02
SỰ
BIẾN ĐỔI TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ
Nguyên
tác: Liên Sanh
Việt
dịch: Thích Quảng Ân
Tịnh
độ tông tôn đại sư Lô Sơn Huệ Viễn thời Đông Tấn làm
Sơ tổ. Bởi vì, ngài Huệ Viễn đã tổ chức thành lập Liên
xã hơn 123 người, đề xướng pháp môn niệm Phật. Nhưng
ngài Huệ Viễn đã đề xướng pháp môn niệm Phật như thế
nào? Hiện tại Thánh điển của Tịnh độ tông được tôn
thờ không ngoài kinh Vô lượng thọ, kinh Thập lục quán, kinh
Tiểu A-di-đà. Căn cứ vào kinh Tiểu A-di-đà thì có trì danh
niệm Phật; căn cứ vào kinh Thập lục quán thì có quán tưởng
niệm Phật. Ngoài ra, căn cứ vào kinh Vô lượng thọ, kinh
Niết-bàn tam-muội, kinh Văn Thù bát-nhã ... thì có thật tướng
niệm Phật. Đối với ba phương pháp niệm Phật này, hiện
tại phương pháp trì danh niệm Phật là thông hành nhất.
Kinh
Tiểu A-di-đà được ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào năm thứ
tư niên hiệu Hoằng Thỉ đời Diêu Tần (402 CN). Căn cứ theo
trong nguyên văn nói thì thời gian mà ngài Huệ Viễn thành
lập Liên xã là “ngày 28 ất mùi (tháng 7 đầu), ngày mồng
một mậu thìn, tháng 7 (tháng 7 nhuận) năm Nhiếp đề cách1”.
Lấy ngày mồng một tháng nhuần để chứng minh thì đúng
với năm đầu tức là năm Nhâm Dần, niên hiệu Nguyên Hưng
(Đông Tấn), cũng chính là năm thứ tư niên hiệu Hoằng Thỉ
đời Diêu Tần, rất có thể ngài lấy kinh Tiểu Di-đà đã
được dịch để khích lệ mọi người tu tập. Nhưng căn
cứ vào tư tưởng của bài tựa trong thi tập “Niệm Phật
tam-muội” mà ngài Huệ Viễn đã trước tác thì hiển nhiên
chẳng phải là dùng phương pháp “trì danh niệm Phật”.
Còn kinh Thập lục quán do ngài Cương-lương-da-xá dịch vào
đời Lưu Tống, là thời gian sau này. Hơn nữa, ngài Huệ Viễn
xây dựng đài Bát-nhã ở chùa Đông Lâm và thành lập Liên
xã trước tượng Phật Di-đà tại đài Bát-nhã, đây là nơi
xác thực ngài Huệ Viễn đã đề xướng phương pháp “Thật
tướng niệm Phật”.
Chúng
ta đã tôn thờ ngài Huệ Viễn là Sơ tổ, thì ngay trong kỳ
tích, sự trước tác, lý luận và tư tưởng Tịnh độ của
ngài chúng ta cũng phải phát huy và làm rạng rỡ thêm.
Tư
tưởng Tịnh độ và Hành môn (pháp môn tự lực tu hành) ở
Trung Quốc được truyền bá rộng rãi, trải qua ba giai đoạn
khác nhau. Tư tưởng Tịnh độ vào cuối đời Hậu Hán mới
truyền vào Trung Quốc. An Thế Cao là người đầu tiên dịch
ra bộ kinh Vô lượng thọ vào thời Hán Hoàn Đế (năm 147).
Về sau, ngài Chi-lâu-ca-sấm cũng dịch bộ kinh Vô lượng
thanh tịnh bình đẳng giác (bản dịch thứ hai của bộ kinh
Vô lượng thọ) và kinh Bát-chu tam-muội vào thời Hán Linh
Đế (năm 168). Đồng thời, ngài Chi-lâu-ca-sấm lại là người
đầu tiên dịch kinh Đạo hạnh bát-nhaõ. Trong thời kỳ này,
tư tưởng Tịnh độ đều lấy tư tưởng Bát-nhã, Pháp hoa
và Tịnh độ kết hợp với nhau, có thể nói chú trọng về
phương pháp "Thật tướng niệm Phật". Như thời Đông Tấn,
Trúc Pháp Khoáng đã lấy kinh Pháp hoa làm "Tam hội qui một",
kinh Vô lượng thọ làm nhân Tịnh độ, và còn dùng hai bộ
này để ngâm vịnh. Nếu có đại chúng thì ngài giảng giải,
còn khi một mình thì ngài đọc tụng. Với tình huống này
mãi đến cuối đời Đông Tấn có đại sư Đông Lâm Huệ
Viễn mới tập đại thành.
Từ
đời Lưu Tống về sau, ngài Cương-lương-da-xá dịch bộ kinh
Thập lục quán, đồng thời ngài còn dịch bộ kinh Quán dược
vương dược thượng. Ngoài ra, còn có các ngài khác dịch
rất nhiều về Quán kinh, như: Tống Đàm-ma-mật-đa dịch kinh
Quán Phổ Hiền Bồ-tát và kinh Quán Hư Không Tạng Bồ-tát,
Tống Tự Cừ Kinh Thanh dịch kinh Di-lặc thượng sanh v.v…
Nhân đây, phương pháp "Quán tưởng niệm Phật" này dần dần
trở nên hưng thịnh và lấy ngài Đàm Loan (Bắc Ngụy) làm
người tiêu biểu. Đại sư Đàm Loan là người nhiều năm
chú giải kinh điển Phật Giáo, đã từng đến đạo gia Hoằng
Cảnh học được phép Tiên thuật, nhưng trong tâm không được
an ổn. Sau đó ngài đến Bồ-đề-lưu-chi thỉnh giáo, ngài
Bồ-đề-lưu-chi dạy tu tập theo Thập lục quán cầu sanh Tịnh
độ. Vì thế, ngài liền bỏ phép thuật tu Tiên và về ở
tại chùa Huyền Trung, núi Thạch Bích, Phần Châu, kiến lập
đạo tràng Cửu phẩm thập quán. Ngài trước tác “Vãng sanh
luận chú”, “Lễ Tịnh độ thập nhị kệ” (mười hai
bài kệ lễ Tịnh độ) v.v…, đến cuối nhà Tùy đầu đời
Đường mới chuyển hướng trì danh niệm Phật. Đời nhà
Tùy, ngài Đạo Xước thiền sư khi đến chùa Huyền Trung thấy
di tích đạo tràng của đại sư Đàm Loan mà phát tâm, nhưng
ngài Đạo Xước thiền sư hành trì cả phương pháp “Quán
tưởng niệm Phật” và “Trì danh niệm Phật”. Cả cuộc
đời của ngài giảng kinh Thập lục quán gồm hai trăm lần.
Hiện tại, chúng ta dùng chuổi hạt để niệm Phật, đó là
phương pháp của ngài truyền lại, như ngày xưa niệm Phật
bằng hạt đậu cũng chính do ngài sáng chế ra. Ngài trước
tác “An lạc tập” gồm hai quyển, sau đời Đường, đại
sư Thiện Đạo mới truyền rộng phương pháp Trì danh niệm
Phật và mãi lưu truyền cho đến ngày nay. Đời Đường Võ
Tôn thì Phật pháp bị tiêu diệt nên trước tác của ngài
Đàm Loan và Đạo Xước ở Trung Quốc bị thất truyền. Do
vậy, người đời sau rất ít người biết đến hai vị đại
sư Đàm Loan và Đạo Xước, ngay cả tên tuổi của họ không
có trong hàng các vị Tổ Sư theo tông Tịnh độ của Trung
Quốc.
Xưa
nay, tư tưởng Tịnh độ vốn là cộng đồng Phật giáo Đại
thừa, nên ở phần cuối trong kinh Hoa nghiêm lấy mười nguyện
Phổ Hiền để hướng đến Cực lạc làm phần tổng kết.
Ở
Ấn Độ, ngài Bồ-tát Long Thọ là bậc Cao đức của Pháp
tánh tông và trước tác của ngài có “Lễ A-di-đà Phật
kệ”; ngài Bồ-tát Thế Thân là bậc Cao đức của Pháp tướng
tông, trước tác của ngài có “Vãng sanh luận”. Thời nhà
Hán, đại sư Tam Tổ Thiên thai Trí Giả có sớ giải Quán
kinh …
Tư
tưởng Tịnh độ và pháp môn niệm Phật ở thời cổ đại
tuy được truyền bá phổ biến rộng rãi nhưng không có Tịnh
độ tông chuyên môn. Tịnh độ tông được thành lập rất
muộn, sự thể là vào thời đại Nguyên, Minh. Hiện tại tôn
sùng mười Tổ của Tịnh độ tông cũng là trải qua thời
Tống, Nguyên, Minh dần dần phát triển mà được hình thành.
Bắt đầu là đời Nam Tống, pháp sư Tông Hiểu lập Liên
xã gồm bảy Tổ. Trong bộ “Phật tổ thống ký” của Tống
Chí Bàn, ngoài việc chuyên nói về Thiên thai tông còn đề
cập đến năm tông phái: Đạt-ma (Thiền); Hiền Thủ, Từ
Ân, Quán Đảnh (Mật), Nam Sơn. Tịnh độ không lập tông mà
lấy ngài Huệ Viễn, Đạo Xước, Thừa Viễn, Pháp Chiếu,
Thiểu Khang, Diên Thọ, Tỉnh Thường làm bảy Tổ của Liên
Xã. Ở quyển 26 (Phật tổ thống ký), trong đó có nó: “Pháp
sư Tứ Minh Thạch Chi Tông Hiểu lấy những vị đồng tu Tịnh
nghiệp (Tịnh độ) qua các thời đại, có công đức cao dày
mà lập thành bảy vị Tổ”. Ngài Tông Hiểu, Chí Bàn đều
là học giả của Thiên thai tông, lại lập bảy Tổ Liên Xã,
chẳng qua hai ngài hành trì và truyền dạy giáo pháp về Tịnh
độ, lúc này chưa có gọi Tịnh độ tông.
Đến
triều đại nhà Nguyên, chùa Đông Lâm có sự phổ độ, nhân
vì lúc này Bạch liên giáo mượn danh nghĩa Phật giáo để
lợi dụng làm các việc riêng; rồi soạn “Liên tông bảo
giám” mười quyển, lại trước tác “Lô Sơn phục giáo
tập” một quyển và tự xưng là Bạch liên tông. Song chỉ
nói một cách ước lược mà chưa xác định Tổ, chỉ ở
trên văn tự. Đến thời Tống Cao Tông, thiền sư Tử Nguyên
đề xướng niệm Phật, soạn “Bạch liên sám pháp” và
còn vào triều đình giảng về tông chỉ niệm Phật. Từ đây
về sau, danh xưng Tịnh độ tông dần dần ổn định. Các
tổ chức về Tịnh độ tông chỉ lược nói nhưng chưa khẳng
định. Đến giữa triều đại nhà Thanh, mới lấy bảy Tổ
Liên xã và kết hợp danh xưng Tịnh độ tông lại với
nhau, tăng thêm đại sư Liên Trì đời nhà Minh, đại sư Tỉnh
Am đời Thanh (Khang Hy), lập thành chín Tổ Liên xã. Sau đó,
lại thêm thiền sư Tế Tỉnh đời Càn Long, xưng thành mười
Tổ Tịnh độ. Đây chính là nguyên nhân lập nên các Tổ
của Tịnh độ tông. Nếu như căn cứ theo lời tường thuật
của người đời nhà Đường, đối với sự lưu truyền của
hành giáo Tịnh độ thì cùng với đây có sự thêm bớt.
Đời
Diêu Tần, ngài Cưu-ma-la-thập dịch kinh A-di-đà2, trong đó
có nói: “Những đàn chim ấy, ngày đêm sáu thời, tiếng
hót hòa nhã, diễn ra các pháp: Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề
phần, Bát thánh đạo phần, và nhiều pháp khác (Thị chư
chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm
diễn xướng, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề phần, Bát
thánh đạo phần, như thị đẳng pháp)”. Vào đời nhà Đường,
ngài Huyền Trang dịch kinh Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp
thọ3 (tức là bản dịch khác về kinh A-di-đà), cũng nói:
“Như thị chúng điểu, trú dạ lục thời, hằng cộng tập
hội xuất hòa nhã âm. Tuỳ kỳ loại âm tuyên dương diệu
pháp, sở vị thậm thâm niệm trú, chánh đoạn, thần túc,
căn, lực, giác, đạo chi đẳng vô lượng diệu pháp”. Khảo
cứu về ý nghĩa của ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì đây
là ba mươi bảy phẩm thành đạo nghiệp. Trong bản dịch thời
Tần (của ngài Cưu-ma-la-thập) ở trước có khuyết ba khoa
mười hai phẩm pháp, như vậy ba mươi bảy đạo phẩm có
thiếu; thế thì đạo nghiệp có thành không? Huống gì bản
dịch đời Đường (của ngài Huyền Trang) được nêu ra một
cách rõ ràng trọn vẹn. Phần nhiều người đời đối với
đây mà sanh lòng nghi ngờ, nên biết rằng ba mươi bảy Đạo
phẩm được giải thích theo hai cách: chiều rộng và chiều
sâu.
Đứng
về phương diện chiều rộng mà luận: Phàm phu mới phát tâm
tu hành cần phải thực hành đầy đủ theo ba mươi bảy Đạo
phẩm, cho đến ở ngôi vị Thập địa, Đẳng giác, Bồ-tát
cũng vẫn tu ba mươi bảy Đạo phẩm. Và thế giới Ta bà,
thế giới Cực lạc cũng vẫn phải tu ba mươi bảy Đạo phẩm.
Giả sử có thế giới cao hơn thế giới Cực lạc thì cũng
phải tu tập theo ba mươi bảy Đạo phẩm. Bởi vì đạo nghiệp
tuy có trình độ cao thấp không đồng, nhưng đều phải từ
ba mươi bảy phẩm pháp này mà thành tựu đạo quả, đây
là giải thích theo chiều rộng vậy. Còn đối với cách giải
thích theo chiều sâu: Quả vị tư lương do tu tập Tứ niệm
trụ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc. Quả vị Gia hành do tu
tập Ngũ căn, Ngũ lực. Quả vị Kiến đạo do tu tập Thất
giác phần. Quả vị Tu đạo do tu tập Bát thánh đạo. Cho
nên, do tu tập ba mươi bảy Đạo phẩm viên mãn mà thành Phật.
Ngài
Huyền Trang đã dịch văn kinh theo nghĩa chiều rộng, nên liệt
ra đây đủ ba mươi bảy Đạo phẩm. Ngài Cưu-ma-la-thập dịch
văn kinh theo nghĩa chiều sâu, chính là muốn nói chúng sanh
trong thế giới Ta bà tu hành pháp muốn niệm Phật tất phải
ngay trong pháp môn này hoàn thành tư tưởng: Tứ niệm trụ,
Tứ chánh đoạn, Tứ thần túc. Sau đó mới có thể vãng sanh
về thế giới Cực lạc tấn tu Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề
phần, Bát thánh đạo phần. Bởi vì, chúng sanh ở thế giới
Cực lạc nhất định là A-bệ-bạt-trí (bất thối chuyển).
Do đó, người niệm Phật phải chú ý đến việc quan sát
Ngũ uẩn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Đoạn trừ phiền
não nghiệp ác một cách mãnh liệt, tăng trưởng thiện pháp
thiện nghiệp, dục, tinh tấn, chuyên chú, tư duy mà nỗ lực
đạt đến Nhất tâm bất loạn, đây mới là người niệm
Phật chơn chánh. Trong văn dịch đời Tần có hàm ý rất sâu
sắc nên mới lược bỏ bớt ba khoa trước. Vì vậy, đối
với pháp môn niệm Phật phải tha thiết, ân cần khẩn cầu
sự chỉ giáo. Đây là điều mà người niệm Phật phải chú
ý một cách triệt để không thể thiếu sót.