03
LƯỢC
SỬ TỊNH ĐỘ GIÁO TRUNG QUỐC
Nguyên
tác: Lý Thế Kiệt
Việt
dịch: Thích Quảng Ân
I.
LỜI MỞ ĐẦU
Tịnh
độ giáo là đặt niềm tin vào chư Phật và có sự tồn tại
của cõi Tịnh độ, và cầu mong được sự nhiếp hộ của
chư Phật, sau khi chết kỳ vọng được vãng sanh về cõi Tịnh
độ. Đây là một phái của Phật giáo Đại thừa.
Các
kinh điển Đại thừa đều nói có vô lượng chư Phật ở
các cõi Tịnh độ và sự thật đang giáo hóa tất cả chúng
sanh. Nhưng nói một cách cụ thể giữa chư Phật và các cõi
Tịnh độ đó thì rất ít, chỉ có một số kinh nói đến
các vị Phật như Di-đà, A-súc, Dược Sư v.v… Trong đó,
kinh điển nói về Phật A-di-đà là nhiều nhất. Vả lại,
còn nói rõ Phật A-di-đà ngay nơi Nhân vị phát nguyện tu hành
và kiến tạo trang nghiêm cõi Tịnh độ ở Tây phương Cực
lạc. Đây là sự thật có thể chứng minh rằng cõi Tịnh
độ của Phật A-di-đà là cõi Tịnh độ tiêu biểu điển
hình. Do đó, ở Ấn Độ từ trước đến nay tín ngưỡng
về Tịnh độ Di-đà rất thịnh hành. Trong “Thập trụ tỳ-bà-sa
luận” của ngài Long Thọ; “Cứu cánh nhất tánh bảo tánh
luận”1 của ngài Kiên Tuệ; “Vô lượng thọ kinh Ưu-bà-đê-xá”
của ngài Thế Thân … đều có nói rõ về ý “nguyện sanh”.
Kinh Đại bi (quyển 2), kinh Đại pháp cổ (quyển thượng),
kinh Văn Thù Sư Lợi phát nguyện, kinh Đại phương đẳng vô
tưởng v.v…, có nói về Tỳ-kheo Tỳ-bà-ca, Nhất Thiết Thế
Gian Nhạo Kiến Ly-xa Đồng Tử, Văn Thù Sư Lợi, Tăng Trưởng
Nữ Vương v.v… đều nguyện sanh Tịnh độ. Với những sự
kiện này về sau được truyền đến Trung Quốc khiến cho
hàng ngàn, vạn người Tăng, tục quy y Tam bảo, truyền bá
khắp các nước Đông phương và trở thành tín ngưỡng thực
tiễn các dân tộc trong nhiều quốc gia.
II.
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TRUNG QUỐC
Tịnh
độ giáo từ Đông truyền sang, vào năm thứ hai niên hiệu
Quang Hòa, vua Linh Đế thời hậu Hán (179 Tây Lịch), ngài Chi
Sấm (Chi-lâu-ca-sấm) dịch kinh “Bát-chu tam-muội” đầu
tiên. Về sau, có ngài Chi Khiêm đời nhà Ngô, Trúc Pháp Hộ
đời nhà Tây Tấn v.v… dịch kinh Đại A-di-đà, kinh Bình
đẳng giác. Lại có ngài Cưu-ma-la-thập đời Diêu Tần, Bảo
Vân đời Lưu Tống, Cương-lương-da-xá v.v… dịch kinh A-di-đà,
luận Thập trụ Tỳ-bà-sa, kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô
lượng thọ v.v… Kinh điển Tịnh độ tiếp tục truyền,
người xuất gia, tại gia tín ngưỡng ngày càng đông. Người
đầu tiên đề xướng cầu vãng sanh Tây Phương là ngài Khuyết
Công Tắc. Song, về sau người tiếp tục đề xướng việc
nguyện vãng sanh nỗi tiếng nhất là ngài Huệ Viễn, đời
Đông Tấn. Tại núi Lô Sơn ở phương nam, ngài Huệ Viễn
lập “Bạch liên xã” cùng đại chúng tinh tấn tu hành niệm
Phật tam-muội. Tất cả y vào kinh “Bát-chu tam-muội” mà
cầu mong thấy Phật vãng sanh. Từ đây, Tịnh độ giáo trở
thành một giáo phái chính tại Trung Quốc.
Từ
đời Lưu Tống về sau, tín ngưỡng về Tịnh độ được
truyền khắp các nơi. Kinh Vô lượng thọ được giảng giải
và lưu hành đọc tụng. Tượng Phật Di-đà tạo dựng rất
nhiều. Đến thời vua Tuyên Võ Đế (Bắc Ngụy), ngài Bồ-đề-lưu-chi
dịch “Vô lượng thọ kinh Ưu-ba-đề-xá” của ngài Thế
Thân; ngài Đàm Loan lại dựa vào đây chú giải, cùng nương
vào luận “Thập trụ Tỳ-bà-sa” mà nói lên hai cách “khó
tu” (nan hành) và “dễ tu” (dị hành) và chủ trương thuyết
về bổn nguyện cầu tha lực. Đây mới là xiển minh trình
bày rõ ý nghĩa nguồn gốc lập giáo Tịnh độ. Nhân đây,
lấy vùng Tịnh Châu ở phương bắc làm trung tâm và người
cầu nguyện vãng sanh tăng lên rất đông.
Thời
đại nhà Chu, Tùy việc nghiên cứu về kinh văn rất hưng thịnh,
các ngài Huệ Viễn, Linh Dụ, Cát Tạng, Pháp Thường v.v…
mỗi ngài đều có trước tác sớ giải kinh Vô lượng thọ,
Quán kinh v.v… Đồng thời các ngài Trí Giả, Đạo Cơ, Trí
Nghiễm, Ca Tài v.v… cũng trước tác về những kinh đó và
luận về Phật Thân độ, và trình bày những vẻ đẹp ấy.
Lúc này, những người thuộc phái “Địa luận” (Địa luận
tông) và các hệ phái khác đều có khuynh hướng nghiêng về
tín ngưỡng Di-đà. Nhưng các luận sư thuộc học phái Nhiếp
luận, dùng Quán kinh … của phàm phu vãng sanh làm “Biệt
thời ý thuyết”, theo thứ tự vãng sanh là việc không thể
được. Nhân đây, sự truyền bá của Tịnh độ bị tổn
hại không ít. Đến thời đại nhà Đường, ngài Đạo Xước,
Thiện Đạo v.v… và nhiều đại sư xuất hiện đều kế
thừa giáo chỉ của ngài Đàm Loan, chủ trương bổn nguyện
cầu tha lực của chư Phật, tuyên truyền về tư tưởng mạt
pháp, đề xướng cốt yếu của thời giáo tương ưng2. Đặc
biệt là đại sư Thiện Đạo với tính cách mẫu mực xưa
nay, đã soạn “Quán kinh sớ” để luận phá lập nghĩa của
các luận sư, đồng thời củng cố cơ sở độc lập về
giáo nghĩa Tịnh độ. Pháp Nhiên Thượng Nhơn người Nhật
Bản, tôn thờ học thuyết này và cũng đề xướng tông Tịnh
độ ở Nhật Bản. Về sau, đại sư Thiện Đạo trở thành
đối tượng học giả nghiên cứu của Tịnh độ Nhật Bản.
Đương thời, tại Trường An và các nơi khác có các ngài
Trí Thủ, Tỉnh Ngộ, Huệ Tịnh, Viên Trắc, Đạo Huệ, Đạo
Ngân, Hoài Cảm v.v… đều viết sớ giải về các kinh Di-đà,
Quán kinh v.v…
Ở
Tân La (Triều Tiên), có các ngài Từ Tạng, Nguyên Hiểu, Nghĩa
Tượng, Pháp Vị, Huyền Nhất, Cảnh Hưng, Nghĩa Tịch, Thái
Hiền, Tuần Luân v.v… đều trước tác kinh sớ, nghiên cứu
bổn văn kinh điển Tịnh độ. Đến đây, trào lưu tư tưởng
Tịnh độ đạt đến đỉnh cao tột.
Năm
đầu niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường, ngài Tuệ Nhật
(Tam Tạng Từ Mẫn) từ Ấn Độ trở về Trung Quốc, thấy
đồ chúng Thiền tông lúc này cho rằng Tịnh độ là phương
tiện kiến giải hư vọng, đưa con người đến chỗ mê muội.
Ngài phản kích khuynh hướng này một cách mạnh mẽ và chủ
trương đề xướng phương pháp niệm Phật cầu vãng sanh.
Từ đó, ngài tự lập nên một trường phái riêng. Tiếp đến,
các ngài Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Phi Tích v.v… kế thừa theo
học thuyết này mà dùng phương pháp niệm Phật tam-muội làm
Thiền môn thâm diệu vô lượng, bài xích những người tu
Thiền tự tâm cao ngạo. Trong số những người tu Thiền ấy
cũng có người hưởng ứng theo phương pháp này, đó chính
là ngài Tuyên Thập đệ tử của Ngũ Tổ. Ngài Tuyên Thập
lại đề xướng Nam sơn niệm Phật môn thiền tông3. Ở Nam
Dương, Tuệ Trung là học trò của Lục Tổ cũng đề xướng
Hành Giải song tu. Đến ngài Vĩnh Minh Diên Thọ là người
được truyền thừa của tông Pháp Nhãn, đặc biệt là nói
rõ lý “Chơn không diệu hữu” và cổ súy Thiền Tịnh song
tu. Ngài cũng trước tác bộ “Duy tâm luận” rất nổi tiếng.
Vì trong đó có bài kệ “Tứ liệu giản” nói: “Có Thiền,
Tịnh như hổ mọc thêm sừng”, và từ đó văn chương của
ngài được lưu lại nghìn đời sau.
Thời
đại nhà Tống, các ngài Thiên Y Nghĩa Hoài, Tuệ Lâm Tông
Bổn, Cô Tô Thủ Nạp, Trường Lô Tông Di, Hoàng Long Tử Tâm,
Chơn Hiết Thanh Liễu chuyên tu về Tịnh độ. Cư sĩ Dương
Kiệt, Vương Cổ, Giang Công Vọng, Vương Điền, Vương Nhật
Hưu thì thực hành Thiền Tịnh song tu. Đây đều là sự tiếp
nhận di phong của các bậc tiền bối mà trước đã nói rõ.
Trong
Thiên Thai tông cũng có rất nhiều người tôn sùng và am hiểu
về Tịnh độ tông. Thời đại nhà Tống có: Hành Tĩnh, Trừng
Hoặc, Nghĩa Thông, Nguyên Thanh, Văn Bị, Tuân Thức, Tri Lễ,
Trí Viên, Nhơn Nhạc, Tùng Nghĩa, Trạch Anh, Tông Hiểu v.v…
lần lượt soạn ra các bộ như Quán sớ kinh, A-di-đà kinh
sớ và các sách khác, nhằm xiển dương về giáo chỉ của
Tịnh độ. Trong đó, “Quán kinh sớ diệu tông sao” của
ngài Tứ Minh Tri Lễ là nỗi tiếng nhất. Ngài đã chủ trương
buộc tâm quán tưởng đức Phật, là một học thuyết luận
về sự dung hợp của Thiên Thai và Tịnh độ. Về sau, ở
Dư Hàng có ngài Nguyên Chiếu đã kết hợp với Nam sơn luật
tông mà mở rộng và xiển dương Tịnh độ giáo, làm các
sớ giải về Quán kinh, tạo thành học thuyết của một trường
phái. Môn nhơn có những vị Dụng Khâm, Giới Hộ v.v… làm
các sách chú thích, trong đó thuật lại những lời dạy của
Tổ. Về sau, đến đời Nam Tống, ngài Tuấn Nhưng lại lấy
tư tưởng này truyền đến Nhật Bản. Qua những sự kiện
này, có thể nói rằng thời đại nhà Tống, Tịnh độ giáo
rất hưng thịnh. Lúc này, giáo pháp của Kết xã niệm Phật
đang lưu hành ở phía nam, do sự truyền bá của các ngài:
Tĩnh thường, Tuân Thức, Tri Lễ, Bổn Như, Linh Chiếu, Tống
Di, Đạo Thâm … . Số người tu sĩ cũng như tại gia tu tập
theo Kết xã niệm Phật rất đông. Đây chính là sự kế thừa
tôn phong Lô sơn bạch liên xã của ngài Huệ Viễn đã thành
lập trước kia. Gần giống như tôn phong của ngài Thiện Đạo,
Pháp Chiếu …
Đầu
đời Nam Tống, ngài Từ Chiếu Tứ Nguyên đề xướng Bạch
liên tông, sau đến phổ độ ở Lô Sơn tiếp nối sự kiện
thuật lại ở đây. Ngài trước tác “Liên tông bảo giám”
mà lược nói rõ tông chỉ, nhưng trong đó có nghiêng về sự
mê tín. Sau đó, do đệ tử là Thiệp Phong Tục làm những
việc rối loạn, nhân đây bị ngăn cấm, đây gọi là giặc
Bạch liên giáo.
Thời
đại nhà Nguyên về sau, pháp môn Thiền Tịnh song tu lại thịnh
hành. Các ngài như: Trung Phong Minh Bổn, Thiên Da Duy Tắc, Sở
Thạch Phạm Kì, Đoạn Vân Trí Triệt v.v… đều hướng tâm
về Tây phương. Thiên Thai tông có: Trạm Đường Tánh Trừng,
Ngọc Cương Mong Nhuận, Ngân Giang Diệu Hiệp, Vân Ốc Thiện
Trụ v.v… cũng rất tán dương về Tịnh độ.
Đến
triều đại nhà Minh có: Sở Sơn Thiệu Kỳ, Không Cốc Cảnh
Long, Cô Âm Tịnh Cầm, Nhất Nguyên Tông Bổn, Vân Thê Chu Hoằng,
Tử Bách Chơn Khả, Hám Sơn Đức Thanh, Bác Sơn Nguyên Lai,
Trạm Nhiên Viên Trừng, Cổ Sơn Nguyên Hiền, Vi Lâm Đạo Bái
v.v… đều đề xướng Thiền Tịnh hợp nhất. Trong đó, người
nổi tiếng nhất là Châu Hoành (Liên Trì đại sư). Ngài sống
vào giữa năm Long Khánh (triều nhà Minh, năm 1567), cư trú ở
núi Vân Lâu, thành phố Hàng Châu, chuyên tu niệm Phật tam-muội,
chú giải kinh Di-đà, trước tác rất nhiều sách nhằm hoằng
truyền Thiền Tịnh nhất hướng. Sự cảm hóa của Ngài đã
trở thành phong cách mới trong việc giảng dạy lúc bấy giờ.
Trong
Thiên Thai tông, có các ngài như: Vô Ngại Phổ Trí, Diên Khánh
Đạo Hạnh, Cự Am Đại Hữu, U Khê Truyền Đăng, Linh Phong
Trí Húc, Cổ Thiệp Thành Thời v.v… đều soạn sách xiển
dương về giáo lý Tịnh độ. Trong đó, ngài Trí Húc đề
xướng “Tam học nhất nguyên luận” không phải lập ba tông:
Thiền, Giáo, Luật thành thế chân vạc mà chủ trương ba tông
quy về một, đó chính là pháp môn Tịnh độ. Thời gian sau
có cư sĩ Viên Hoành Đạo, Trang Quảng Hoàng v.v… cũng có
trước tác và tuyên truyền pháp môn này.
Đến
triều đại nhà Thanh, giữa đời Khang Hy, tín ngưỡng Tịnh
độ đều do những người cư sĩ tuyên truyền như: Chu Khắc
Phục, Du Thành Mẫn, Chu Mộng Nhan v.v… biên tập truyện vãng
sanh. Giữa năm Khang Hy, có Bành Thiệu Thăng, Bành Hy Tốc v.v…
trước tác Vãng sanh truyện, khuyến tu Tịnh nghiệp. Cuối
thời Khang Hy, Thật Hiền Tư Tế kế thừa sự nghiệp của
Chu Hoành, kết thành Liên Xã tại Hàng Châu, rất hưng thịnh
và giáo pháp được tuyên truyền mạnh mẽ. Nhân đây, ngài
được mọi người kính mến nên tôn xưng ngài là Vĩnh Minh
tái thế. Những vị như: Hành Sách, Tục Pháp, Minh Hoành, Minh
Đức, Tế Năng, Phật An, Thật Thành, Tế Tĩnh v.v… đều
kế thừa tu Tịnh nghiệp. Về sau, Thụy Chương, Hồ Đỉnh
v.v… tiếp tục biên chép Vãng sanh truyện; sau này có Đạt
Mặc, Ngộ Khai, Trương Sư Thành, Chân Ích Nguyện v.v… đều
có trước tác sách, tuyên dương Tịnh độ.
Từ
triều đại nhà Tống về sau, Tịnh độ giáo rất hưng thịnh
ở vùng phía nam Chiết Giang. Triều đại nhà Thanh lấy Bắc
kinh làm Quốc đô, lại rất sùng kính Lạt-ma giáo, nên tín
ngưỡng Tịnh độ cũng chỉ hưng thịnh ở phía nam.
Từ
triều đại nhà Minh về sau, Phật giáo mất đi sức lực hoạt
động, không có người và thiếu những trước tác có tính
sáng tạo vĩ đại, nhưng khuynh hướng tín nguỡng về Phật
Di-đà rất phổ biến và lưu thông ở dân gian. Tăng tục hợp
lực tu tập rất hưng thịnh, Kết xã niệm Phật trở thành
tông phái có tính phổ biến trên toàn quốc. Thiền là pháp
môn căn bản của Phật giáo Trung Quốc. Song, Tịnh độ giáo
lại là pháp môn phổ biến nhất ở Nhật Bản cũng giống
như đây vậy.
III.
HỆ THỐNG TỊNH ĐỘ GIÁO Ở TRUNG QUỐC
Nhìn
chung, Tịnh độ giáo ở Trung Quốc tóm lược có ba giáo phái:
Thứ
nhất là hệ thống của ngài Lô Sơn Huệ Viễn pháp sư.
Thứ
hai là Hệ thống của ngài Đạo Xước, Thiện Đạo …
Thức
ba là Hệ thống của ngài Tam Tạng Từ Mẫn.
Hệ
thống của ngài Lô Sơn Huệ Viễn thì nương vào pháp Bát-chu
tam-muội, mục đích là mong cầu thấy Phật và được vãng
sanh. Thầy của ngài Huệ Viễn là ngài Đạo An, thầy của
ngài Đạo An là ngài Phật Đồ Trừng (ngài Phật Đồ Trừng
vì mục đích truyền bá đạo Phật ở phương Đông, nên Ngài
đã tới thành Lạc Dương niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ tư,
đời vua Hoài Đế, Tây Tấn). Đây là hệ truyền thứ nhất
của Tịnh độ giáo ở Trung Quốc, nhằm vào năm 310 Tây Lịch.
Thầy
của ngài Thiện Đạo là ngài Đạo Xước, thầy của ngài
Đạo Xước là ngài Đàm Loan. Ngài Đàm Loan được thọ pháp
từ ngài Bồ-đề-lưu-chi (ngài Bồ-đề-lưu-chi là người
Bắc Thiên Trúc, tới Lạc Dương vào năm đầu niên hiệu Vĩnh
Bình, đời Tuyên Võ Đế, Bắc Ngụy). Đây là hệ truyền
thứ hai của Tịnh độ giáo ở Trung Quốc, nhằm vào năm 508
Tây Lịch. Các ngài Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo …
đều truyền bá vãng sanh Tịnh độ, chủ yếu đề xướng
nhờ năng lực bổn nguyện của Như Lai mà có thể vãng sanh
và đắc được quả vị Bất thối. Muốn biết một cách
rõ ràng về những điều này, xin xem học thuyết của các
ngài.
Tam
Tạng Từ Mẫn Tuệ Nhật là người trước năm 748 Tây Lịch,
ngài đến Ấn Độ và lưu lại đây trước sau tất cả là
mười tám năm. Ngài được thọ pháp “Tam Tạng Ấn Độ”.
Đây là hệ truyền thứ ba của Tịnh độ giáo ở Trung Quốc.
Ngài chủ trương tư tưởng Giáo Tịnh hợp nhất, Thiền Tịnh
kếp hợp, Giới Tịnh song tu. Tư tưởng này đã được các
bậc Cao đức kế thừa truyền bá trải qua nhiều đời, như
các ngài Diên Thọ, Châu Hoành, Phổ Chiếu, Pháp Chiếu, Nguyên
Chiếu, Trí Húc … đều là các bậc Cao đức thuộc hệ thống
này.
IV.
NHỮNG ĐẶC SẮC CỦA BA HỆ PHÁI LỚN TỊNH ĐỘ TÔNG.
Tịnh
độ giáo ở Trung Quốc gồm có ba hệ lớn: Lô Sơn, Thiện
Đạo, Từ Mẫn. Sự lưu truyền của ba hệ phái này như ở
trên đã nói rõ. Vậy, nội dung và khuynh hướng của ba hệ
phái này có những đặc sắc gì? Về phương diện giáo lý
của Tịnh độ có rất nhiều luận đề quan trọng như: Vấn
đề về tín tâm, quán pháp, niệm Phật, vãng sanh, Tịnh độ,
pháp tu, Nhơn sanh quan … đều là đối tượng bàn luận nghiên
cứu. Song, nghiên cứu những vấn đề này một cách cặn kẽ
thì nó thuộc về vấn đề giáo lý của Tịnh độ, nó chẳng
phải là đối tượng chính để khảo cứu. Bây giờ chỉ
nói đặc sắc khuynh hướng về lịch sử phát triển Tịnh
độ của ba hệ phái này.
Thứ
nhất, sự tích Tịnh độ của Lô Sơn Huệ Viễn cực kỳ
rõ ràng, trước tác cũng có lưu truyền, Kết xã niệm Phật
chiếm một địa vị trong xã hội lúc bấy giờ, đã quy tập
rất nhiều người học cao hiểu rộng. Ngài Huệ Viễn là
người nỗi danh một thời, nuôi dạy rất nhiều đệ tử,
số đồ chúng mà ngài cảm hóa không phải là ít; nhưng những
đối tượng ngài Huệ Viễn giáo hóa đều là bậc cao sĩ
và ẩn sĩ. Phong cách dạy học của hệ này là lấy sự hiểu
biết, giảng giải nghĩa lý làm mục đích. Tịnh độ quan
của hệ này là lấy cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà làm
Ứng độ. Nơi mà kẻ phàm phu vãng sanh gọi là Sự tịnh thô
quốc (Sự Tịnh độ). Không có biện pháp đến Tướng Tịnh
độ và Chơn Tịnh độ, bởi vì trong kiến giải này nói rằng
cõi Tịnh độ là do cảm ứng tư tưởng nghiệp báo. Do đó,
việc dạy học của phái này là lý luận có tính thường
thức. Nhân đây, về sau có các trường phái của hệ Duy thức
đều lấy Di-đà Tịnh độ làm “Biệt thời ý thuyết”,
Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Duy thức … Tịnh độ quan
của các hệ phái đó đều có kiến giải này. Dĩ nhiên, kết
luận này cũng chính là do từ lý luận đã được triển khai
mà có. Nhưng, tông giáo cần phải có phương hướng của tông
giáo, tông giáo phải có tính bình dân và tính siêu việt thì
mới đặc sắc.
Do
quan điểm Tịnh độ của ngài Huệ Viễn truyền cho đến
nay học lý lệch lạc, họ hiểu Phật trí do từ “Đại bi
tâm” mà phát, lý trí đương nhiên cũng có thể vậy, nhưng
cần phải từ đại bi tâm mà có. Song căn bản lập trường
về sự giảng dạy của ngài Thiện Đạo chính là lấy “Bổn
nguyện của Phật” làm cơ sở và theo “Cường nguyên duyên
khởi luận” là thế giới quan căn bản của Tịnh độ giáo.
Cõi Tịnh độ của Phật Di-đà là quốc độ trang nghiêm do
bổn nguyện của ngài thành lập nên là Báo độ chứ không
phải là Ứng hóa độ. Đây là “Thị báo phi hóa luận”,
một hệ thống không kém phần lộn xộn của các luận sư:
Tịnh Ảnh (Huệ Viễn), Thiên Thai, Gia Tường … Ngài Thiện
Đạo nói: “Cái nhân tu hành không có mất, từ nơi cái nhân
mà chiêu lấy cái quả, cái quả ứng bởi cái nhân, nên gọi
là Báo”. Đức Phật A-di-đà là đấng đã hội đủ tư cách
này. Cho nên quốc độ của Báo Phật là Báo độ, phàm phu
cũng có thể vãng sanh vào Báo độ này. Lại có một số vị
(sư) nhận xét về quốc độ này rất là thấp kém, thậm
chí cho rằng kẻ phàm phu và hàng nhị thừa không thể vãng
sanh về đó. Tuy rằng chấp nhận Báo độ cũng chỉ biết
một phần nào của Thông báo, không biết nguyên nhân của
Biệt báo. Nguyên lý thành lập Tịnh độ là bởi bốn chữ
“Nguyện lực thành tựu”. Vậy, bản chất Tịnh độ là
như thế nào? Chính là Thể của Tịnh độ là Niết bàn, quả
vị chứng đắc ở đó là Pháp tánh vô vi.
Tư
tưởng hệ thống của ngài Thiện Đạo là người ác, phàm
phu đều vãng sanh về Báo độ, và luận về chỉ phương lập
tướng … đã xác lập cái đặc sắc của Tịnh độ giáo,
nhờ tư tưởng này mà khiến cho mọi người đều có hy vọng
sẽ được vãng sanh về Báo độ ấy. Và nhờ thế mà dân
chúng trong xã hội tinh tấn dõng mãnh tu tập, dựa vào tự
viện tông giáo nơi núi rừng thâm sâu rồi phổ biến tông
giáo rộng rãi đến xã hội hiện thực. Trong thực tế, mọi
người đều có thể được cứu giúp, nhân đây đã phát
huy được “bổn lai diện mục” của Tịnh độ giáo. Tịnh
độ giáo học phái của ngài Thiện Đạo rất phổ cập, đã
đem lại nhiều lợi ích cho mọi người, ví dụ như: Thế
giới quan nhẫn khổ, thế giới quan sáng tạo ánh sáng, thế
giới quan nghiệp báo và thế giới quan báo ân v.v… đối
với tinh thần sinh hoạt của con người, hệ phái này có sự
cống hiến rất lớn. Nhờ vậy, cuộc sống của nhân dân
được bình an và ổn định vô cùng. Đây là sự cống hiến
vĩ đại của Tịnh độ giáo trong lịch sử quốc dân. Như
vậy, đến đây chúng ta có thể giải thích về các vấn đề
này đối với các hệ phái Huệ Viễn, Thiện Đạo, Từ Mẫn
như sau :
Sự
lợi ích giáo pháp Tịnh độ của Huệ Viễn là quy tập bậc
thượng căn (giai cấp thượng lưu).
Sự
lợi ích giáo pháp Tịnh độ của Thiện Đạo thì phổ biến
ở hạ căn (bình dân).
Tịnh
độ giáo tổng hợp cả hai hạng thượng căn và hạ căn chính
là Tịnh độ giáo nghĩa Thiền Tịnh kết hợp của hệ phái
Từ Mẫn. Tịnh độ giáo của hệ này lại thích hợp với
hạng trung căn. Do đó, trong lịch sử, Tịnh độ giáo là tông
giáo được phổ biến thượng, trung, hạ căn. Qua đây, chúng
ta có thể chứng minh được sự diễn biến về lịch sử
của Tịnh độ giáo:
Sự
lợi ích giáo pháp hệ phái ngài Huệ Viễn là hạng thượng
căn. Sự lợi ích giáo pháp hệ phái ngài Thiện Đạo là hạng
hạ căn. Sự lợi ích giáo pháp hệ phái ngài Tuệ Mẫn là
hạng trung căn.
Xét
về lịch sử phổ biến của ba hạng căn thì đây chỉ là
cách nhìn nhận riêng của người viết, cũng là một cách
nhìn trên một đại thể mà thôi. Trong thực tế ba hệ phái
này đều có sự phổ biến cả ba hạng căn trên. Tịnh độ
giáo xưa nay vốn phổ biến cả ba hạng căn, nhưng mỗi hệ
ấy đều có sự phát huy đặc biệt, có tính thích hợp, có
kết quả tác dụng riêng. Những đặc sắc đó chính là sự
thích hợp của ba hệ phái đối với ba hạng căn mà trong
phần lịch sử trên đã nói rõ.
Về
vấn đề của Tịnh độ và Tịnh độ giáo của hệ Từ Mẫn
là một việc cần phải nói rõ lại điểm này, nhưng phạm
vi bài viết có hạn xin nhường lại cơ hội sau nói rõ hơn.
Cuối cùng thì không thể không nói đến Phật giáo đời nhà
Đường, Tống về sau các tông truyền bá yếu dần, chỉ có
hai tông là Thiền và Tịnh vẫn còn phồn thịnh. Tịnh độ
giáo của hệ Từ Mẫn phát triển cả hai tông này (Thiền,
Tịnh). Bởi do có khuynh hướng chiết trung và tính tổng hợp
nên hệ thống này đã trở thành hệ thống chính, có tác
dụng đến giới tư tưởng “hạ lưu” tiềm ẩn lúc bấy
giờ. Tóm lại, có thể nói rằng hệ thống này thích hợp
nhất đối với hạng trung lưu, và thời gian không nhiều nên
cũng không luận đàm về học thuyết của hai hệ phái lớn
trước, đến đây cái lý cũng đã hoàn mãn vậy!