được
một kim tượng (tượng vàng) Phật Vô Lượng Thọ, nên bị
quan địa phương bắt nhốt vào ngục. Ngài bèn tụng kinh Quán
Thế Âm, hết lòng nhớ nghĩ về tượng Phật, bỗng cảm đến
chư Phật, mà mộng thấy những điều linh ứng, liền thoát
khỏi nạn này. Ngài Tăng Lượng ở Giang Lăng, muốn tạo kim
tượng Phật Di-đà cao một trượng sáu, nhân vì dùng đồng
không đủ, ngài chọn một trăm thanh niên khỏe mạnh, dùng
mười thuyền lớn đến Tương Châu, vào thẳng mõ đồng của
triều Ngô Tử Tư11 lấy đồng về đúc. Song, ánh sáng tượng
chưa đủ nên Tống Văn Đế dát thêm lớp vàng mỏng tăng
ánh sáng cho tượng. Sau khi hoàn thành, tượng được đưa
vào thờ ở chùa Bành Thành. Trong những năm niên hiệu Thái
Thủy (465-471 TL), Vua Minh Đế di dời đến chùa Tuơng Cung.
Nhà
Tề, niên hiệu Vĩnh Minh năm thứ 4 (486 TL), Trần phu nhân và
Tỳ-kheo ni Bảo Nguyện ở chùa Lạc Lâm cùng thêu dệt Tôn
tượng Vô Lượng Thọ. Ngài Giác Duyệt ở chùa Chánh Giác,
Kiến Khang và ngài Trí Tĩnh ở chùa Bạch Mã khuyến khích
tín đồ quyên góp được một số tài vật đúc một tượng
Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng tám, đầu đời Lương
được Vua sắc chỉ khen ngợi. Niên hiệu Thiên Giám, năm thứ
8 (509 TL), ở chùa Tiểu Trang Nghiêm, mọi người mong cầu đúc
tượng, nhưng thiếu đồng bèn dâng biểu tấu xin đồng công
đức. Nhờ vậy, họ đúc được một tượng cao một trượng
chín thờ ở chùa Quang Trạch. Ngoài ra, việc tạo lập tượng
Phật ở các nơi rất nhiều.
Ở
phương bắc, Phật giáo vốn không chủ trương như vậy, lại
nạn binh đao liên tục khởi lên bao trùm khắp nơi. Đặc biệt
vào đời Bắc Ngụy, Thái Bình Võ Đế niên hiệu Thái Bình
Chơn Quân, năm thứ 7 (446 TL), nổi lên một dòng xoáy bạo
lực tàn phá Phật giáo: Đập tượng, đốt kinh, giết Tăng
lữ, hủy hoại chùa tháp. Một thời, Phật giáo hình như bị
quét sạch. Từ đó, dấu vết Tịnh độ cũng tuyệt lối.
Đến khi Văn Thành Đế lên ngôi, Phật giáo mới được xây
dựng lại. Niên hiệu Hưng Quang, năm đầu (454 TL), theo lời
tấu xin của ngài Đàm Diệu. Phương bắc nước Ngụy có năm
nơi để tạo ra hang động điện: Đô Hằng, An Tây, Bắc Vũ,
Châu Tắc, Sơn Cốc (năm địa danh này đều thuộc tỉnh Sơn
Tây). Tiếp đến các vùng phụ cận, người ta xây hơn mười
ngôi nhà bằng đá. Các nơi đều thờ tượng Phật. Vì thế,
ở đây có tên gọi là “Đại Đồng Thạch Quật” (toàn
hang động đá). Niên hiệu Thái Hoà, năm thứ 18 (494 TL), Hiếu
Văn Đế dời đô về Lạc Dương, sai người khai tạc tại
núi Long Môn, tạo ra nhiều bàn thờ Phật kề nhau được khắc
chạm cẩn thận. Trong số này, tượng Di-lặc nhiều hơn cả,
tiếp đến tượng Thích ca, Quán Thế Âm. Tượng Phật Di-đà
không được nhiều lắm. Vả lại, thời đại này ít hà khắc
hơn trước. Song, kiểm tra những bài minh trên các tượng đá,
thì chúng ta đủ biết: Những quan niệm còn rất ấu trĩ đối
với Tịnh độ đời này, họ đem tín ngưỡng Di-đà Tịnh
độ và tín ngưỡng Đương Lai Hạ Sanh Di-lặc hòa nhau tu tập.
Có bài minh trên tượng đá Di-lặc có ghi nguyện sanh về cõi
Tây phương Phật Vô Lượng Thọ, hoặc có bài minh ở tượng
Phật Thích Ca ghi thác sanh về Tây phương cõi nước vi diệu,
an lạc và những lời cùng sanh về cõi Phật Di-lặc. Có bài
ở tượng Phật Di-đà ghi: “Nếu chết được sanh Thiên”.
Người ta ghi lại bài minh trên tượng Phật Vô Lượng Thọ
rằng: “Vì cha mẹ qua đời mà tạo tượng Phật Vô Lượng
Thọ, nguyện sanh về cõi trời”. Lại có bài minh trong bốn
tượng Phật và bốn tượng Bồ-tát bằng đá, có câu tương
tự là: “Nguyện nhờ công đức ấy, khiến khi chết lên
cõi trời, thác sanh về cõi Tây phương Vô Lượng Thọ”.
Người ta cũng tìm được một bài minh khắc bằng đá trên
tượng Di-đà có ghi: “Xả thân ô uế này, gặp Phật Di-lặc
rồi sanh về Tây phương”. Đời sau, Tịnh độ Di-đà được
gọi là cõi “Thiên thọ”.
Chung
quy lại, nên biết ở phương bắc sớm đã truyền bá tín
ngưỡng Tịnh độ Di-đà.
Đời
Bắc Ngụy, Tuyên Võ Đế, niên hiệu Vĩnh Bình năm đầu (508
TL), ngài Bồ-đề-lưu-chi, người Bắc Ấn Độ đến Lạc
Dương. Ngoài việc dịch “Thập địa kinh luận”, “Nhập
lăng-già kinh” … còn truyền dịch kinh “Vô Lượng Thọ
Ưu-bà-đế-xá nguyện sanh kệ”, hay gọi “Vô lượng thọ
kinh luận”, “Vãng sanh luận”, “Tịnh độ luận”, đều
nói về năm pháp môn niệm Phật vãng sanh.
Ngài
Huệ Quang là tổ của phái Nam đạo địa luận. Lúc đầu,
ngài ở Lạc Dương nhậm chức “Quốc Tăng Đô”, sau triều
đình triệu về Nghiệp Đô giữ chức “Quốc Thống”. Đời
Đường, Ngài muốn sanh về Tịnh độ mà không định được
Tịnh độ phương nào. Đến khi lâm chung, liền nguyện sanh
về An dưỡng. Đệ tử của Ngài là Pháp Thượng, hằng ngày
sùng tín Di-lặc nên nguyệân sanh về cõi trời Đâu-suất.
Ngài Đạo Xước cho đó là một trong sáu đức lớn thể hiện
nỗi lòng quy hướng về Tịnh độ. E rằng ý nghĩa về Tịnh
độ, nghĩa rộng có thể bao quát cả cõi Đâu-suất. Ngài
Đạo Bằng học trò Đạo Quang thường cầu sanh về Tây phương,
khi lâm chung thấy Phật phóng hào quang tiếp dẫn. Đệ tử
của Ngài là Linh Dụ soạn Vô lượng thọ kinh sớ, Quán vô
lượng thọ kinh sớ và luận Vãng sanh. Điều cốt yếu ở
đây: Hai trường phái Địa Luận ở phương Nam và phương
Bắc đều chú trọng về vãng sanh Tịnh độ.
III.
SỰ THÀNH LẬP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU KINH ĐIỂN TỊNH ĐỘ TÔNG
1.
Tịnh độ giáo vào thời nhà Chu và Tùy.
Từ
đời Bắc Chu trở về sau, mãi đến triều đại nhà Tùy,
giáo chỉ Tịnh độ Di-đà được sự chú ý của mọi người.
Các danh Tăng: Tịnh Ái, Đàm Diên, Trí khải v.v… đều cầu
vãng sanh Tây phương. Lại như Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Huệ Ảnh,
Linh Dụ, Cát Tạng, Đạo Xước v.v… cũng cầu sanh Tây phương
hoặc làm sớ giải thích Quán kinh (kinh Quán vô lượng thọ)
… hoặc nương vào chỗ thấy của mình mà trước tác, trình
bày về giáo nghĩa Tịnh độ. Ngài Ngạn Tông v.v… viết văn
tán dương Tịnh độ. Vả lại, người Tăng kẻ tục kiến
tạo tượng Phật A-di-đà cũng không phải ít. Nhân đây, tín
ngưỡng Di-đà chính là con đường phía trước tiến tới
sự hưng thịnh.
Huệ
Ảnh, người huyện Ba Tây tỉnh Tứ Xuyên, đến Bắc Chu theo
ngài Đạo An học luận Đại trí độ và ở chùa Thiên Thiện,
Đồng Châu, ngài soạn “Trí độ luận sớ” 24 quyển. Hiện
nay chỉ còn sót một vài quyển. Cuối niên hiệu Khai Hoàng,
nhà Tùy, ngài viên tịch. Huệ Ảnh thuộc hệ phái Tứ luận
ở phương Bắc. Trong Trí độ luận sớ, quyển 24, luận tóm
lược về Tịnh độ. Ngài nói: “Nghĩa của Tịnh độ là
vô lượng, nay lại luận về Chơn độ, Ứng độ, Nhị độä,
ba loại Tịnh độ mà thâu nhiếp tất cả cõi nước”. Báo
thân Phật trong Thật trí pháp thân ở cõi thật tướng Tịnh
độ, có vô lượng màu sắc hình tượng, vô lượng ánh sáng,
vô lượng âm thanh, đồ chúng đều là Bồ-tát Vô sanh nhẫn.
Trong kinh Hoa nghiêm nói khi Thập địa Bồ-tát thành Phật:
Chu vi cây Bồ-đề, nơi vị ngồi rộng đến mười vạn ức
vi trần số cõi Phật. Tức là cõi Tịnh độ thật báo công
đức. Như đi đến thành Già-da cách đạo thọ không xa và
các Tịnh quốc Tây phương đều là Ứng độ. Trong kinh Vô
Lượng Thọ cũng có nói: “Nếu chúng sanh khi đạt được
chánh định tụ thì có thể sanh quốc độ đó, nên gọi là
Tịnh độ”.
Linh
Dụ người Khúc Dương, Định Châu, đệ tử ngài Đạo Bằng,
lấy Địa luận làm tông. Nhà Tùy, niên hiệu Khai Hoàng năm
thứ 11 (591 TL), ngài được mời vào Trường An trú chùa Diễn
Không. Vào tháng giêng năm đầu niên hiệu Đại nghiệp (605
TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Trước thuật của
ngài rất nhiều, truyền lại gồm có: Vô lượng thọ kinh,
Quán kinh, Vãng sanh luận v.v… Tương truyền rằng đến ngày
ngài lâm chung, ngài niệm Phật từ canh ba đến khi thấy minh
tướng (mặt trời mọc).
Đạo
Ngang là đệ tử ngài Linh Dụ, cũng thường nguyện sanh về
An dưỡng, khi lâm chung cảm ứng Phật đến tiếp dẫn.
Tịnh
Ái, người Huỳnh Dương, Hà Nam, chuyên lấy Tứ luận làm
tông. Tìm hiểu mới hay ở Bắc Chu, vua Võ Đế có ý đồ
phá Phật, bèn cùng môn nhơn hơn 30 người vào núi Chung Nam,
từ Đông sang Tây dựng lên được hai mươi bảy ngôi chùa,
làm nơi để Tăng lữ vào đó lánh nạn. Niên hiệu Kiến Đức,
năm thứ 3 (574 TL), gặp lúc pháp nạn, Ngài ẩn vào núi Thái
Nhất, than thở lo sợ đại pháp phế diệt, soạn sách “Tam
bảo tập” 20 quyển. Tháng 7 năm đầu niên hiệu Tuyên Chính,
đời Bắc Chu (578 TL), ngài ghi lại kệ trên vách đá, bèn
tự vẫn ở tuổi 45. Trong bài kệ để lại có đoạn viết:
“…
Xả bỏ uế hình
Nguyện
sanh Tịnh độ,
Nhất
niệm hoa khai
Di-đà
Phật sở.
Tốc
kiến thập phương,
Chư
Phật Hiền Thánh,
Trường
từ tam đồ
Chánh
đạo quyết định.
Báo
đắc ngũ thông,
Tự
tại phi hành,
Bảo
thọ xan pháp
Chứng
đại vô sanh …”.
Tạm dịch :
“…
Bỏ thân dơ nhớp
Nguyện
sanh Tịnh độ,
Một
niệm hoa nở
Ở
trước Di-đà.
Sớm
thấy mười phương
Phật
cùng Hiền Thánh,
Dứt
ba đường ác
Vững
tin chánh đạo.
Đắc
năm thần thông
Bay
đi tự tại,
Ngồi
dưới cây báu
Hưởng
vị của pháp,
Chứng
Vô sanh nhẫn …”.
Căn
cứ vào bài kệ, có thể biết ngài có một tấm lòng nhiệt
huyết nguyện sanh về Tịnh độ.
Ngài
Đàm Diên (người Tang Tuyền, Bồ Châu) lấy kinh Niết-bàn
làm tông; vào đời Bắc Chu, ngài nhậm chức “Quốc Thống”,
gặp lúc vua Võ Đế phá Phật, ngài ẩn vào núi Thái Hành
đến đời Tùy, vua Văn Đế mời ngài về chùa Diên Hưng,
Trường An. Vào tháng 8 năm thứ 8, niên hiệu Khai Hoàng (588
T.L), ngài viên tịch, hưởng thọ 73 tuổi. Lúc bình sanh, ngài
nguyện sanh về Tây phương, bề ngoài ít nói, ôm lòng nghĩ
nhớ đến An dưỡng. Đương thời ngài rất nổi tiếng, môn
hạ cũng rất nhiều, đức cảm hóa của ngài không phải ít.
Ngài
Ngạn Tông người Bách Nhơn, Triệu Quận, Hà Bắc, sanh vào
đời nhà Tề, niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 8 (557 TL). Sau
khi nhà Tề bị diệt vong, ngài giữ chức “Thông Đạo Quán
Học Sĩ”. Sau ngài tìm đến Đàm Diên cầu xin xuất gia v.v…
. Ngài chuyên về việc thuyết giảng, tham cứu và dịch kinh.
Tháng 7 năm thứ 6 niên hiệu Đại Nghiệp, đời Tùy (610 TL),
ngài viên tịch lúc 54 tuổi, tại Dịch kinh quán ở Lạc Dương.
Ngài trước tác rất nhiều, gồm có một thiên “Nguyện vãng
sanh Tịnh độ lễ tán kệ”. Sau này, ngài Thiện Đạo ghi
tóm lược lại phần chính ở trong “Lễ tán vãng sanh”,
kết hợp với nghi hành lễ vào mỗi buổi sáng và tối.
Liên
quan đến việc tạo tượng Phật A-di-đà, vào niên hiệu Khai
Hoàng năm thứ 7, ở núi Thiên Phật, Lịch Thành, tỉnh Sơn
Đông, người ta có tạo tượng A-di-đà Tam Tôn và tượng
Phật A-di-đà. Từ năm thứ 8 đến năm thứ 13 niên hiệu Khai
Hoàng, ở núi Ngọc Hàm, tỉnh Sơn Đông có một tượng A-di-đà
Tam Tôn được tạo dựng. Vào niên hiệu Khai Hoàng năm thứ
15, tại Long Môn, Lạc Dương, Hà Nam có xây một khám thờ
Phật A-di-đà. Năm thứ 4 và năm thứ 12 niên hiệu Khai Hoàng,
đến năm thứ 7 niên hiệu Đại Nghiệp, có tạo dựng các
tượng Phật A-di-đà ở Đường Sơn, Nam Hưởng thuộc Từ
Châu tỉnh Hà Bắc. Lại vào niên hiệu Khai Hoàng năm thứ
9, ở chùa Bảo Sơn phía tây huyện An Dương, tỉnh Hà Nam có
vạn Phật được thiết kế chi tiết, có dựng bàn thờ A-di-đà
Thế Tôn; các Phật Tỳ-lô-giá-na và Di-lặc ở cùng một chỗ.
Lại nữa, vua Dương Đế (nhà Tùy) xây dựng chùa Hoàng Thiện
ở Tinh Châu, tạo ra một tượng Phật A-di-đà với thế ngồi
cao 130 thước12. Các địa phương khác tạo dựng rất nhiều,
mới biết đời Tùy tín ngưỡng Tịnh độ phổ cập đến
trong hàng Tăng tục như nhau.
2.
Thuyết tha lực bổn nguyện của Đàm Loan.
Đàm
Loan là một trong sáu vị đại đức được nói trong “An
lạc tập”, ngài chú giải luận Vãng sanh của Ngài Bồ-đề-lưu-chi
dịch, còn đề xướng thuyết “Tha lực bổn nguyện”, phát
huy thật nghĩa xưa nay của Tịnh độ giáo để lưu truyền
cho thế hệ mai sau về sự vĩ đại của nó.
Đàm
Loan, người Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây. Hơn mười tuổi lên
Ngũ Đài Sơn, ngài thấy rõ vết tích vùng Thánh địa này
tâm hồn vui vẻ, nảy sinh ý định thoát tục, liền xuất
gia. Ngài rộng học nội ngoại điển, đặc biệt nghiên cứu
Tứ luận và Phật tánh không chỗ nào mà không thông suốt.
Vua Ngụy tôn sùng Ngài mà sắc phong hiệu “Thần Loan”, thỉnh
trú trì chùa Đại Nghiêm ở Tinh Châu. Sau đó, Ngài chuyển
đến chùa Huyền Trung ở núi Thạch Bích, Bắc Sơn, Phần Châu,
thu nhận đồ chúng niệm Phật. Thời Đông Ngụy, niên hiệu
Hưng Hòa năm thứ 4 (542 TL), ngài viên tịch ở chùa Bình Dao
Sơn, hưởng thọ 64 tuổi. Những tác phẩm của Ngài trước
thuật gồm có: Vãng sanh luận chú (2 quyển), Tán A-di-đà Phật
kệ (1 quyển), Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa (1 quyển).
Trong đó, Vãng sanh luận chú là giải thích rõ Vô lượng thọ
kinh luận của ngài Thế Thân. Quyển thượng giải thích rõ
24 hàng kệ, quyển hạ giải thích văn trường hàng, tùy theo
thời gian phụ thuộc vào trú xứ phát triển ra mỗi chủ trương
khác nhau. Trong kệ tán Phật A-di-đà có 7 bài kệ bao gồm
195 hàng là nương vào kinh Vô lượng thọ tán vịnh Phật A-di-đà
và công đức cõi nước Tịnh độ, có tên gọi là “Vô lượng
thọ kinh phụng tán”, còn gọi là “Đại kinh phụng tán”.
“Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa” là đối với cõi
Tịnh độ an lạc của Phật A-di-đà, giải thích đề xuất
những vấn đề như: Tam giới nhiếp bất, trang nghiêm đa thiểu,
vãng sanh cơ phẩm, biên địa thai sanh, vô trí nghi hoặc, thập
niệm tương tục v.v…
Giáo
nghĩa của ngài Đàm Loan có thể xem ở trong “Vãng sanh luận
chú” của ngài, mới thấy được vấn đề đó. Ngài cho
rằng Bồ-tát cầu bất thối chuyển có hai con đường khó
và dễ. Tại đời “Ngũ trược” khi không có Phật, không
được sự gia hộ của Phật lực, hết thảy dựa vào tự
lực để tu hành rất khó được bất thối chuyển, như đi
bộ trên đường, đây gọi là khó hành đạo. Nương theo bổn
nguyện lực của Phật, vãng sanh về Tịnh độ, lại được
Phật lực gia trì thì nhập vào Đại thừa chánh định tụ
mà vãng sanh, đến quả vị bất thối chuyển; giống như chiếc
thuyền đi trên đường thủy. Đây gọi là “Dị hành đạo”
(Đạo dễ hành). Hai con đường khó và dễ của ngài Long Thọ
là ở chỗ này mà có thể đạt được. Bởi vì, vấn đề
bất thối đó không nhất thiết phải vãng sanh Tịnh độ,
điểm tất yếu: Quan trọng là việc xưng danh hiệu mười
phương chư Phật. Chính ở chỗ này cùng với tướng Tịnh
độ đối lập nhau mà ngài Đàm Loan luận về sự khác nhau
giữa hai con đường khó và dễ. Cho nên, địa vị “bất
thối chuyển” ở “Dị hành đạo” là được lợi ích
sau khi vãng sanh Tịnh độ; với lại cho rằng chỉ nương về
một vị Phật A-di-đà là pháp dễ hành, để nhấn mạnh bổn
nguyện lực của Phật kia. Hành giả được quả vị bất
thối, vãng sanh Tịnh độ hay sau khi vãng sanh đều nhờ vào
sự gia trì của bổn lực ấy. Có thể biết được thuyết
hai con đường khó và dễ, đến ngài Đàm Loan đầu tiên thì
mang sắc thái của Tịnh độ giáo. Ngài tôn thờ và tin tưởng
vào Bồ-tát Long Thọ; ngay bài kệ “Tán Phật Di-đà” mà
ngài cũng tôn thờ tuyệt đối những từ trong bài tán. Qua
đó chúng ta biết được nhờ Bồ-tát Long Thọ mà ngài Đàm
Loan có tín ngưỡng kiên cố Tịnh độ. Tham cứu ý vi diệu
của Long Thọ, rút ra pháp tu chuyên niệm một vị Phật, như
Phật Di-đà được đặc biệt bàn luận là dễ thành. Vả
lại, nói bất thối tức là được sự lợi ích sau khi vãng
sanh. Nhờ vậy, người nương vào pháp này thì được quả
vị bất thối mà chẳng vãng sanh Tịnh độ là điều không
thể có, tức vãng sanh về Tịnh độ là điều kiện tất
yếu để đạt được quả vị bất thối.
Sự
cường điệu của ngài Đàm Loan về bổn nguyện lực của
Phật, tuy căn cứ vào thuyết của kinh Vô lượng thọ, nhưng
cũng được sự ám thị của ngài Long Thọ. Ở phương bắc
nương vào kinh này, đề xướng ra con đường luận về nguyện
lực, lấy “Tha lực” làm đầu. Chủ trương đó mang đến
cho đời sau một sự ảnh hưởng rất lớn. Ở trong phần
Vãng sanh luận chú, quyển hạ nói lên sự lớn mạnh của
bổn nguyện lực Phật A-di-đà, tu hành năm pháp môn niệm
Phật, tự lợi, lợi tha mau chứng được Chánh đẳng chánh
giác. Nghiên cứu nguồn gốc đó, lấy Di-đà Như Lai làm tăng
thượng duyên. Đặc biệt chỉ trích ba nguyện: 11, 18 và 22,
luận về lý do chứng đắc vãng sanh Tịnh độ hoặc được
bất thối hoặc mau chóng thành Phật Đà. Ngài lấy ba nguyện
này làm trung tâm, chủ xướng thuyết Tha lực bổn nguyện
mà phát huy giá trị Di-đà Tịnh độ giáo. Đời sau, luận
“Bổn nguyện” của ngài Thiện Đạo v.v… đều nói theo
thuyết này.
Đàm
Loan nhận thức được sự lớn mạnh bổn nguyện lực Phật,
nên lấy việc đắc vãng sanh cùng với địa vị bất thối
và việc sớm đạt quả vị Phật làm cương yếu cho giáo
nghĩa của ngài. Quả vị bất thối cùng với việc sớm thành
Phật tuy nương vào sự gia trì của Phật lực nhưng có thể
tự chứng đắc, nếu việc vãng sanh mà không tự tu hành thì
không thể vãng sanh được. Ở đây, ngài lấy năm niệm môn
làm pháp vãng sanh Tịnh độ. Năm niệm môn ở trong luận Vãng
sanh, ngài Thế Thân đã có giải thích, ngài lại đem chỗ
tinh tế, phát biểu rất nhiều ý kiến.
1.
Lễ bái môn: Là thường khởi lên ý niệm vãng sanh mà lễ
bái Phật A-di-đà.
2.
Tán thán môn: Là xưng tán tất cả danh hiệu Vô Ngại Quang
Như Lai trong mười phương, lòng tin quyết không gián đoạn
sẽ tương ứng nghĩa của danh hiệu Như Lai thì bóng đen ám
ảnh của vô minh có thể phá trừ. Thuyết tín tâm quyết định
tương tục này do ngài Thiện Đạo kế thừa thuật lại làm
chánh nhân rất quan trọng cho sự vãng sanh Tịnh độ.
3.
Tác nguyện môn: Là nhất tâm chuyên niệm phát nguyện vãng
sanh, mà kỳ vọng ngay trong việc tu “chỉ”. Chỉ nghĩa là
dừng các điều ác, có ba nghĩa:
a.
Danh hiệu Như Lai và danh hiệu quốc độ kia, có khả năng
dừng hết thảy điều ác.
b.
Sanh vào quốc độ đó thì các nghiệp ác của thân, miệng,
ý tự nhiên không còn.
b.
Nhờ lực gia trì Chánh giác của đức Di-đà Như Lai, tự nhiên
chúng sanh ở quốc độ kia sanh tâm cầu Nhị thừa.
Ba
loại “Chỉ” này phát sinh nhờ đức chơn thật của Như
Lai. Cho nên, nói như thật tu hành Xa-ma-tha (Chỉ).
4.
Quán sát môn: Là chánh niệm quán sát sự trang nghiêm trong
29 câu về ba loại Tịnh độ, mà kỳ vọng như thật tu quán.
Quán có ba nghĩa:
a.
Ở trong cõi này tác tưởng quán ba loại công đức trang nghiêm
ấy. Công đức này là như thật. Cho nên, người tu hành cũng
được công đức như thật, quyết định sẽ sanh vào cõi
kia.
b.
Sanh vào cõi kia tức là thấy được Phật Di-đà mà chưa chứng
tịnh tâm của Bồ-tát. Bồ-tát tịnh tâm đều được đồng
chứng pháp thân bình đẳng. Cho nên, nói như thật tu hành
Tỳ-bà-xá-da (Quán).
5.
Hồi hướng môn: Là phát nguyện không lấy công đức thiện
căn tích tập để cầu an lạc cho tự thân, mà muốn diệt
hết thảy khổ đau cho chúng sanh, thâu nhiếp họ cùng sanh
vào nước Phật an lạc. Hồi hướng này có hai chủng
loại :
a. Vãng tướng: Phát nguyện lấy công đức mình hồi
hướng cho tất cả chúng sanh cùng sanh vào cõi Phật.
b. Hoàn tướng: Sau khi vào nước Phật kia, nếu được
thành tựu chỉ quán phương tiện lực thì trở lại thế giới
Ta bà giáo hóa tất cả chúng sanh cùng hướng về Phật đạo.
Nhưng tâm hồi hướng này là chỉ cho tâm Vô thượng Bồ-đề.
Tâm Vô thượng Bồ-đề tức là nguyện tạo tác tâm Phật.
Nguyện tạo tác tâm Phật tức là tâm độ chúng sanh. Tâm
độ chúng sanh tức là nhiếp thủ chúng sanh, khiến họ sanh
vào cõi Phật. Cho nên, người nguyện vãng sanh An dưỡng Tịnh
độ cần phát tâm Bồ-đề này; nếu không phát tâm này mà
chỉ vì hưởng thụ niềm vui cầu sanh về cõi kia là việc
không thể có. Tâm Bồ-đề này không phát khởi thì đừng
nói về việc vãng sanh Tịnh độ. Đây gọi là luận về chánh
nhân của tâm Bồ-đề. Ngài lấy năm niệm môn làm nhơn vãng
sanh. Và lấy quán nguyện môn làm sự thực hành chủ yếu.
Ngài
lại lấy mười niệm tương tục làm nhơn để sanh về Tịnh
độ, giải thích là ý nghĩa thành tựu sự nghiệp vãng sanh.
Lấy niệm là nghĩa nhớ niệm Phật A-di-đà, mà ở trong “Lược
luận an lạc Tịnh độ nghĩa” đưa ra thí dụ “Độ hà
trước thoát” (qua sông bỏ đò) để giải thích nghĩa của
mười niệm tương tục. Hành giả chỉ nhất tâm bất loạn,
không duyên vào việc khác, gom góp niệm tương tục làm nghi
thức. Như vậy, mới biết Đàm Loan chú trọng chuyên niệm
tương tục là phương châm cốt yếu cho sự nghiệp vãng sanh
được thành tựu.
Vào
thời ngài Đàm Loan, mọi người đều không còn nói đến
phân loại Tịnh độ. Ngài lấy Di-đà Tịnh độ làm hướng
đến để ra khỏi ba cõi. Phật vì thương xót chúng sanh bị
trói buộc trong tam giới, hư ngụy luân hồi tiếp nối không
cùng, điên đảo bất định nên muốn dẫn dắt họ đến
chỗ an lạc thanh tịnh, mà phát khởi công đức trang nghiêm
thanh tịnh này.
3.
Luận Tịnh độ của ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn.
Tịnh
Ảnh Huệ Viễn, sanh ở Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, nhằm vào
đời Bắc Ngụy, niên hiệu Chánh Quang năm thứ 4 (523 TL). Năm
lên 20 tuổi, quy y cửa Phật. Năm đầu niên hiệu Thừa
Quang, Bắc Tề, (577 TL), vua Võ Đế phá Phật, ngài tranh đấu
chống đối, sau đó đến ẩn trú ở Tây Sơn huyện Cấp (Cấp
Quận) tỉnh Hà Nam. Khi nhà Tùy thống nhất thiên hạ, mời
ngài về Trường An, mới xây chùa Tịnh Ảnh thỉnh Ngài tới
ở. Ngài lại lấy sự thuyết giảng làm Phật sự. Vào tháng
6 năm thứ 12, niên hiệu Khai Hoàng (592 TL), ngài viên tịch,
hưởng thọ 70 tuổi. Sách Ngài soạn truyền lại hiện nay
gồm có: “Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ” 1 quyển, “Quán
vô lượng thọ kinh nghĩa ký” 1 quyển, “Đại Niết-bàn
kinh nghĩa ký” 20 quyển, “Duy-ma kinh nghĩa ký” 8 quyển,
“Thập địa kinh luận nghĩa ký” 10 quyển (tàn khuyết)13,
“Đại thừa khởi tín luận sớ” 2 quyển, “Địa trì luận
nghĩa ký” 10 quyển (tàn khuyết) (?), “Đại thừa nghĩa chương”
(20 quyển) v.v…
Hệ
thống truyền thừa pháp trên thuộc giáo hệ Nam đạo địa
luận, lập bốn tông giáo phân chia để cổ súy Như Lai tạng
duyên khởi đương thời rất nổi tiếng. Ngài như nhận được
cảm hóa của thầy mình, sùng kính lễ bái Di-lặc. Nhưng về
Tịnh độ thì chỉ có kinh Vô lượng thọ và Quán kinh. Lại
trong “Đại thừa nghĩa chương”, thiết lập nghĩa Tịnh
độ một chương, tinh tế luận thuật sự khác nhau giữa các
loại Tịnh độ. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ và Quán kinh
nghĩa ký là giải thích nghĩa Tịnh độ đầu tiên ở Trung
Quốc; giải thích nghĩa này được tất cả học giả đương
thời xem trọng. Các ngài: Cát Tạng, Ca Tài, Thiện Đạo …
đều tập trung vào thuyết của ngài lấy, bỏ và phê bình.
Điều nhầm lẫn là nói “Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ”
không phải ngài Trí Khải tác giả. Hoàn toàn được ghi lại
“Quán kinh sơù” là của ngài. Như vậy, mới biết quyền
oai trước tác của ngài.
Tịnh
Ảnh nghiên cứu tường tận các kinh luận Đại thừa có liên
quan đến Tịnh độ trang nghiêm và thuật nơi cư trú của
Thánh chúng. Ngài phân Tịnh độ làm ba loại, mà bàn luận
rồi chia ra cao thấp, ưu liệt. Đây cũng là luận phân loại
Tịnh độ đầu tiên ở Trung Quốc.
1.
Sự Tịnh độ: Là cõi dùng các báu trang sức do hữu lậu
của phàm phu chiêu cảm. Cảnh vật (sự tướng) cõi này đẹp
đẽ trang nghiêm. Cho nên, gọi là Sự tịnh, ở cõi này có
hai loại:
a.
Phàm phu tâm mong cầu mà tu tịnh nghiệp, do đó mà cảm được
cảnh giới này; tức là các cõi trời Dục giới và Sắc giới
…
b.
Phàm phu sanh tâm cầu xuất gia mà tu tịnh nghiệp, do đó cảm
được cảnh giới này, tức là Cực lạc Tịnh độ và thế
giới Chúng Hương14.
2.
Tướng Tịnh độ: Hàng vô lậu Nhị thừa cùng Bồ-tát tu
duyên quán để đối trị mà cảm được cảnh giới, vì có
tướng vi diệu trang nghiêm thanh tịnh, xa rời cấu nhiễm cho
nên gọi là Tướng tịnh. Cảnh giới này cũng có hai loại:
a.
Cảnh giới do thiện căn tự lợi của hàng nhị thừa mà cảm
được, tức cõi Vô sắc giới.
b.
Cảnh giới do thiện căn hóa độ người của Bồ-tát mà cảm
được, tức là đến được nhà của Duy-ma-cật.
Vả
lại, hai cảnh giới này đều có cõi tương tục trụ giữ
cùng cõi hiện tạm.
3.
Chơn Tịnh độ: Là cảnh giới cư trú của quả sơ địa lên
đến quả vị Phật. Do chư Phật và Bồ-tát đã thật chứng
thiện căn mà cảm được. Cảnh giới này vi diệu, thanh tịnh,
lìa cấu nhiễm, thường trụ bất biến. Vì thế gọi là Chơn
Tịnh. Nhưng ước định để bàn luận thì cảnh giới này
cũng có thể phân thành hai loại :
a.
Cảnh giới ly vọng: Là nơi cư trú của hàng sơ địa lên
đến thập địa Bồ-tát. Do quả vị cao thấp mà cảnh giới
có tốt xấu khác nhau.
b.
Cảnh giới thuần tịnh: Cõi cư trú chỉ một mình Phật, hoàn
toàn xa rời vọng tưởng, thuần khiết chơn chánh không tạp
nhiễm, thanh tịnh như hư không.
Lại
nữa, cảnh giới chơn tịnh của Phật này có thể phân thành
hai loại:
- Chơn
độ: Cõi tự thân của Phật ở, tức cảnh giới pháp môn
bình đẳng.
- Ứng
độ: Cõi tùy vào căn cơ của mỗi loại khác nhau mà hiện
ra, tức là cảnh giới của pháp môn sai biệt.
Lại
nữa, trong Chơn Tịnh độ có thể phân thành ba cảnh giới:
1.
Pháp Tịnh độ: Là cảnh giới xưa nay là hiển hiện của
thực tánh.
2.
Thật báo độ: Là Bồ-tát ở nhân vị rộng tu tịnh nghiệp.
Do sự huân tập đó nên khi phát lực của cảnh giới pháp
tánh hiển hiện. Có vô biên pháp giới thanh tịnh, hiện ra
vô lượng sự tướng trang nghiêm.
3.
Viên ứng độ: Là do hai cõi Thật báo và Pháp tánh luyện
thành, tùy theo căn cơ của chúng sanh có thể ứng hiện mỗi
mỗi quốc độ.
Tóm
lại, luận Tịnh độ của ngài Tịnh Ảnh là do sự bất đồng
của nghiệp duyên mà chiêu cảm cảnh giới có tốt xấu khác
nhau. Lại đem cảnh giới Chơn tịnh của Phật phân thành Chơn,
Ứng hai cõi và Pháp tánh, Thật báo và Viên ứng ba cõi. Đây
là nền móng giáo chỉ tâm Tịnh độ tịnh của kinh Duy-ma,
bao quát các thuyết luận Thập địa kinh và luận Đại thừa,
có thể nói là rất rõ ràng vậy. Phê bình tư tưởng của
ngài La-thập: “Chúng sanh không có Tịnh độ, chỉ Phật mới
có”. Và ngài Đạo Sanh cho rằng: “Phật không có Tịnh độ,
chỉ chúng sanh mới có”. Hai lý đó đều nghiêng về một
bên. Ngài Tịnh Ảnh lại cho rằng Tịnh độ của Phật Di-đà
về phần quốc độ thì thô còn về sự vật thì thanh tịnh,
lấy Phật Di-đà làm Ứng thân, cảnh giới này làm Ứng độ.
Ý nói đức Di-đà thành Phật từ lâu xa, cũng đã đắc được
Chơn độ, lại vì chúng sanh đem nhân của Ứng độ để trang
nghiêm Tây phương Tịnh độ. Thuyết này có thể thông suốt
cả nghĩa Bổn môn và Tích môn.
Lại
nữa, Ngài lại phân nhân sanh Tịnh độ làm hai loại, tu quán
vãng sanh gọi là Định thiện; tu nghiệp, tu tâm và qui hướng
gọi là Tán thiện. Ngài lại dựa vào căn cơ của người
vãng sanh trong chín phẩm phân ra: Căn cơ của người Đại
thừa thuộc ba phẩm thượng; căn cơ của người Tiểu thừa
thuộc ba phẩm trung; căn cơ của người bắt đầu học Đại
thừa thuộc ba phẩm hạ. Mỗi mỗi phân chia phẩm vị của
các bậc này.
4.
Luận Tịnh độ của ngài Thiên Thai Trí Khải.
Ngài
Thiên Thai Trí Khải người Hoa Dung, Kinh Châu, sanh vào năm thứ
4 niên hiệu Đại Đồng, đời nhà Lương (538 TL); ngài xuất
gia năm 18 tuổi. Năm thứ 7 niên hiệu Thái Kiến (574 TL) vào
núi Thiên Thai kiến lập chùa tu thiền và ở đó. Vào tháng
11 năm thứ 17 niên hiệu Khai Hoàng (đời Tuỳ - 597 TL) Ngài
viên tịch, ở tuổi 60. Trí Khải là tổ khai sáng tông Thiên
Thai, được mọi người tôn xưng là “Trí Giả đại sư”
hoặc “Thiên Thai đại sư”. Học phong của ngài lấy Pháp
hoa làm tông và lập giáo tướng của năm thời tám giáo, thịnh
xướng theo tôn chỉ khai quyền hiển thật. Vả lại, nương
vào Trung luận đề xướng thuyết “Nhất tâm quán”. Lại
tin sâu đức Di-đà, tu Bát-chu thường hành tam-muội. Đệ
tử của ngài cầu sanh Tây phương cũng không ít.
Trí Khải cũng phân loại Tịnh độ, đem mười cảnh giới
phàm thánh đồng cư, phân thành 4 loại:
1.
Phàm Thánh đồng cư độ: Còn gọi là “Nhiễm tịnh quốc”,
tức là cõi thuộc Nội giới, là chỗ ở của hàng phàm phu
và Thánh nhân ba thừa. Nơi này có hai loại :
a.
Phàm cư: Cõi phàm phu cư trú, bốn nẻo ác là chỗ ở của
chúng sanh. Thiện nhơn là nơi ở của trời người.
b.
Cảnh giới Thánh nhân cư trú có:
- Quyền
thánh: Địa thượng Bồ-tát và Như Lai vì hóa độ thánh hữu
duyên nên ứng sanh vào trong cõi này.
- Thật
thánh: Ứng sanh vào cõi thuộc Nội giới của hàng Nhị thừa
và Bồ-tát Địa tiền (Sơ địa).
2.
Phương tiện hữu dư độ: Là cảnh giới ngoài, tức cảnh
giới cư trú của hàng Nhị thừa tu chứng và các bậc Bồ-tát
phương tiện.
3.
Thật báo vô chướng ngại độ: Hay gọi là Quả báo độ,
tức là thế giới Liên hoa tạng, chỗ cư trú của Bồ-tát
Pháp Thân.
4.
Thường tịch quang độ: Còn gọi là Pháp tánh độ, tức là
cực trí của bậc Diệu Giác chiếu soi lý Như như15 của pháp
giới, gọi là cõi nước.
Luận
Tịnh độ của ngài đại thể tương đồng với thuyết của
Tịnh Ảnh. Trí Khải lại rút ra trong “Ma-ha chỉ quán” làm
phương pháp chỉ quán tiến tu, thuyết bốn pháp tam-muội.
Trong đó, dựa vào kinh Bát-chu tam-muội, đề xướng niệm
Di-đà, gọi là Thường hành tam-muội. Hành tam-muội yêu cầu
trước tiên là trang nghiêm đạo tràng, đầy đủ sự cúng
dường, tắm gội sạch sẽ, ra vào phải thay trang phục, lấy
chín mươi ngày làm một kỳ, chuyên chú vào việc hành đạo.
5.
Luận Tịnh độ của ngài Gia Tường Cát Tạng.
Ngài Cát Tạng, gốc người nước An Tức. Do tránh kẻ cựu
thù ở thế hệ trước, nên sang Nam Hải. Ngài sanh ở Kim Lăng,
12 tuổi xuất gia. Sau đó, ngài Đông du sang núi Tần Vọng
tỉnh Chiết Giang, ở chùa Gia Tường giảng kinh luận. Đệ
tử của ngài hơn cả ngàn người. Được người đời xưng
là “Gia Tường đại sư”. Năm thứ 2 niên hiệu Đại Nghiệp
(606 TL), ngài được thỉnh về đạo tràng Huệ Nhật, ở Dương
Châu, rồi sang chùa Nhật Nghiêm, Trường An. Đời Đường,
đầu niên hiệu Vũ Đức, ngài được chọn một trong
mười vị đại đức giám sát hai chùa Thật Tế và Định
Thủy. Vào tháng 5 năm thứ 6 niên hiệu Vũ Đức (623 TL), ngài
nhiễm bệnh, bèn viết luận “Tử Bất Bố” (Chết không
sợ), rồi qua đời ở tuổi 75. Những trước thuật của ngài:
“Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ” 1 quyển, “Quán vô lượng
thọ kinh” 1 quyển, “Pháp hoa kinh huyền luận” 10 quyển,
“Pháp hoa kinh nghĩa sớ” 12 quyển, “Tịnh danh huyền luận”
8 quyển, “Thắng Man bảo khốt” 6 quyển, “Đại thừa huyền
luận” 5 quyển, “Tam luận huyền nghĩa” 1 quyển, “Đồng
nghĩa sớ” 16 quyển v.v…
Cát Tạng căn cứ vào những giáo chỉ của Bát-nhã, cổ súy
“Chánh quán vô đắc”, được tôn xưng là Tổ tái hưng
Tam luận (Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận). Ngài
đối với giáo môn Tịnh độ cũng rất quan tâm, nên giải
thích văn nghĩa kinh Vô lượng thọ và Quán kinh. Vả lại,
ở trong phần tựa, ngài ân cần nói rõ những điểm trọng
yếu về vãng sanh Tịnh độ. Căn cứ vào “Tăng truyện”,
ngài tạo ra 25 tôn tượng, sớm chiều dốc hết tâm thành
lễ sám. Đến khi lâm chung, thị giả đốt hương niệm Phật.
Lại trong nghĩa sớ của ngài nhiều lần nêu ra mười niệm
vãng sanh. Ngài hoặc những người tín ngưỡng Di-đà, nếu
không giải nghĩa mười niệm vãng sanh thì cũng chưa hiểu
được.
Cát Tạng tùy theo các phương tiện phân loại Tịnh độ, rộng
nói cõi nước có tịnh và bất tịnh, gồm năm loại:
Tịnh
độ: Là cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh của chúng sanh được
sự giáo hóa của Bồ-tát mà tự chiêu cảm đến.
Bất
Tịnh độ: Là cảnh giới nhơ uế của chúng sanh tạo duyên
ác mà tự chiêu cảm.
Bất
tịnh Tịnh độ: Ban đầu chúng sanh duyên theo bất tịnh nên
chiêu cảm cảnh giới bất tịnh, duyên này chấm dứt trở
lại sanh tịnh, do đó cảnh giới này biến thành tịnh.
Tịnh
bất Tịnh độ: Ban đầu là Tịnh độ, chúng sanh chấm dứt
ác duyên nên chiêu cảm cảnh giới Tịnh độ này. Sau đó,
chúng sanh trở lại sanh ác. Nhơn đây, cảnh giới này biến
thành bất tịnh.
Tạp
độ: Do chúng sanh tạo ra nghiệp thiện và ác lẫn lộn mà
cảm ra cảnh giới tịnh uế xen nhau.
Bởi
năm loại cảnh giới trên đều do chúng sanh tạo nghiệp chiêu
cảm. Cho nên, gọi là Báo độ của chúng sanh. Nhưng cõi nước
nào có vua, Phật thường nhập vào trong cõi Báo độ này giáo
hóa, cũng gọi là Ứng độ của Phật. Cho nên, chúng sanh chiêu
cảm năm chủng loại Báo độ, Phật cũng ứng hiện năm
loại Ứng độ, hợp thành mười cảnh giới khác nhau.
Ngài
lại đem Tịnh độ trong năm cảnh giới Tịnh độ này phân
làm bốn ngôi:
Cảnh
giới phàm thánh cùng ở.
Cảnh
giới lớn nhỏ đồng ở.
Cảnh
giới chỉ Bồ-tát ở.
Cảnh
giới chỉ Phật ở.
Lại
nữa, ngài cho rằng Tam thân của Phật đều có quốc độ.
1.
Pháp thân độ: Tức Thật tướng độ.
2.
Báo thân độ: Tức là Ứng thân; có hai loại: Nội ứng thân
và Ngoại ứng thân:
a.
Nội ứng thân: Thân tương ứng với Pháp thân, cảnh giới
cư trú đồng với Pháp thân.
b.
Ngoại ứng thân: Vì giáo hóa Đại Bồ-tát nên hiện Báo thân
thành Phật ở cõi Tịnh. Thân này được trang nghiêm bằng
bảy ngọc trân bảo; lấy Tịnh độ làm nơi cư trú. Cõi này
về sau bị tận diệt, nên không cùng Pháp thân độ chơn thật
đồng hiện.
3.
Hóa thân độ: Như cảnh giới các Hóa thân của đức Phật
Thích Ca cư trú, cõi này có sự khác nhau giữa bảy trân báu
cùng với đất cát, tức thông cả Tịnh, Uế và sẽ hoại
diệt.
IV.
TỊNH ĐỘ GIÁO VÀO THỜI KỲ ĐẦU CỦA NHÀ ĐƯỜNG
I.
Giáo thế của Tịnh độ giáo.
Vào
đời Đường, Tịnh độ giáo phổ biến hưng thịnh, các ngài:
Đạo Xước, Thiện Đạo, Huệ Nhật, Thừa Viễn … nối nhau
tuyên dương giáo pháp. Các ngài cũng thi nhau trước tác, chú
thuật xiển minh giáo chỉ Tịnh độ. Lại còn tạo lập tượng
Phật Di-đà. Biến tướng Cực lạc được chế tác thành
nhiều phong cảnh, khiến tín ngưỡng Tịnh độ rộng truyền
các nơi trong mọi tầng lớp Tăng, tục. Đặc sắc nhất, vào
thời kỳ đầu nhà Đường ảnh hưởng một thời giáo học
phát triển rầm rộ. Tịnh độ giáo cũng thịnh hành làm cho
mọi người đi sâu vào nghiên cứu.
Vào
thời kỳ đầu của nhà Đường, tín ngưỡng Tịnh độ chọn
Tinh Châu tỉnh Sơn Tây, và Trường An làm trung tâm, truyền
bá các vùng phía nam và phía bắc. Giáo thế của pháp môn
này thịnh hành. Ở huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây, từ ngài
Đàm Loan trở về sau, tín ngưỡng Di-đà phát triển hưng thịnh;
đệ tử của ngài Đàm Loan, kẻ Tăng người tục hơn 300 người.
Kế đó, ngài Đạo Xước vào ở chùa Huyền Trung, núi Thạch
Bích, Phần Châu (nơi ngài Đàm Loan đã từng ở) trấn hưng
đạo pháp. Ba huyện: Tấn Dương, Thái Nguyên và Vấn Thủy,
hàng tại gia và xuất gia đều tắm gội trong dòng nước giáo
hóa của ngài, trẻ con từ bảy tuổi trở lên đều biết
niệm Phật A-di-đà. Căn cứ vào các luận để lại có thể
mở ra cho thấy sự hoằng pháp lúc bấy giờ rất thịnh, có
một ông lão hơn 90 tuổi nghe ngài Đạo Xước giảng Quán
kinh, mới hồi tâm đêm ngày lễ niệm Di-đà cảm đến Thánh
chúng, được các ngài tiếp dẫn lúc lâm chung. Lại có nhiều
Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di niệm Phật A-di-đà mà được vãng
sanh. Ngoài ra, tại Tinh Châu có rất nhiều sự tích ghi lại
số người nguyện sanh về Tây phương.
Ở
kinh đô Trường An, tín ngưỡng Tịnh độ sớm đã được
lưu hành. Ngài Huyền Hội ở chùa Hoằng Phước, vào năm thứ
8 niên hiệu Trinh Quán trở về sau, chuyên tu Tịnh nghiệp,
trong mộng ngài thấy mình nằm ở trong tay của Phật, bèn
xây dựng một tòa tháp để thờ Di-đà.
Ngài
Bảo Tướng ở chùa La-hán, hơn 40 năm, sáu thời chuyên tâm
lễ bái. Về đêm thường đặt ra khóa tu tự tụng bảy biến
kinh A-di-đà, được người đời xưng danh “Sáu vạn biến”;
còn vào ban ngày chuyên tụng kinh Niết-bàn. Tại Kinh Đô, ngài
Thiện Đạo có năng lực cảm hóa rất lớn. Ký sự chép rằng:
Từng có người thọ pháp niệm Phật của ngài, trước chùa
Quang Minh trên cây liễu buông mình bỏ thân mà được vãng
sanh.
Ở
các địa phương khác như Giang Tô, có ngài Pháp Thường ở
chùa Đại Hưng Quốc, khai hóa người hữu duyên dạy về pháp
vãng sanh An dưỡng. Năm Võ Đức thứ 7, tự cảm được ánh
sáng nhiệm mầu mà vãng sanh. Trí Diễm ở núi Vũ Kheo noi theo
di phong Lô Sơn, cùng hơn 500 người đàn-việt ở Châu Nội,
mỗi tháng tập trung về một lần “kiến trai” (trai giới),
giảng Quán kinh có đến một trăm mười lần. Ngài Pháp Hưởng
ở chùa Chánh Giác, hàng ngày thường quán tưởng Tây phương,
miệng luôn xướng “Nam mô Phật”, nhưng ít thuyết pháp.
Khảo
cứu về việc tạo tượng Phật Di-đà, từ đời nhà Tùy
về sau dần dần được thực hiện. Đến đầu nhà Đường
phát triển nhanh chóng. Trong những năm từ niên hiệu Trinh
Quán đến niên hiệu Khai Nguyên, tại động Tân Dương (Long
Môn, Lạc Dương), chùa Kính Thiện, chùa Phụng Tiên và phía
ngoài các động có khắc hơn một trăm bài minh trên một trăm
tượng Phật Di-đà. Ở An Dương, Hà Nam có đến cả vạn
tượng Phật được tạo ra trong các lối đi của các động.
Tại Hà Nam có Bảo Sơn huyện Củng; Hà Bắc có Đường Sơn
ở Nam Hưởng, Từ Châu; Sơn Đông có Thiên Phật Sơn tại
Lịch Thành v.v… cũng còn sót lại tượng đá Phật A-di-đà
vào đầu nhà Đường. Lại mỗi nhà cũng đều xây dựng “Phật
đường” có thờ tượng Phật nhỏ.
Từ
thời Bắc Tề trở về sau, sự biến tướng của Cực lạc
Tịnh độ được thể hiện như ở hình tượng Phật A-di-đà
và 50 vị Bồ-tát, tức ngũ thông Mạn-đà-la16 được các
nơi vẽ ra truyền bá rộng rãi. Đến đời Đường, căn cứ
vào các thuyết nói về Quán kinh, không chỉ họa hình tượng
Di-đà và các Bồ-tát mà còn lưu hành các cảnh trí trang nghiêm
đẹp đẽ của cõi Tịnh độ như: Ao báu, đất báu, cây báu,
lầu báu v.v… . Tương truyền ngài Thiện Đạo có vẽ 300
bức diễn tả cảnh trí Tây phương. Nhân đó, Ngài soạn “Ngũ
chủng tăng thượng duyên nghĩa” cũng khuyên mọi người vẽ
tạo cảnh trí này.
2.
Nhận định về Nhị môn Thánh và Tịnh của ngài Đạo Xước.
Đạo
Xước sinh ở Tấn Dương, Tinh Châu. Vào đời Bắc Chu, năm
Bảo Định thứ hai (562 TL), ngài xuất gia lúc mười bốn tuổi.
Đặc biệt, tinh thông kinh Niết-bàn. Thường ở chùa Huyền
Trung, Vấn Thủy, chỉ một lần thấy văn bia của ngài Đàm
Loan mà sanh sự cảm ngộ. Đời Tùy, năm Đại Nghiệp thứ
5 (609 TL), lúc này 48 tuổi, ngài bèn gác lại sự nghiệp nghiên
cứu kinh Niết-bàn bấy lâu nay mà quay về Tịnh độ. Về
sau, ngài chuyên niệm Phật A-di-đà, qui định mỗi ngày 7 vạn
biến, thường tu hạnh lễ bái và cúng dường. Niên hiệu
Trinh Quán trở về sau, Ngài giảng Quán kinh được 200 lần,
khuyến khích rộng rãi mọi người hữu duyên niệm Phật,
dạy người dùng hạt đậu để làm số đếm. Sau đó, họ
lấy gỗ đẽo gọt ra những hạt đếm, bốc ra để đếm
khi niệm. Đây là sự khởi nguồn của hạt chuỗi. Ngoài ra,
ngài dạy mọi người không nên quay về hướng Tây mà nhổ
khạc, đại tiểu tiện; khi ngồi và nằm nên quay mặt về
hướng Tây. Một vùng Tinh Châu đều được tắm gội trong
dòng nước giáo hóa của ngài, những đứa trẻ từ bảy tuổi
trở lên đều biết niệm Phật A-di-đà. Mỗi khi khai giảng
trường niệm Phật, mọi người niệm Phật âm thanh vừa hùng
tráng vừa linh thiêng vang vọng, làm rung chuyển cả núi rừng
hang động. Vào tháng tư năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán
(645 TL), ngài viên tịch hưởng thọ 84 tuổi. Trong đời sống
thường ngày, ngài có gặp nhiều sự linh nghiệm. Đệ tử
của ngài là Thiện Đạo, Đạo Vũ, Đạo Sanh v.v… . Sách
ngài Đạo Xước trước thuật có “An lạc tập” (2 quyển)
v.v…
Đạo
Xước dựa vào tư tưởng đời mạt pháp mà chủ trương thời
giáo (giáo lý) cần yếu phải ứng hợp với hoàn cảnh, và
ngài phân chia giáo lý của Phật thành hai môn: Thánh đạo
(tự tu chứng Thánh) và Tịnh độ (nhờ sức Phật A-da-đà);
đề xướng chỉ dẫn cho mọi người thời nay nên bỏ Thánh
đạo, chuyên hướng về Tịnh độ. Luận về giáo pháp hợp
thời cơ thì dễ tu, dễ ngộ, nếu không hợp thời cơ thì
khó tu khó ngộ. Cho nên, người muốn tu đạo điều quan trọng
đầu tiên phải quán sát thời cơ. Ở đây, ngài dẫn trong
kinh “Đại tập nguyệt tạng”: Sau khi Phật diệt độ có
năm thời kỳ “năm trăm năm”, mà các pháp tu khác nhau được
thịnh hành.
1.
Thời kỳ năm trăm năm đầu: Học tuệ kiên cố.
2.
Thời kỳ năm trăm năm thứ hai: Học định kiên cố.
3.
Thời kỳ năm trăm năm thứ ba: Đa văn đọc tụng kiên cố.
4.
Thời kỳ năm trăm năm thứ tư: Tạo lập chùa tháp, tu phước
sám hối kiên cố.
5.
Thời kỳ năm trăm năm thứ năm: Những pháp cao siêu ẩn chìm,
chỉ thực hành một ít thiện pháp.
Ngày
nay, chính là thời kỳ năm trăm năm thứ 4, ngài chỉ ra rằng
người muốn hành Phật đạo thông qua tu phước sám hối để
diệt tội, nhưng các pháp thực hành sám hối không bằng niệm
Phật. Kinh Quán vô lượng thọ có dạy: “Nếu xưng danh hiệu
Di-đà trong một niệm, thì diệt được tội sanh tử trong
80 ức kiếp”. Một niệm còn như vậy, huống chi người niệm
nhiều. Như vậy, người chuyên tu niệm Phật tức là thường
sám hối. Vì vậy, chúng ta có thể biết được đây chính
là hành nghiệp thích ứng với căn cơ trong đời mạt pháp
hiện nay.
Từ
quan điểm trên, ngài dựa vào giáo pháp của Phật phân ra
hai môn: Thánh đạo và Tịnh độ.
1.
Thánh đạo môn: Là pháp đoạn trừ hoặc nghiệp để chứng
lý, nhập Thánh đắc quả.
2.
Tịnh độ môn: Là xưng danh hiệu Phật, pháp này nương vào
bổn nguyện của Phật mà được vãng sanh Tịnh độ.
Trong
đó, pháp môn Thánh đạo thì cách Phật đã xa. Vả lại, lý
đó rất sâu xa dẫn đến người độn căn trong đời mạt
pháp này không thể giải ngộ. Thánh đạo môn có phân biệt
hai thừa: Tiểu và