01
NGUỒN
GỐC TÔNG TỊNH ĐỘ
Nguyên
tác: Thâm Phước
Việt
dịch: Thích Quảng Tấn
I.
LỜI TỰA
Tịnh
độ là quốc độ thanh tịnh, trang nghiêm, thù thắng không
có ngũ trược, cấu nhiễm. Cõi Tịnh độ này như một Đại
đồng thế giới, không ai mà không mơ tưởng đến, hoặc
chẳng khác nào Thiên đường trong tư tưởng của các giáo
đồ khác.
Nếu
đem so sánh lý tưởng Đại đồng thế giới và Thiên đường
thì cõi Đại đồng thế giới đẹp đẽ, vi diệu, thù thắng
hơn. Tịnh độ là thế giới cư trú của chư Phật, Bồ-tát,
Thánh hiền, cũng là đạo tràng thanh tịnh của chư Phật,
Bồ-tát giáo hoá cứu độ chúng sanh. Cho nên trong tâm mỗi
cá nhân đệ tử của Phật luôn luôn khao khát tìm cầu hướng
về lý tưởng thế giới Tịnh độ. Nhân đó pháp môn Tịnh
độ ở trong Phật pháp hết sức quan trọng, lại được các
đệ tử của Phật tín ngưỡng tin theo và truy cầu phổ biến
rộng rãi. Vì sao pháp môn Tịnh độ ở trong Phật pháp lại
chiếm một địa vị quan trọng như thế ? Lại được các
đệ tử của Phật tin theo rộng rãi như vậy ?
Vì
hiện thực nhơn sinh chịu nhiều thống khổ bức bách (bát
khổ: sanh, lão, bệnh, tử v.v…), đó là một loại hiện tượng
tự nhiên. Cũng giống như một quốc gia trải qua một thời
kỳ chinh chiến loạn lạc, cuộc sống nhân dân bất ổn, chưa
có an cư lạc nghiệp, nên nguyện cầu quốc gia thái bình,
để đời sống được an lạc hạnh phúc. Thế gian thật là
đau khổ, cho nên mọi người phải tìm cầu giải thoát đau
khổ. Vì thế mới có nhiều tôn giáo khác nhau xuất hiện;
mục đích giúp cho con người có cuộc sống hiện thực, để
họ gửi gắm tâm linh của mình vào đó được an bình và
sinh mạng sau khi chết, kỳ vọng vĩnh viễn được an ổn.
Pháp
môn Tịnh độ chính vì nhu cầu của chúng sanh, vì lý tưởng
hiện thực vĩ đại cứu nhơn loại, ngõ hầu tương lai đưa
nhơn sinh đến bờ giác, nên mới thiết lập ra một phương
pháp để cứu tế. Do đó, Tịnh độ mới được phổ biến
rộng rãi, các đệ tử của Phật một lòng tín ngưỡng và
cùng nhau tu học, vì vậy hàng học giả Đại thừa và Tiểu
thừa cũng dung hòa lý tưởng hướng về thế giới Tịnh độ.
Các tông phái Phật giáo Trung Quốc như: Hoa nghiêm, Thiên thai,
Duy thức, Tam luận cho đến Thiền tông v.v… đều thực hành
tu học, hoằng dương pháp môn Tịnh độ. Vì vậy chúng ta
biết rằng, trong Phật giáo Tịnh độ là mục tiêu lý tưởng
mà tất cả đồng hướng về, và Tịnh độ tông cũng chiếm
một địa vị rất quan trọng trong Phật giáo.
II.
NGUỒN GỐC TÔNG TỊNH ĐỘ
Tư
tưởng của Tịnh độ bắt nguồn từ tư tưởng sanh Thiên
và niệm Phật cho đến nay. Đại trí độ luận quyển 22 nói:
“Trong pháp Thanh Văn niệm cõi dục giới, trong pháp Bồ-tát
niệm tất cả tam giới. Khi hành giả chưa đắc đạo, hoặc
tâm tham đắm ngũ dục thế gian, đức Phật dạy niệm Thiên
để đoạn dâm dục, mới sanh lên hai cõi trên. Nếu không
đoạn được dâm dục thì sanh vào trong cõi trời Lục dục
(sáu tầng trời cõi Dục giới)” 1. Ở đây đức Phật vì
những người chưa đạt đạo còn quyến luyến ngũ dục, nên
ngài chỉ ra “con đường” giải thoát thống khổ hiện thực.
Khi đức Phật còn tại thế, đệ tử theo Ngài qui y rất nhiều,
và khao khát tín ngưỡng sùng bái nhơn cách vĩ đại của ngài.
Nhưng thâm tâm mỗi vị đệ tử theo Phật, chỉ cùng ý chí
học Phật truy cầu giải thoát, do đó mới hình thành hai chúng:
tại gia và xuất gia
Ở
Ấn Độ từ xưa đến nay, giới tư tưởng đối với nhân
sinh quan cùng một quan điểm là “khổ”. Quan niệm “đời
là khổ” đã đi vào đáy lòng sâu thẳm của người dân,
tạo thành một lao ngục tư tưởng truyền thống khó có thể
phá vỡ. Loại tư tưởng này vẫn cứ lưu truyền cho đến
hiện nay và ảnh hưởng sang các nước. Vì vậy mọi người
cùng một nguyện vọng tìm con đường giải thoát thống khổ
của hiện thực, để đem lại hạnh phúc cho nhơn sinh. Các
Tông phái thành lập, cộng đồng Tăng lữ xuất hiện, cũng
vì mục đích tối hậu là giải thoát thống khổ cho con người.
Cho nên tư tưởng sanh Thiên cũng nảy mầm, lưu truyền lan
tỏa khắp Ấn Độ. Đức Phật dạy các đệ tử phải qui
y Tam bảo, chính là thực hiện Tam niệm: niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng, rồi thêm niệm Giới (luôn nghĩ nhớ niệm
giới để có thêm công đức), niệm Thí (luôn nghĩ nhớ hành
trì tạo thêm công đức, không quên công đức bố thí) và
niệm Thiên (niệm Thiên là giàu có và an lạc, cần phải tu
tập thiện nghiệp trì giới và bố thí). Lục niệm này đều
thích hợp với căn cơ chúng sanh. Các phương pháp giải thoát
đau khổ không có giống nhau nên trong tam niệm có tư tưởng
niệm Phật; trong lục niệm có tư tưởng sanh Thiên. Lại do
tư tưởng sanh Thiên, diễn biến thành tư tưởng vãng sanh;
tiến thêm một bước nữa do kết hợp hai tư tưởng niệm
Phật và vãng sanh, hình thành một tư tưởng niệm Phật vãng
sanh Tịnh độ. Trong kinh Phật có ghi chép vãng sanh Tịnh độ,
bắt đầu từ cõi Tịnh độ của ngài Di-lặc ở cung trời
Đâu-suất. Đây chính là mở đầu cho sự niệm Phật, niệm
Thiên, sanh Thiên tiến triển trở thành vãng sanh Tịnh độ.
Vì thế chúng ta mới thấy được rằng tư tưởng của Tịnh
độ xuất phát bắt nguồn từ thời đại Phật giáo (Nguyên
thuỷ).
Nguồn
gốc tư tưởng của Tịnh độ, tuy có gốc gác ở vào thời
đức Phật, nhưng cụ thể thành lập chính là từ trong kinh
điển, tức là bắt đầu trong kinh Hoa nghiêm Đại thừa Phật
giáo, sau là kinh Pháp hoa. Vào thời đại nguyên thuỷ Phật
giáo và các bộ phái, tư tưởng Tịnh độ hết sức chìm
lặng không có hiển bày rạng rỡ. Nhưng tín ngưỡng Tịnh
độ lại ăn sâu vào trong tâm khảm của người tại gia, còn
xuất gia chú trọng giải thoát sanh tử chứng niết-bàn. Đang
lúc Tăng Đoàn xuất gia làm chủ, lãnh đạo chỉnh đốn tình
hình Phật giáo, thì tư tưởng Tịnh độ tự nhiên lại lu
mờ. Do vậy trong kinh điển của Tiểu thừa có ghi chép liên
quan đến tư tưởng Tịnh độ không nhiều, chỉ có một vài
nét nho nhỏ mà thôi. Cho đến sau khi kinh Bát-nhã xuất hiện,
trong các lời nguyện của kinh Bát-nhã cùng với tư tưởng
Tịnh độ, hai bên tương ứng với nhau mới có một chút ánh
sáng le lói. Kinh Bát-nhã phẩm Hạnh nguyện, Hội thứ hai nói:
“Có các vị Đại Bồ-tát tu hạnh bố thí Ba-la-mật-đa …
phát lời nguyện: Ta nên tinh tấn chuyên cần không tham luyến,
tu hạnh bố thí Ba-la-mật-đa để thành thục hữu tình để
trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật”2. “Ta nên dùng phương tiện
gì để cứu vớt các loài hữu tình, khiến họ xa lìa tà
định và bất định tụ. Tư duy đã xong mới phát lời nguyện:
Ta nên tinh cần tinh tấn không tham luyến, tu hạnh lục chủng
(sáu pháp) Ba-la-mật-đa, thành thục hữu tình trang nghiêm thanh
tịnh cõi Phật”3. Cho nên kinh Bát-nhã dùng lục độ để
nói rõ việc trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Đến khi xuất
hiện kinh Hoa nghiêm, ghi chép Thiện Tài Đồng Tử đến phương
Nam tham học nơi Tỳ-kheo Công Đức Vân, mới có nói rõ việc
niệm Phật tam-muội và thấy Phật. Lại trong kinh Hoa nghiêm
phẩm “Nhập pháp giới” nói: “Bồ-tát Quang Minh dùng chánh
định tam-muội quán sát … thấy tất cả chư Phật và quyến
thuộc của Ngài ở cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh”4. “Đạt
được Hư không đẳng niệm Phật Tam-muội môn, thấy thân
Như Lai chiếu khắp pháp giới”5. Trong kinh Hoa nghiêm,
phẩm “Hoá thành dụ” đều nói đến đức Phật A-súc và
đức Phật A-di-đà, và nói: “Có hai vị Sa-di phương Đông
thành Phật, một là A-súc ở quốc độ Hoan Hỷ, hai là Tu
Di-đảnh … . Lại ở Tây phương có hai vị Phật, một là
A-di-đà, hai là Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não”6.
Đây
là nói rõ 10 Đại vương tử theo Ngài Đại Thông Trí Thắng
Như Lai xuất gia học đạo, sau đến các phương thành Phật.
Phẩm “Dược vương Bồ-tát” nói: “Nếu có người phụ
nữ nào nghe kinh Diệu pháp liên hoa, nghe xong phát tâm tu hành,
sau khi mạng chung liền vãng sanh về thế giới của đức Phật
A-di-đà, có các vị đại Bồ-tát vây quanh nơi đó”7.
Như
vậy trong kinh đã nói rõ sự thực về vãng sanh Cực lạc
Tịnh độ. Chúng ta thấy trong các kinh Đại thừa hay tán dương
đức Phật A-di-đà và thuật lại sự trang nghiêm thanh tịnh
của cõi Cực lạc Tịnh độ, do đó Phật giáo ở Trung Quốc,
đối với đức Phật A-di-đà họ luôn tôn kính sùng bái.
Nên cổ đức nói: Trong các kinh tán thán, đều tán thán đức
Phật A-di-đà, vì Ngài có ý một nghĩa đặc thù tồn tại
miên viễn.
Trong
giáo lý truyền thống của Tiểu thừa nhận định về đức
Phật là bậc thầy của trời người, thánh cách siêu nhơn
của Ngài không gì so sánh được, và mọi người chỉ có
thể làm đệ tử của Ngài và tu hành theo lời dạy của Ngài;
nhưng, nếu muốn đầy đủ tất cả diệu dụng từ bi, nguyện
lực, thần thông cứu độ người nhơn gian như đức Phật,
thì không thể được. Do đó đối với hạnh nguyện cứu
độ chúng sanh, bộ phái Phật giáo nguyên thuỷ cho là không
thể thực hành được, nên phần nhiều Tăng đoàn xuất gia
chú trọng chủ nghĩa tịch tịnh, thành ra thiên lệch về chủ
nghĩa tiêu cực. Về sau, do ở trong giáo đoàn có phần Đại
thừa phát triển, từ đó hoàn cảnh thôi thúc họ bất mãn
các hình thức không linh hoạt, đã phá bộ phái truyền thống,
cho rằng không phù hợp với con người. Cho nên họ lập ý
chí lớn, phát đại nguyện, hành Bồ-tát đạo, nguyện làm
vị Phật tương lai, cùng Ngài cứu vớt chúng sanh, đạt đến
nhân cách lý tưởng tối cao viên mãn. Nhưng lý tưởng tối
cao của Phật Đà không phải một kiếp một đời có thể
thành đạt được, hiện tại chỉ là hàng hậu duệ kế thừa
sự nghiệp Phật Đà, lập đại nguyện trên cầu thành Phật
dưới hoá độ chúng sanh, thành tựu Bồ-tát, thực hành Lục
độ Ba-la-mật, chờ đợi tương lai sẽ thành Phật, như vậy
chúng ta có thể thấy được rằng tư tưởng thành Phật từ
đây mà nảy mầm. Trong kinh A-hàm có ghi lại: Ngài Bồ-tát
Di-lặc đời sau sẽ kế vị thành Phật, hiện Ngài ở cung
trời Tịnh độ Đâu-suất. Đây là đầu mối vãng sanh Tịnh
độ.
Trong
truyện Bổn sanh có nói: Bồ-tát hiện các hình tướng, đời
trước chỉ là một vị Phật Thích Tôn mà thôi, từ đó mà
phát triển thành các tư tưởng bổn nguyện Bồ-tát, và biết
được cái nhân chơn chánh của Bồ-tát là thành Phật; cũng
vậy nếu có chúng sanh phát đại Bồ-đề tâm, rộng tu Bồ-tát
đạo, về sau nhất định sẽ thành Phật. Lại do chủ nghĩa
của một vị Phật Thích Tôn, diễn biến thành tư tưởng
nhiều vị Phật, cho nên Phật giáo Đại thừa có vô lượng
vô biên Tịnh độ của các vị Phật. Bồ-tát vì muốn đạt
đến lý tưởng cao tột và hạnh nguyện cứu độ chúng sanh
như Phật Đà, nên phát đại nguyện, cõi Tịnh độ chính
là đạo tràng để cho Bồ-tát thành tựu đại nguyện. Tóm
lại, đều do một vị Phật Thích Tôn mà sanh ra tư tưởng
nhiều vị Phật, lại do kiếp trước Phật Đà thị hiện
các hạnh Bồ-tát, mà phát triển thành vô lượng vô biên
tư tưởng Bồ-tát. Trong kinh Đại thừa diễn tả hằng hà
sa số chư Phật, Bồ-tát ở cõi Tịnh độ, cũng chính từ
đây thành lập. Mười phương chư Phật và vô lượng vô số
cõi Tịnh độ Bồ-tát, không phải một vị thành lập, mà
cùng với chúng sanh kiến lập, do đó có tư tưởng vãng sanh
Tịnh độ. Tất cả chúng sanh vãng sanh về quốc độ chư
Phật, Bồ-tát, không chỉ hưởng thọ khoái lạc riêng tư,
mà tất cả đều cùng nhau lập một ý chí mạnh mẽ phát
Bồ-đề tâm, trên cầu thành Phật dưới hoá độ chúng sanh,
nhân nơi đó xây dựng nên một cõi Tịnh độ mới; họ luôn
mong mỏi thành đạt được nguyện vọng là tiếp dẫn chúng
sanh, cứu độ chúng sanh, giáo hoá chúng sanh. Từ cõi Tịnh
độ này nảy sanh thành cõi Tịnh độ mới, đây cũng chính
là thành tựu vô lượng vô biên cõi Tịnh độ.
III.
TỊNH ĐỘ LƯU HÀNH VÀO THỜI ĐẠI NGÀI LONG THỌ
Ngài
Long Thọ Bồ-tát là người ở vào thời đại Công Nguyên
150-250. Ngài là người tập đại thành Phật giáo Đại thừa
ở Ấn Độ, Phật giáo Đại thừa cũng do Ngài hoằng dương
phát triển rạng rỡ. Căn bản tinh thần của Phật Đà, chân
lý của Phật pháp cũng chính do ngài lưu truyền ở thế gian.
Ngài Long Thọ Bồ-tát là một nhân vật kiệt xuất vĩ đại
trong Phật pháp, trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ đều gọi
ngài là đệ nhị Thích Ca, do đó mới biết ngài là một con
người quan trọng như thế nào, đối với Phật giáo ngài
cống hiến ra sao !
Tất
cả kinh điển tư tưởng Tịnh độ, ngài Long Thọ Bồ-tát
trước đây đã hoằng truyền ở thế gian, về sau ngài còn
trước tác rất nhiều tác phẩm để chứng minh tư tưởng
Tịnh độ mà ngài đã truyền bá. Như phẩm “Dị hành”
trong bộ “Thập trụ Tỳ-bà-sa luận” nói: “Bổn nguyện
của đức Phật A-di-đà là: ‘Nếu có người nào niệm danh
hiệu của Ta thì đắc được A-nậu-na-la tam-miệu tam-bồ-đề’.
Cho nên phải thường nhớ niệm”8. Lại nói: “Cho đến đời
vị lai Đức Phật Di-lặc (ứng hiện) cũng phải nhớ nghĩ,
lễ bái”9. Ngài mã Minh Bồ-tát phát hiện những trước tác
của ngài Long Thọ, thấy có tư tưởng Tịnh độ A-di-đà
đã lưu truyền vào thời điểm ấy. Như bộ “Đại thừa
khởi tín luận” nói: “Nên biết Như Lai có phương tiện
thù thắng nhiếp hộ tín tâm, nhờ nhân duyên chuyên ý niệm
Phật, tuỳ nguyện được sanh vào cõi Phật, thấy được
Phật, vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Như trong Tu-đa-la (kinh) nói:
Nếu có người nào chuyên niệm đức Phật A-di-đà và thế
giới Tây phương Cực lạc của Ngài, tu các thiện căn hồi
hướng nguyện sanh về thế giới đó, tức được vãng sanh”10.
Như
vậy tư tưởng Tịnh độ ở vào thời kỳ đầu của Phật
giáo Đại thừa đã được hoằng truyền và tín ngưỡng rộng
rãi.
Vào
thời đại ngài Long Thọ Bồ-tát, Tịnh độ lưu truyền đại
thể phân làm ba dòng lớn :
1.
Bồ-tát Di-lặc (Từ Thị) làm chủ ở cõi Tịnh độ Đâu-suất.
2.
Đức Phật A-súc (Bất Động) làm chủ ở cõi Tịnh độ Đông
phương Diệu Hỷ.
3.
Đức Phật A-di-đà (Vô lượng thọ, Vô lượng quang) làm chủ
ở cõi Tịnh độ Tây phương Cực lạc.
Ba
dòng Tịnh độ này hình thành thứ tự theo chiều hưng thịnh
của lịch sử. Nội dung ba dòng Tịnh độ:
1.
Ngài Bồ-tát Di-lặc làm chủ cõi Tịnh độ Đâu-suất :
Ngài
Di-lặc là vị Bồ-tát Nhất Sanh Bổ Xứ ở thế giới này.
Hiện Ngài ở cung trời Đâu-suất, tương lai sẽ xuất hiện
ở thế giới Ta bà, thành tựu Chánh đẳng chánh giác hoá
độ chúng sanh. Tín ngưỡng này đã có từ thời đại Phật
giáo Tiểu thừa cho đến nay, và trong kinh A-hàm có ghi chép
những tư tưởng này. Đến thời ngài Long Thọ Bồ-tát dùng
kinh điển dẫn chứng như: Kinh “Di-lặc thành Phật”, “Di-lặc
hạ sanh” v.v… để chứng minh Bồ-tát hạ sanh ở trong quốc
độ này dần dần sẽ thành Phật, đây là Tịnh độ của
người thế gian. Vì thế gian thành Phật còn lâu, nên ngài
cư trú tại cõi trời Đâu-suất, giáo hoá chúng sanh, đây
là cõi Tịnh hóa thiên quốc.
Kinh
“Đức Phật thuyết quán Di-lặc Bồ-tát thượng sanh Đâu-suất
thiên” chính là nói rõ cõi trời an lạc Tịnh độ Đâu-suất.
Ngài khuyên mọi người nên cầu vãng sanh về cõi ấy. Điều
kiện trước tiên để vãng sanh là phải niệm danh hiệu của
Ngài (Di-lặc). Trong kinh lại nói: “Luôn luôn quán hình tượng
Phật và xưng danh hiệu Di-lặc … liền được vãng sanh về
cõi Đâu-suất-đà thiên11… được sanh lên cõi trời Đâu-suất,
gặp Ngài Di-lặc, rồi theo Ngài hạ sanh xuống Diêm-phù-đề”12.
Do
đó chúng ta cầu sanh về cõi Tịnh độ Đâu-suất, mục đích
là thân cận Bồ-tát Di-lặc và tương lai theo ngài đến thế
giới Ta bà tịnh hoá nhân gian, để thành thục thiện căn,
đạt được giải thoát. Đây không phải cái nhân tham trước
khoái lạc cầu vãng sanh Tịnh độ Đâu-suất, mà chính là
xây dựng Tịnh độ nhân gian. Trong kinh Di-lặc hạ sanh thành
Phật có nói rõ sự việc này. Nhưng về sau hàng đệ tử
của Phật, chỉ chú trọng vãng sanh Tịnh độ Đâu-suất,
mà quên đi về Ngài Di-lặc hạ sanh ở cõi này, để xây dựng
Tịnh độ nhân gian, cho nên họ thiên lệch về phần phát
triển vãng sanh Tịnh độ Đâu-suất. Đối với vãng sanh Tịnh
độ ở cõi khác về sau ảnh hưởng rất lớn. Hiện nay tư
tưởng vãng sanh Tịnh độ Đâu-suất, Trung Quốc và Nhật
Bổn đều có lưu truyền và tín ngưỡng.
2.
Đức Phật A-súc ở Tịnh độ Đông phương Diệu hỷ :
A-súc
là phiên âm tiếng Phạn (Aksïobhya), gọi cho đủ là A-súc-bà
hoặc A-súc-bính, nghĩa là không động, không sân giận. Ngày
xưa ở cõi Đông phương thiên Phật, có một vị Như Lai Đại
Mục ở nước A-tỷ-la-đề phát nguyện tu hạnh Bồ-tát đạo,
thành Phật ở Đông phương, quốc độ của Ngài tên là Diệu
thiện. Đức Phật A-súc cùng với kinh “Đại Bát-nhã”,
“Duy-ma-cật”… có quan hệ mật thiết với nhau. Kinh Bát-nhã
xuất hiện ở Đông Ấn Độ, trong kinh thường nói đến Bồ-tát
Thường Đề cầu diệu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa, đi về
hướng Đông cũng chính là cõi Tịnh độ của đức Phật
A-súc tại Đông phương. Kinh A-di-đà nói: “Đông phương cũng
có đức Phật A-súc-bính …”13. Kinh Bát-nhã là chỗ trọng
yếu của Bồ-tát Đại Trí Trước Trọng, Ngài nói đến cõi
Phật khác thường lấy quốc độ Đông phương A-súc Phật
làm ví dụ. Như trong Kinh “Đại Bát-nhã” hội thứ năm,
phẩm “Kiến bất động Phật” nói: “Lúc bấy giờ tứ
chúng vây quanh đức Thế Tôn, nghe Ngài thuyết kinh Bát-nhã
Ba-la-mật-đa, phó chúc cho ngài A-nan-đà thọ trì… trước
đại chúng Ngài hiện thần thông, khiến cho đại chúng đều
thấy Như Lai Bất Động … và quốc độ trang nghiêm thanh
tịnh của Ngài”14. Do đó chúng ta có thể thấy được rằng,
cõi Tịnh độ A-súc và kinh Bát-nhã có sự quan hệ mật thiết.
Trong kinh “Duy-ma-cật” phẩm “Kiến A-súc Phật Quốc”
nói: “Có nước tên Diệu hỷ và đức Phật hiệu Vô Động
(không động), Ngài Duy-ma-cật mất ở quốc độ đó mà sanh
về quốc độ này”15. Lại nói: “Lúc bấy giờ đức Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo các đại chúng: ‘Các ông nên quan sát
thế giới Diệu hỷ và Như Lai Vô Động, quốc độ của Ngài
hết sức là trang nghiêm, Bồ-tát thanh tịnh, đệ tử thanh
bạch v.v… Nếu có Bồ-tát nào muốn được quốc độ thanh
tịnh như Ngài, thì phải nên học và thực hành đạo của
Như Lai Vô Động”16. Những điều này có thể chứng minh
được rằng, kinh Duy-ma-cật cùng Tịnh độ A-súc có quan hệ
mật thiết như thế nào. Và còn cho chúng ta biết đức Phật
A-di-đà thường tán thán sự trang nghiêm và diệu hạnh của
cõi Tịnh độ A-súc, Ngài còn khuyên đại chúng nên học theo
đức Như Lai Vô Động để vãng sanh đến quốc độ đó.
Tư
tưởng Tịnh độ của Phật A-súc, bắt nguồn từ sự hưng
khởi quan niệm Tịnh độ chư Phật Đại thừa thời xa xưa
ở Đông phương. Kinh điển luôn bàn luận đến sự vãng sanh
về quốc độ của Phật A-súc, tuy không có phổ biến rộng
rãi như Tịnh độ Cực lạc của đức Phật A-di-đà, nhưng
lại lấy từ trong các kinh điển Đại thừa. Cho nên tư tưởng
trong các kinh Đại thừa có quan hệ với tư tưởng Tịnh độ
A-súc, tổng hợp lại biên tập mà phát triển, thì có ngài
Chi-lâu-ca-sấm (đến Trung Quốc vào năm 167 Tây lịch) dịch
kinh “A-súc Phật Quốc” và ngài Bồ-đề-lưu-chi (đến Lạc
Dương vào năm 508 Tây lịch) dịch kinh “Đại bảo tích”,
trong đó có hội thứ sáu “Bất Động Như Lai”. Trong kinh
nói rõ đức Phật A-súc ở nơi Nhân địa tu hạnh Bồ-tát
đạo, khi còn làm một vị Tỳ-kheo đến ở với ngài Đại
Mục Như Lai, lập các đại nguyện, chính là 16 nguyện và
23 nguyện ở cõi Tịnh độ, tất cả thành 39 nguyện, đến
khi các nguyện đã viên mãn rồi mới thành Phật, xây dựng
một cõi Tịnh độ ở Đông phương. Quốc độ này có công
đức vô lượng, nếu có ai muốn vãng sanh đến quốc độ
Diệu hỷ thì phải tu hạnh Bồ-tát Lục độ và Bát-nhã Không
quán, niệm thánh hiệu của các đức Phật. Quốc độ của
Phật A-súc cùng Tịnh độ A-di-đà có chỗ không giống nhau,
nếu đem so sánh thì một bên chú trọng về Tự lực mà vãng
sanh, còn một bên chú trọng về Tha lực tín nguyện được
tiếp dẫn. Quốc độ Diệu hỷ theo trình độ trên cho đến
lý tưởng tuy không có bằng sự trang nghiêm vi diệu ở Thế
giới Cực lạc, nhưng chú trọng về phương diện đạo đức,
xã hội, văn hoá, đồng thời quốc độ Diệu hỷ thù thắng
hơn Thế giới Cực lạc.
3.
Tịnh độ Tây phương Cực lạc của đức Phật A-di-đà:
A-di-đà
phiên âm từ tiếng Phạn (Amitābha), dịch nghĩa: Vô Lượng
Thọ, Vô Lượng Quang, hoặc Cam Lồ. (Mật giáo gọi A-di-đà
Phật là Cam Lồ Vương)
Kinh
A-di-đà nói: “Đức Phật đó có hào quang vô lượng, chiếu
khắp mười phương không có chướng ngại … Ngài và tất
cả chúng sanh thọ mạng vô lượng vô biên A-tăng-kỳ17 kiếp,
cho nên Ngài có danh hiệu A-di-đà”18. Đức Phật A-di-đà
có 13 danh hiệu, 12 danh hiệu nói đến hào quang của Phật
(Thập nhị quang Phật) cộng thêm Vô Lượng Thọ Phật nữa
là thành 13. Kinh “Vô lượng thọ” nói: “Vô Lượng Thọ
Phật, còn hiệu là Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật,
Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Diệm Quang Phật,
Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật,
Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật,
Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật”.19 Do kinh văn ở trên mà chúng
ta biết rằng đức Phật A-di-đà có thọ mạng Vô lượng
và hào quang vô lượng. Trong quyển “Tịnh độ tân luận”
của đạo sư Ấn Thuận nói: “Đức Phật A-di-đà hàm nghĩa
Vô lượng Phật đều có Thông có Biệt. Thông là chỉ tất
cả chư Phật tức là vô lượng vô số Phật. Biệt là chỉ
về phương mà lập hướng, đó là thế giới Tây phương Cực
lạc của đức Phật A-di-đà”.20 Như vậy, đức Phật A-di-đà
chính là đại biểu cho tất cả mười phương chư Phật. Như
trong phần đệ cửu quán của kinh “Quán vô lượng thọ”
nói: “Thấy Vô lượng thọ Phật là thấy mười phương vô
lượng chư Phật … Thấy sự việc của Ngài ở đây tức
là thấy tất cả sự việc mười phương chư Phật … Quán
sát như vậy là quán tất cả thân Phật”21.
Vậy,
thấy đức Phật A-di-đà, là thấy mười phương chư Phật;
khi quán đức Phật A-di-đà chính là quán mười phương chư
Phật, do đó có thể biết, đức Phật A-di-đà là đại biểu
cho vô lượng vô số Phật. Cõi Tịnh độ Cực lạc gọi tên
như thế là do đời sống chúng sanh hạnh phúc và quốc độ
ấy rất trang nghiêm. Kinh “A-di-đà” lại nói: “Chúng sanh
trong quốc độ của Ngài không có các thống khổ, chỉ hưởng
an lạc … và cõi Cực lạc có bảy loại lan can, bảy loại
lưới, bảy loại cây đều làm bằng bốn loại báu vây quanh,
nên quốc độ đó có tên Cực lạc”.22
Cõi
Tịnh độ Tây phương Cực lạc có sự trang nghiêm thù thắng
như vậy, cho nên mọi người tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà
phổ biến rộng rãi, vì thế tư tưởng Tịnh độ Đại thừa
cũng qui kết vào đó. Đặc biệt Phật giáo Trung Quốc luôn
hoằng dương phát triển Tịnh độ Tây phương, đưa tín ngưỡng
vào lòng dân cùng một niềm tin, lý do đó mà lập ra tông
này.
Tư
tưởng Tịnh độ Cực lạc A-di-đà, ngài Long Thọ Bồ-tát
dựa theo kinh A-di-đà thuộc trong bộ kinh “Hai mươi bốn lời
nguyện” (Chi Khiêm dịch kinh A-di-đà, Chi-lâu-ca-sấm dịch
kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác) làm đại biểu.
Ở đây Ngài Long Thọ Bồ-tát còn dẫn chứng trong bộ luận
“Thập trụ Tỳ-bà-sa”. Nói đến tư tưởng đức Phật
A-di-đà cùng tư tưởng Phật A-súc, tuy nhiên có chỗ khác
nhau, nhưng bổn nguyện tư tưởng của đức Phật A-di-đà
từ nơi bổn nguyện của đức Phật A-súc (cõi Tịnh độ
A-di-đà ở Tây phương cũng là nói đến Tịnh độ Đông phương
của Phật A-súc) mà sanh ra. Bổn nguyện đức Phật A-súc có
39; bổn nguyện đức Phật A-di-đà từ 24 lời nguyện rồi
tăng đến 48 nguyện. Do đó có thể biết rằng bổn nguyện
của các Ngài dần dần tăng thêm. Về Tịnh độ của đức
Phật A-súc tự mình nỗ lực tu hành và lấy kinh “Bát-nhã
không quán” làm chính. Còn Tịnh độ của đức Phật A-di-đà
thì chú trọng ở nơi tha lực, một trong 48 lời nguyện của
ngài: “(Nếu có ai) chí tâm phát nguyện muốn vãng sanh đến
thế giới của Ta, thì khi lâm chung, Ta cùng đại chúng hiện
trước người ấy tiếp dẫn họ đi … Nghe danh hiệu, cúng
dường, thường niệm để sanh đến quốc độ Ta … Chí tâm
tin một cách mãnh liệt hoan hỷ, muốn sanh đến thế giới
của Ta, nghe hoặc niệm mười danh hiệu của Ta, thì liền
được vãng sanh”23. Đây chính là tư tưởng Bát-nhã Chơn
không, mà đứng trên phương diện lý tưởng Diệu hữu khai
triển.
Do
đức Phật A-di-đà phát nguyện rộng lớn, nên Tịnh độ
Cực lạc có hai đặc sắc thù thắng:
1.
Đức Phật A-di-đà tự thân của Ngài là Vô lượng thọ,
Vô lượng quang, nếu tất cả chúng sanh vãng sanh đến thế
giới Cực lạc thì cũng được Vô lượng thọ, Vô lượng
quang. Đây là đặc sắc lớn ở thế giới Cực lạc, mà ở
cõi Tịnh độ của ngài Di-lặc và A-súc không có.
2.
Tịnh độ Di-đà có thể mang nghiệp mà vãng sanh, đây là
đặc chất tư tưởng bổn nguyện của Ngài, chú trọng ở
nơi tha lực; phàm tất cả chúng sanh, nếu có thể chí tâm
tin tưởng niệm mười lần danh hiệu của Ngài, đều được
vãng sanh. Đây là dựa theo kinh Pháp hoa “Hội tam qui nhất
Phật thừa” để cho dễ hiểu và hóa độ. Trong kinh Pháp
hoa ghi lại rằng: “Ba qui về một” là phải chuyên tu đạt
đến Thánh vị giải thoát. Nhưng Tịnh độ Di-đà thì không
phải như vậy, tất cả chúng sanh muốn vãng sanh đều có
cơ hội vãng sanh, vả lại sanh đến quốc độ của Ngài,
một đời liền bổ xứ làm Phật. Đây chính là ngài Long
Thọ Bồ-tát nói chỗ “Dị hành phẩm” trong bộ luận “Thập
trụ Tỳ-bà-sa”. Do đó Tịnh độ Di-đà ở trong Phật giáo,
khai triển pháp môn nhờ tha lực mà vãng sanh, rất thích hợp
với căn cơ chúng sanh đời mạt pháp, cũng là một trong những
đặc sắc của thế giới Cực lạc.
IV.
SỰ THÀNH LẬP VÀ TRUYỀN BÁ TỊNH ĐỘ TÔNG Ở TRUNG QUỐC
Tịnh
độ tông tại Trung Quốc là ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa
ở Ấn Độ, và thành lập theo sự tín ngưỡng chư Phật và
Tịnh độ của các Ngài. Sự tín ngưỡng pháp môn Tịnh độ
hưng thịnh, vì hiện nay chúng sanh ở thế giới này mong chờ
chư Phật nhiếp hộ, và mục đích tương lai hy vọng
vãng sanh đến thế giới của chư Phật. Trong các kinh luận
Đại thừa, ghi chép có hằng sa vô lượng chư Phật, thế
giới của các Ngài đều là Tịnh độ, các Ngài ở quốc
độ đó giáo hoá chúng sanh. Trong vô lượng cõi Tịnh độ
của chư Phật, Tịnh độ của vị Phật này liên quan với
vị Phật kia, vấn đề này nói rõ một cách chi ly. Chỉ có
cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà, A-súc, Dược Sư, Đương
Lai Di-lặc v.v… mới có ghi chép riêng ở trong kinh điển.
Do đó kinh điển nói về đức Phật A-di-đà rất nhiều. Trong
kinh nói về đức Phật A-di-đà, đầu tiên Ngài ở nơi Nhân
địa phát nguyện tu hành, xây dựng trang nghiêm cõi Tịnh độ
ở thế giới Tây phương Cực lạc và cuộc sống nhân dân
v.v… đều có tường thuật rõ ràng. Sự việc này, từ xưa
đến nay đều chứng minh cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà
là đại biểu cho tất cả các cõi Tịnh độ của chư Phật.
Tín ngưỡng cõi Tịnh độ Di-đà từ Ấn Độ truyền đến
Trung Quốc, rất nhanh chóng và được hoằng truyền hưng thịnh,
phổ biến khắp toàn quốc. Tín ngưỡng Tịnh độ ở Trung
Quốc, bắt đầu được hoằng truyền là do ngài Chi Sấm dịch
kinh “Bát-chu tam-muội” vào đời Hậu Hán Linh Đế, năm
thứ 2 niên hiệu Quang Hòa (Công nguyên 179). Tiếp đến có
ngài Ngô Chi Khiêm (đến Trung Quốc 220) cùng ngài Trúc Pháp
Hộ, đời Tây Tấn (đến Trung Quốc 265) v.v… dịch được
bộ “Đại A-di-đà”, và “Bình đẳng giác kinh”. Sau đến
đời Diêu Tần ngài Cưu-ma-la-thập (đến Lạc Dương vào năm
401) cùng Lưu Tống Bảo Vân, Cương-lương-da-xá v.v… (đến
Kiến Nghiệp năm 424), thứ tự dịch các kinh điển Tịnh độ:
Kinh A-di-đaø, Kinh Vô lượng thọ, Kinh Quán vô lượng thọ,
Thập trụ Tỳ-bà-sa luận, v.v…, tín ngưỡng Tịnh độ dần
dần được phổ biến khắp nơi. Pháp môn Tịnh độ từ đây
được hoằng truyền và thông dụng, vào đời Tây Tấn trước
tiên có ngài Đạo An (phát nguyện sanh về cõi Đâu-suất),
ngài trước tác được 6 quyển Tịnh độ luận. Sau đó đệ
tử Pháp Ngộ v.v… cũng phát nguyện theo gót thầy vãng sanh
về cõi Đâu-suất. Nhưng nổ lực nhiều nhất là ngài Huệ
Viễn đời Đông Tấn. Ngài Huệ Viễn đã từng ở Lô Sơn
phương nam hoằng truyền pháp môn Tịnh độ hết sức hưng
thịnh, ngài còn kết hợp với hội Bạch liên xã, một lòng
cùng với những vị hiền giả cùng chí hướng, cùng tu Tịnh
độ, đứng trước đức Phật Vô Lượng Thọ tại tinh xá
Bát-nhã Vân Đài lập thệ nguyện sanh về Tây phương.
Cao
tăng truyện quyển 6 nói :
“Đoạn
tuyệt khách trần thanh tín (Thiện nam tín nữ), những vị
không hẹn mà đến: Vọng Phong Dao Tập, Bành Thành Lưu Di Dân,
Dự Chương Lôi Thứ Tông, Nhạn Môn Châu Tục Chi, Tân Thái
Tất Dĩnh Chi, Nam Dương Tông Bính, Trương Thái Dân, Trương
Quý Thạc v.v… tất cả đều bỏ vinh hoa phú quí thế gian
theo ngài Huệ Viễn học đạo. Ngài Huệ Viễn cùng mọi người
đứng trước tượng đức Phật Vô Lượng Thọ tại tinh xá,
lập thệ nguyện cùng hẹn về Tây phương. Bèn sai Lưu Di Dân
làm bài văn cáo bạch: “Ngày 28 Ất mùi (tháng 7 đầu)…
mùng một Mậu thìn (tháng 7 nhuần) năm Nhiếp đề24, Pháp
sư Thích Huệ Viễn, ngài có một tấm lòng trong trắng hoài
cảm sâu xa ôm ấp ở trong tâm, đồng một chí hướng đối
với sự tín ngưỡng Tịnh độ, ngài cùng với 123 người
đứng trước tượng đức Phật A-di-đà, tại tinh xá Bát-nhã
Vân Đài ở phía sau núi Lô Sơn, đốt hương hoa cung kính mà
lập thệ nguyện”25. Bắt đầu từ đây pháp môn Tịnh độ
Di-đà được lưu hành tại Trung Quốc. Thiền sư Tăng Hiển
trước tiên gặp ngài Huệ Viễn, do tu tập thiền định, thấy
đức Phật A-di-đà mà được vãng sanh Cực lạc. Như Cao tăng
truyện quyển 11 nói: “Ngài Tăng Hiển họ Truyền, người
ở phương Bắc, kiên trì khổ hạnh giữ gìn thiện giới,
chỉ ăn rau mà tụng kinh và thiền định. Đến cuối đời
nhà Tấn niên hiệu Thái Hưng (năm 321), ngài xuôi về nam dừng
lại Giang Tả26, rồi trải qua nhiều nơi núi non hùng vĩ vì
sự nghiệp tu tập của mình. Sau bị bệnh ốm nặng, ngài
luôn tâm niệm tưởng nhớ đến Tây phương nên chịu đựng
được sự đau đớn. Khi thấy chân dung đức Phật Vô Lượng
Thọ giáng xuống, hào quang chiếu khắp cả thân, các khổ
đều biến mất… đến lúc bình minh tọa thiền liền hoá”27.
Ngài
Tăng Hiển tuy ở trong thiền định thấy đức Phật A-di-đà
mà được vãng sanh, nhưng tông phong chơn chánh niệm Phật
Di-đà cầu vãng sanh Tịnh độ, chính là do ngài Huệ Viễn
khai sáng Bạch liên xã ở Lô Sơn. Từ đó tông phái Tịnh
độ ở Trung Quốc lưu hành đến nay, ngài Huệ Viễn từ xưa
đến nay được tôn xưng là Sơ tổ của tông phái Tịnh độ.
Sau đến đời Lưu Tống, tín ngưỡng Tịnh độ dần dần
được truyền bá ở các nơi, kinh Vô lượng thọ v.v… cũng
được giảng giải và lưu hành, thánh tượng đức Phật A-di-đà
cũng được xây dựng.
Đến
đời Bắc Ngụy Tuyên Võ Đế, thì có ngài Bồ-đề-lưu-chi
đến Lạc Dương (508) dịch được bộ “Vô lượng thọ kinh
Ưu-bà-đề-xá nguyện sanh kệ”28. Tiếp đến có ngài Đàm
Loan chú giải và y vào bộ Thập trụ Tỳ-bà-sa luận, nói
về sự khó hành đạo và dễ hành đạo. Ngài chủ trương
là bổn nguyện tha lực, khai sáng và xiển dương bổn nghĩa
của tông phái Tịnh độ. Trước ngài Đàm Loan thì có ngài
Huệ Viễn v.v… niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, nương vào
Bát-nhã tam-muội, ở trong thiền định mà có niệm Phật,
đến ngài Đàm Loan mới chuyên trì danh niệm Phật mà cầu
sanh Tịnh độ.
Đại
sư Đàm Loan là người sinh ở Nhạn Môn (nay tỉnh Sơn Tây)
vào năm đầu niên hiệu Thừa Minh, Hiếu Văn Đế đời Hậu
Ngụy (năm 476).
Ngài
xuất gia năm 15 tuổi, học rộng thông hiểu các kinh điển
nội ngoại và tứ luận29, có thể nghiên cứu khám phá Phật
tánh, muốn chú giải và kết tập Đại tạng kinh, nhưng đến
nữa chừng thì phát bệnh. Ngài cảm thấy thân mạng này vô
thường, trước tiên ngài muốn học phép tiêu thuật, trường
sanh bất tử, sau mới nối giỏi tông phong Phật giáo. Vào
đời nhà Lương năm Đại Thông, nghe ở Giang Nam có một vị
tiên giỏi phép, tên là Đào Hoằng Cảnh, ngài liền đi đến
đó, được đạo tiên đưa cho 10 quyển kinh. Ngài định tìm
đến một ngọn núi yên tĩnh để tu luyện phép thuật, nhưng
đi đến Lạc Dương thì gặp Tổ Bồ-đề-lưu-chi từ Thiên
Trúc đến.
Ngài
Đàm Loan tham vấn:
“Ở
trong Phật pháp có phương pháp nào thù thắng hơn phép thuật
trường sanh bất tử của Tiên kinh không ?”.
Tổ
Bồ-đề-lưu-chi đáp :
“Ở
đây làm gì mà có phép trường sanh bất tử, dù cho có phép
trường sanh bất tử đi nữa cũng không thể trọn đời thoát
khỏi luân hồi ba cõi”.
Khi
đó Tổ Bồ-đề-lưu-chi liền đưa cho ngài Đàm Loan một quyển
kinh Quán vô lượng thọ và nói: “Quyển kinh này hơn phép
đại tiên, ngài y nơi đó mà tu hành, sau được giải thoát
sanh tử”. Ngài Đàm Loan đảnh lễ và thọ trì, đốt kinh
Tiên, chuyên tu Tịnh độ, thông hiểu sự tha lực của pháp
môn niệm Phật, rồi tận lực hoằng truyền. Ngài còn trước
tác ra bộ “Vãng sanh luận chú”, trong đó nói rõ về ý
nghĩa An lạc của cõi Tịnh độ và kệ tán thán đức Phật
A-di-đà v.v…30 .
Trong
bộ “Vãng sanh luận chú” của ngài Đàm Loan là giải thích
bộ “Vô lượng thọ kinh Ưu-bà-đề-xá nguyện sanh kệ”
do ngài Thế Thân Bồ-tát trước tác, đồng thời nương nơi
bộ “Thập trụ Tỳ-bà-sa luận” của ngài Long Thọ Bồ-tát
tạo mà lập ra hai con đường Nan hành và Dị hành, để giải
thích một đời thuyết pháp của đức Phật Thích Ca Như Lai.
Trong thời đại ngũ trược ác thế không có Phật ra đời,
cầu đến Bất thối chuyển địa, ở nơi quốc độ này chuyên
cần thực hành tinh tấn, chỉ tự mình nỗ lực để chứng
được Thánh quả, như đi bộ ở trên lục đạo gian nan khốn
khổ, đó gọi là Nan hành đạo. Nhưng nếu có nhân duyên tin
Phật, phát nguyện muốn sanh về Tịnh độ, lại nương nơi
nguyện lực đại bi của Phật, có thể được vãng sanh, đồng
thời trú ở nơi nguyện lực của Phật mà nhập vào Đại
thừa Bất thối chuyển địa, như con thuyền đi trên mặt
nước thuận buồm xuôi gió, đó gọi là Dị hành đạo.
Sau
khi ngài Đàm Loan viên tịch (có hai thuyết nói về năm tháng
ngài viên tịch: 1- Vào năm thứ 4 niên hiệu Hưng Hòa, đời
Đông Tấn, Công nguyên 542, thọ 67 tuổi. 2- Ngài viên tịch
năm thứ 5 niên hiệu Thiên Bảo, đời Bắc Tề, Công nguyên
554) thì có ngài Huệ Viễn, Trí Khải (Ngải), Cát Tạng v.v…
hoằng dương truyền bá pháp môn Tịnh độ. Đồng thời đối
với sự nghiên cứu kinh văn hết sức thịnh hành, cho nên
sớ giải kinh Vô lượng thọ và kinh Quán vô lượng thọ v.v…
cùng trước thuật giáo nghĩa pháp môn Tịnh độ rất nhiều.
Ngài Huệ Viễn trước tác hai quyển: Một là Vô lượng thọ
kinh sớ, hai là Quán kinh nghĩa ký. Ngài Trí Khải trước tác
hai quyển: Một là Quán kinh sớ, hai là A-di-đà kinh nghiã ký.
Ngài Cát Tạng trước tác Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ v.v…
Đồng thời bên cạnh đó có ngài Trí Khải, Đạo Cơ, Trí
Nghiễm, Ca Tài v.v… trước tác bộ luận thư nói về thân
Phật ở cõi Tịnh độ và giải thích giáo điển của cõi
Tịnh độ. Việc làm của các ngài hỗ trợ cho nhau như sự
chan hòa màu sắc của các mùa: Mùa Xuân có hoa Lan, mùa thu
có hoa Cúc … Lúc này Địa luận tông31 và các học phái cũng
hoằng truyền pháp môn Tịnh độ mà khuynh hướng là tín ngưỡng
Tịnh độ A-di-đà.
Sau
khi ngài Đàm Loan viên tịch được 20 năm, thì có người kế
thừa hệ thống Tịnh độ, là ngài Đạo Xước vào đời
Đường. Ngài sinh ở sông Vấn Thủy, Tịnh Châu32, năm thứ
13 niên hiệu Thiên Bảo đời Bắc Tề (562). Ngài xuất gia
năm 14 tuổi, biên tập kinh luận, đặc biệt là ngài chuyên
sâu nghiên cứu kinh Đại Niết-bàn, ngài giảng giải được
24 biến. Sau đến thân cận ngài Huệ Toản ở Thái Nguyên
chùa Khai Hóa, tu hành tinh tấn quên ngày tháng, thường ở
chùa Huyền Trung núi Thạch Bích, Vấn Thủy, mà chùa này chính
do ngài Đàm Loan kiến tạo. Trong chùa có bia đá của ngài
Đàm Loan, trong bia đá ngài Đàm Loan ghi chép lại sự nghiệp
hưng thịnh tu hành pháp môn Tịnh độ, đến khi lâm chung có
các tướng tốt đẹp kỳ lạ hiện ra. Sau đó ngài Đạo Xước
thấy vậy, liền bỏ tông phái Niết-bàn mà hướng về pháp
môn Tịnh độ. Ngài ngồi mặt luôn hướng về phía Tây, mỗi
ngày niệm danh hiệu Phật A-di-đà hơn 7 vạn lần, 6 thời
lễ bái cúng dường liên tục không nghỉ. Thường ngày ngài
giảng kinh Quán vô lượng thọ trên 200 lần, dùng pháp môn
Tịnh độ để hướng dẫn mọi người, khuyên họ bỏ những
tư tưởng tạp nhiễm để trở về nhất tâm niệm Phật,
từ đó mọi người theo ngài vô số kể. Ngài có trước tác
một bộ “An lạc tập”, bộ này ngài giảng rộng và bàn
riêng về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài viết cuốn sách này
có ba mục đích:
1.
Phá trừ dị kiến tà chấp.
2.
Phá trừ sự giảng giải sai lầm của các học phái.
3.
Khai thị con đường mạc thế đối với chúng sanh.
Lúc
này Tam luận tông33 và Nhiếp luận tông34 rất hưng thịnh;
Tam luận tông thì lấy nguyện sanh Tịnh độ làm “Thủ tướng”,
còn Nhiếp luận tông đối với Quán kinh v.v… lấy hàng phàm
phu phát nguyện vãng sanh Tây phương làm “Biệt thời ý thuyết”,
nên gây trở ngại việc truyền bá pháp môn Tịnh độ. Vì
vậy ngài Đạo Xước viết ra cuốn sách này để phá trừ
kiến giải của hai tông phái đó. Trong tập đó nói: “Đại
thừa vô tướng vô niệm, không bên này, không bên kia. Nếu
nguyện sanh Tịnh độ lại càng thêm dính mắc, há chẳng phải
chỗ dụng cầu hay sao ?
Đáp:
Những điều suy nghĩ như trên không phải như vậy, vì sao
? Vì tất cả chư Phật nói pháp đều đầy đủ hai nhân duyên:
Một là y nơi pháp tánh thật lý; hai là phải thuận theo nhị
đế. Người kia nghĩ Đại thừa vô niệm nhưng nương nơi
pháp tánh mà bàng duyên vô cầu, tức là không thuận theo Nhị
đế, như ở đây thấy người đoạn diệt mà không tiếp
nhận. Cho nên kinh Vô thượng y nói :
“Phật
bảo A-nan, nếu tất cả chúng sanh khởi lên ngã kiến lớn
như núi Tu di thì Ta không sợ, vì sao ? Vì họ tuy chưa được
xuất ly, nhưng không hoại nhân quả không mất quả báo. Còn
nếu họ khởi lên không kiến (tà kiến) như hạt cải, thì
Ta không kể đến, vì sao ? Vì hạng người này phá hoại nhân
quả đọa trong ác đạo, đời sau nếu họ sanh ở xứ nào
ắt được Ta hóa độ”. Nay khuyên hành giả rằng, lý tuy
vô sanh nhưng mà đạo lý Nhị đế chẳng phải không có duyên
cầu; tất cả đều được vãng sanh.
Do
đó kinh Duy-ma-cật nói: “Tuy quán sát quốc độ chư Phật
và chúng sanh là không mà thường tu Tịnh độ để giáo hoá
chúng sanh. Lại nói: ‘Tuy hành vô tác chỉ hiện thọ thân
là hạnh Bồ-tát; tuy hành Vô khởi mà khởi tất cả hạnh
thiện đó là hạnh Bồ-tát’. Đó là chứng chơn”.35 Cho
nên ngài Đạo Xước đối với Tam luận tông lấy “Nguyện
sanh Tịnh độ” làm Thủ tướng để đả phá. Đối với
học giả Nhiếp luận tông lấy “Hàng phàm phu phát nguyện
vãng sanh Tây phương” đả phá Biệt thời ý thuyết. Ở trong
“Quán Kinh” Phật nói: “Chúng sanh hạ phẩm hiện tạo trọng
tội, khi lâm chung gặp thiện trí thức, hành thập niệm (niệm
Phật) tức được vãng sanh”. Y nơi Nhiếp luận, ý đức
Phật nói là Biệt thời ý ngữ. Từ xưa đến nay các học
phái Thông luận nói: “Hành thập niệm (niệm Phật) chỉ
gieo nhân vãng sanh nhưng chưa vãng sanh là vì sao ? Luận giải
thích: Như người có một đồng, buôn bán hoa lợi lên một
ngàn đồng, chẳng phải trong một ngày mà được”. Cho nên
nói là Biệt thời ý ngữ. Theo lối giải thích ở đây thì
chưa rõ ràng lắm. Vì hàng Bồ-tát tạo luận để giải thích
kinh, đều muốn phò trì ý Phật khế hợp với Thánh tình,
nếu luận văn trái với kinh thì không có chuyện đó. Biệt
thời ý ngữ là khi đức Phật thường thuyết pháp đều nói
rõ nhân trước quả sau, lý số rõ ràng. Trong kinh này nói,
một đời tạo tội, đến khi lâm chung hành thập niệm thành
tựu tức được vãng sanh; không luận người đó có gieo nhân
hay không gieo nhân ở quá khứ, đức Thế Tôn vẫn tiếp dẫn
những người tạo ác đó. Hoặc giả, lúc lâm chung bỏ ác
hành thiện niệm Phật mà vãng sanh, là người này đã có
tác duyên đời trước, cho nên đức Thế Tôn nói ở đây
là ẩn đầu bày cuối, không nói nhân chỉ đàm luận quả,
nên gọi đó là Biệt thời ý ngữ. Vì sao hành thập niệm
(niệm Phật) mà được thành tựu ? Vì có nhân ở quá khứ.
Trong
kinh Niết-bàn nói: “Nếu có người ở quá khứ đã từng
cúng dường nửa hằng hà sa số chư Phật, lại phát nguyện
ở trong đời ác trược nghe một số kinh Đại thừa, không
cần bàn đến, người đó chưa đủ công đức. Nếu có người
cúng dường một hằng hà sa số chư Phật, lại phát nguyện
đời sau nghe tất cả kinh Đại thừa, chẳng cần bàn luận
cũng biết được người này luôn được sự an lạc và tôn
kính.” Nếu nương theo các kinh chưa thể nghiệm được, phải
biết rõ hành thập niệm thành tựu chính là nhờ nhân ở
quá khứ không sai. Người không có nhân quá khứ tốt đẹp
thì hiện tại không gặp được bậc thiện trí thức, huống
gì là thành tựu mười niệm. Luận nói: “Như người có
một đồng, buôn bán hoa lợi lên một ngàn đồng chẳng phải
trong một ngày mà được; nên căn cứ theo ý Phật thì Ngài
muốn cho chúng sanh tích chứa cho nhiều nhân thiện sau mới
được vãng sanh. Nếu theo luận chủ, quá khứ không gieo nhân
(quả không thành tựu), lý ở đây cũng không sai lệch. Giải
thích như vậy, trên thuận với kinh Phật dưới hợp với
ý luận, chính là kinh luận hỗ trợ lẫn nhau thì đối với
niệm Phật vãng sanh mới thông, không có trở ngại”36. Đây
chính là đã phá học phái Nhiếp luận, lấy phàm phu vãng
sanh Tây phương là chủ trương của Biệt thời ý thuyết,
nhấn mạnh hàng phàm phu hành thập niệm thành tựu liền được
vãng sanh Tịnh độ. Cho nên ngài Đạo Xước cùng các vị
tiền bối như: Ngài Huệ Viễn, Trí Ngãi, Cát Tạng … đều
biết rõ, nếu Phật thân Phật độ của đức Phật A-di-đà
làm Hóa thân Hóa độ, là trở ngại cho hàng phàm phu nhập
vào con đường Báo độ. Nên các ngài làm ra bộ luận thư
này để đối đáp và phá trừ. Như bộ An lạc tập dùng
để đối đáp câu hỏi về thân và quốc độ của đức
Phật A-di-đà.
Hỏi:
“Hiện nay thân đức Phật A-di-đà như thế nào? Quốc độ
Cực lạc của Ngài ra sao?
Đáp:
“Hiện nay thân đức Phật A-di-đà là Báo Phật; nước Cực
lạc trang nghiêm của Ngài là Báo độ. Nhưng từ xưa đã cho
rằng, đức Phật A-di-đà là Hóa thân, quốc độ của Ngài
là Hóa độ, đây là một điều sai lầm lớn. Dù cho các Ngài
ở Uế độ hay Tịnh độ cũng là chỗ Hóa thân của các ngài.
Bởi vì chúng ta chưa biết rõ Báo thân của Như Lai nương
vào quốc độ nào”.37 Do đó, ở đây chứng minh rõ Phật,
Thân và Quốc độ của đức Phật A-di-đà ở cõi Tịnh độ
là Báo thân và Báo độ.
Thời
đại mạc pháp, chúng sanh chưa thoát khỏi con đường sanh
tử, lại không tin theo pháp môn Tịnh độ, cho nên mục đích
các ngài trước tác bộ luận thư này để phổ biến khai
thị pháp môn Tịnh độ cho chúng sanh. Ngài Đạo Xước kế
thừa giáo lý tông chỉ của ngài Đàm Loan, chủ xướng y nơi
nguyện lực của đức Phật mà được vãng sanh Tịnh độ.
Đồng thời nương nơi bộ Vãng sanh luận chú của ngài Đàm
Loan mà lập ra hai con đường Nan hành và Dị hành. Trong bộ
An lạc tập cũng phân ra hai môn Thánh đạo và Tịnh độ.
Nói cõi này nhập vào Thánh mà đắc quả gọi là Thánh đạo
môn; còn vãng sanh về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà
chứng Thánh đắc quả gọi là Tịnh độ môn. Sau có vị đệ
tử kế thừa ngài Đạo Xước, hoằng truyền pháp môn Tịnh
độ, đó là ngài Thiện Đạo.
Căn
cứ vào “Phật tổ thống ký” quyển 26 nói: Không biết
ngài Thiện Đạo người xứ nào, nhưng vào năm Trinh Quán,
đời Đường Thái Tông, ngài cầu đạo khắp nơi, khi đến
Tây Hà gặp thiền sư Đạo Xước, ở trong đạo tràng Cửu
Phẩm nghe giảng về kinh “Quán vô lượng thọ”, quá vui
mừng mà thốt lên: “Đây mới thật sự vào cửa Như Lai!
Ta tu hành bao năm nay không thành, nay gặp pháp môn này chắc
chắn thoát ly sanh tử.” Vì thế ngài hết lòng tinh tấn khổ
hạnh, như cứu lửa ở trên đầu, ngày đêm lễ tụng thực
hành niệm Phật tam-muội, chuyên tu sự nghiệp Tịnh độ.
Sau
Ngài đến Trường An thuyết pháp, giáo hóa tứ chúng. Mỗi
lần ngài nhập thất, hành trì tinh tấn trang nghiêm, quỳ gối
niệm Phật hết sức chuyên chú không nghỉ. Tuy thời tiết
lạnh mà cũng đổ mồ hôi, khi ra khỏi thất ngài thuyết giảng
pháp môn Tịnh độ. Hơn 30 năm ít khi ngủ nghỉ, chỉ lấy
Bát-nhã để hành đạo, làm phương tiện lễ Phật, hộ trì
giới phẩm trong sạch không phạm. Sao chép kinh Di-đà được
mười vạn quyển, vẽ cảnh biến tướng Tịnh độ được
ba trăm bức. Đi đến đâu thấy chùa, tháp hư hoại ngài đều
kiến tạo và xây dựng lại. Hạnh nguyện “Truyền đăng
tục diệm” (đèn Pháp tiếp sáng) muôn dời bất tuyệt. Trường
An là một vùng đạo tục, được ngài hóa độ không thể
tính hết. Mỗi ngày thời khóa tụng kinh Di-đà có mười vạn
hoặc năm mươi vạn người, niệm Phật một vạn biến cho
đến mười vạn biến. Trong lúc này có người nhập vào niệm
Phật tam-muội mà đựơc vãng sanh Tịnh độ vô số kể.
Có
người hỏi: “Niệm Phật sanh Tịnh độ được chăng?”.
Ngài Đạo Xước trả lời: “Như ông có niệm thì như ý
nguyện”. Nếu ai niệm danh hiệu Phật một lần, liền trong
miệng phát ra hào quang hoặc niệm mười cho đến một trăm
danh hiệu đều có hào quang từ trong miệng phóng ra. Cho nên
ngài khuyên mọi người niệm Phật, đồng thời làm bài kệ
:
Dần
dà tóc điểm sương rơi
Da
nhăn, gối mỏi, quãng đời thoáng qua
Ngọc
ngà, châu lụa của ta
Và
bao lạc thú hoá ra mộng trường
Làm
sao tránh khỏi vô thường
Sanh
già bệnh tử nửa đường hư vô
Tu
hành niệm chữ Nam mô
A-di-đà
Phật sớm mà vãng sanh.
Về
sau, một hôm ngài nói với mọi người rằng: “Thân này thật
chán, ta sắp về Tây phương”; bèn đốt đèn, dâng hương
hướng về phía Tây mà phát nguyện: “Nguyện xin Phật tiếp
độ con, Bồ-tát hỗ trợ cho con, giúp con có chánh niệm để
được sanh về An lạc quốc.” Phát nguyện xong liền xả
bỏ thân. Khi đó vua Đường Cao Tông nghe ngài niệm Phật trong
miệng phát ra ánh sáng, trang nghiêm xả thân, nên vua sắc tứ
ngôi chùa của ngài là Quang Minh Tự.38
Lại
có một thuyết nói rằng: “Ngài Thiện Đạo là người Lâm
Truy, thường tham cứu trong Đại tạng kinh, khởi niềm tin
chọn được kinh “Quán vô lượng thọ Phật”. Từ đó trở
về sau ngài chuyên tâm niệm Phật, tu Thập lục diệu quán39.
Sau đến Lô Sơn thấy di tích pháp sư Huệ Viễn, bỗng nhiên
tâm tư minh mẫn và ngài ẩn dật tại núi Chung Nam, tinh chuyên
tu Bát-chu tam-muội40. Từng ở trong định thấy lầu báu ao
ngọc dường như ở trước mắt. Sau đó ngài đến Tấn Dương
(nay tỉnh Sơn Tây), theo hầu thiền sư Đạo Xước và được
truyền dạy kinh Vô lượng thọ, mỗi lần ngồi thiền ngài
thường nhập định trải qua nhiều ngày. Có một lần ngài
xin cùng thiền sư Đạo Xước nhập định, thấy ngài Đạo
Xước không có thể vãng sanh và biết được thiền sư Đạo
Xước đang còn mắc ba tội. Ngài đem sự việc này trình lên
thiền sư Đạo Xước, khiến cho thiền sư phải tu sám hối.
Sau đó ngài lại nhập định biết được ba tội của thiền
sư đã hết. Xuất định ngài thưa với thiền sư Đạo Xước
rằng: “Thưa thầy tội của thầy đã hết, hào quang trắng
chiếu đến, thầy sẽ được vãng sanh”. Về sau ngài Thiện
Đạo đến Trường An hóa độ, mọi người qui y theo ngài
rất đông.41
Ngài
Thiện Đạo ()và ngài Thiện Đạo()
một người hay hai người? Theo thuyết từ xưa đến nay và
hệ thống Tịnh độ tông Nhật Bổn đều công nhận Ngài
là một người. Nhưng cho đến nay ngài Thiện Đạo một người
hay hai người cũng chưa rõ.
Ngài
Thiện Đạo lấy hạnh nghiệp vãng sanh Tịnh độ phân làm
hai loại, đó là Chánh hành và Tạp hành.
Chánh
hành là chuyên nương vào thánh điển Tịnh độ để tu hành
mà vãng sanh. Chánh hành cũng chia ra làm 5 loại :
1.
Đọc tụng Chánh hành: Là chuyên đọc tụng ba bộ kinh của
Tịnh độ (Quán vô lượng thọ kinh, A-di-đà kinh, Vô lượng
thọ kinh) v.v…
2.
Quán sát Chánh hành: Là trong tâm luôn luôn từng giờ từng
phút tư duy quán sát, nhớ tưởng y báo, chánh báo và sự trang
nghiêm của cõi Tịnh độ Di-đà.
3.
Lễ bái Chánh hành: Là chuyên tâm lễ bái một đức Phật
A-di-đà.
4.
Xưng danh Chánh hành: Là nhất tâm niệm danh hiệu đức Phật
A-di-đà.
5.
Tán thán cúng dường Chánh hành: Là chuyên tán thán cúng dường
sự trang nghiêm cõi Cực lạc Tịnh độ của đức Phật A-di-đà.
Năm
loại Chánh hành này còn phân ra làm hai loại: Chánh định
nghiệp và Trợ nghiệp.
Chánh
định nghiệp là nhất tâm chuyên niệm danh hiệu đức Phật
A-di-đà, niệm mãi không dứt, chính là xưng danh Chánh hành
thứ tư ở phần trên.
Trợ
nghiệp là lễ bái, đọc tụng v.v… đó Chánh hành thứ nhất,
thứ hai, thứ ba, thứ năm ở trên.
Tạp
hành là ngoại trừ Chánh định nghiệp và Trợ nghiệp ra,
còn tất cả đều là Chư thiện vạn hạnh. Bỏ Tạp hành
mà quay về Chánh hành, ở trong Chánh hành, chuyên tu Chánh nghiệp,
bên cạnh tu Trợ nghiệp, xưng danh hiệu Phật, kỳ vọng được
vãng sanh, đây chính là pháp môn hành trì của tông phái này.
Do đó ngài Đàm Loan trước tác bộ “Vãng sanh luận chú”
và lập ra hai con đường Nan hành và Dị hành là trên hết.
Đồng thời ngài Đạo Xước ở trong bộ An lạc tập, cũng
lập ra phán giáo (sự phân chia bình nghị về Phật học) một
cách rõ ràng về Thánh đạo môn và Tịnh độ môn cho đến
nay. Cho nên nền móng của giáo nghĩa Tịnh độ rất là vững
chắc và tông phái Tịnh độ được hình thành lớn lao.
Hệ
thống Tịnh độ của ngài Thiện Đạo, mục đích hướng
tới phàm phu vãng sanh. Vì cho rằng Tam bối cửu phẩm (ba bậc
chín phẩm) đều là phàm phu ngũ trược, phải nhờ đại bi
nguyện lực của đức Phật tiếp dẫn phàm phu vãng sanh. Nếu
chỉ tự mình nỗ lực tinh tấn tu học, hy vọng có thể đoạn
Hoặc chứng Lý (bỏ mê chứng đạo), thì dù hàng Thánh giả
Nhị thừa và Địa tiền Bồ-tát (Sơ địa Bồ-tát) cũng không
được sanh về Báo độ và không thấy được Báo Phật. Nhưng
nếu ở trong pháp môn Tịnh độ, nhờ tha lực và bổn nguyện
của đức Phật A-di-đà, tuy hàng phàm phu còn một chút phiền
não chưa đoạn, cũng được cùng Địa thượng Bồ-tát (địa
vị Bồ-tát) đồng nhập vào Chơn thật vô lậu, thấy được
Báo độ và Báo Phật. Cho nên ngài Thiện Đạo cùng ngài Huệ
Viễn, Trí Ngãi, Cát Tạng v.v… đối với ý kiến của pháp
môn Tịnh độ Di-đà này, có sự trái ngược rất nhiều.
Nói về giáo thuyết thì tự lực và tha lực có khác nhau;
nói về căn cơ hàng phàm phu cùng bậc Thánh cũng bất đồng.
Còn Ứng Phật ứng độ và Báo thân Báo độ cũng sai biệt.
Ngài Huệ Viễn v.v… đều theo thuyết tự mình nhập định
nỗ lực tu trì được vãng sanh, lấy Quán kinh cửu phẩm thông
cho cả phàm lẫn Thánh, chọn Vi-đề42 làm Thánh giả, lấy
đức Phật A-di-đà làm Ứng thân ứng độ, lấy tha lực làm
tự lực. Lấy phàm phu làm bậc Thánh, lấy Báo Phật Báo độ
làm Ứng Phật Ứng độ. Ý kiến của ngài Thiện Đạo thì
khác với các ngài khác. Chủ trương của ngài là nhờ đại
bi nguyện lực của đức Phật mà được vãng sanh, Cửu phẩm
đều là của phàm phu. Lấy thành lập phàm phu nhập vào Báo
độ làm ý nghĩa; lấy hình ảnh Vi-đề tượng trưng phàm
phu đủ phiền não và lấy cõi Tịnh độ của đức Phật
A-di-đà làm Báo thân báo độ. Ngài Thiện Đạo lấy Giáo
là tha lực, lấy Căn cơ là phàm phu, lấy Phật thân Phật
độ làm Báo thân Báo độ. Chỉ bày giáo thuyết tha lực mà
giúp hàng phàm phu được vãng sanh Báo độ. Ở đây phán quyết
giáo nghĩa Tịnh độ Di-đà chẳng phải vấn đề tranh luận
kích động.
Tông
phái Tịnh độ Trung Quốc đời Đường, được hình thành
ba hệ thống lớn. Một là hệ thống pháp sư Huệ Viễn tại
Lô Sơn, hai là đại sư Thiện Đạo, ba là hệ thống Tam Tạng
Từ Mẫn.
1.
Hệ phái của ngài Huệ Viễn: Chủ trương niệm Phật của
ngài Huệ Viễn là một loại niệm Phật “Quán tưởng”,
tức là nhập tam-muội, thấy Phật được vãng sanh. Ngài Huệ
Viễn y theo Kinh Bát-chu tam-muội, thành lập hội Bạch liên
xã, xây dựng một hệ phái Tịnh độ trên núi Lô Sơn tại
Trung Quốc. Đồng thời tập trung các vị Hiền giả thanh tín
sĩ43, tinh chuyên tu tập niệm Phật tam-muội, hy vọng thấy
được đức Phật mà vãng sanh. Hệ phái này đều lấy tri
thức làm chủ, cho nên Tịnh độ quan của họ (đặc biệt
là Pháp sư Tịnh Ảnh) lấy Tịnh độ làm Ứng độ, lấy
Tịnh độ làm chiêu cảm nghiệp báo. Nhưng về sau hệ thống
phái Duy thức … đều lấy “Biệt thời ý thuyết” của
Tịnh độ Di-đà làm chỗ phương tiện. Trên phương diện
Tịnh độ quan của Tam Luận, Thiên thai, Duy thức v.v… đều
giống như vậy.
2.
Hệ phái của ngài Thiện Đạo: Người khai sáng đầu tiên
là ngài Đàm Loan, mà ngài Đàm Loan thọ giáo ngài Bồ-đề-lưu-chi.
Còn ngài Đạo Xước là người kế thừa sự truyền thừa
của ngài Thiện Đạo. Đại sư Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện
Đạo tư tưởng bổn nguyện hoằng dương truyền bá là theo
thuyết “Dị hành đạo” trong bộ luận “Thập trụ Tỳ-bà-sa”
của ngài Long Thọ. Chủ trương “xưng danh niệm Phật” là
đồng tình với thuyết hàng phàm phu có thể vãng sanh Báo
độ. Do hệ phái này có pháp tu “xưng danh niệm Phật” dễ
dàng nên mọi người tín ngưỡng rất đông. Tuy tông phái
này ở trên núi cao hẻo lánh, nhưng lại phổ biến hình thành
một nền tảng hiện thực cho xã hội. Bên cạnh đó đối
với cuộc sống tinh thần mọi người, phái này cũng cống
hiến rất lớn lao, đây là một đặc chất của phái này.
3.
Hệ phái ngài Từ Mẫn: Hệ phái này của ngài Tuệ Nhật (Tam
Tạng Từ Mẫn) từ Ấn Độ truyền sang. Đương thời thấy
các Đại đức Thiền tông kiến giải ngộ nhận: Tịnh độ
tông là người dẫn đạo ngu muội với thuyết “phương tiện
hư vọng”. Cho nên ngài Tuệ Nhật phản đối kịch liệt
với loại học thuyết này. Vì thế ngài đề xướng thành
lập chung một phái, Thiền Tịnh song tu, niệm Phật vãng sanh.
Tư tưởng của ngài Tuệ Nhật là một loại tư tưởng Phật
giáo tổng hợp. Ngài chủ trương Giới (luật) Tịnh song hành,
Thiền Tịnh song tu, Giáo Thiền nhất nguyên, lấy tất cả
phương tiện qui về một hướng vãng sanh Tịnh độ. Tư tưởng
niệm Phật vãng sanh của ngài là theo thuyết Vạn hạnh (làm
muôn việc thiện đều vãng sanh), xưng danh niệm Phật là điểm
trọng tâm của thuyết Vạn hạnh. Chủ thuyết hàng phàm phu
xưng danh niệm Phật được vãng sanh Tịnh độ, thì giống
như ngài Thiện Đạo, nhưng ngài chủ trương Sự Lý viên dung,
Giáo Thiền hợp nhất, lại không giống ngài Thiện Đạo.
Tư Tưởng của ngài Tuệ Nhật, đối với Phật giáo Trung
Hoa ảnh hưởng rất lớn. Và các tông phái Tinh độ vào thời
đại như: Tống, Nguyên, Minh, Thanh không ai không thọ giáo
ảnh hưởng tư tưởng của ngài.
Tịnh
độ tông tuy đứng trên phương diện có ba phái bất đồng,
nhưng tinh thần căn bản chỉ có một. Đều lấy căn bản
niệm Phật vãng sanh Tịnh độ làm gốc. Đồng thời niệm
Phật để thấy Phật, ly khổ được an và mục đích giải
thoát sanh tử.
Tịnh
độ tông thời đại nhà Đường, người đầu tiên là ngài
Đạo Xước, rồi đến ngài Thiện Đạo, dốc lòng hoằng
dương Tịnh độ. Sau đó tiếp tục kế thừa có các tiền
bối xuất chúng như ngài Tuệ Nhật, Thừa Viễn, Pháp Chiếu,
Ca Tài, Hoài Cảm, Đại Hành, Thiểu Khanh v.v… những vị ấy
sớ giải hoặc trước thuật, xiển dương giáo nghĩa Tịnh
độ. Lại có những vị Cao tăng thuộc nhiều tông phái như
ngài Pháp Thường, Trí Nghiễm, Đạo Tuyên, Đạo Thế, Huyền
Trang, Khuy Cơ v.v… những vị ấy cũng xiển dương trước
thuật giáo lý Tịnh độ. Cho nên tín ngưỡng Tịnh độ vào
đời Đường hết sức là hưng thịnh, phổ biến các tông
và lưu truyền cả nước.
Triều
đại nhà Đường, các vị Đế vương đều tôn sùng tín ngưỡng
và ủng hộ Phật giáo, cho nên Phật pháp rất hưng thịnh.
Đến đời Võ Tông (năm 841), vì thuở thiếu thời ông ta không
thích Phật giáo, sau khi lên ngôi, Phật giáo bị pháp nạn,
trở thành phi giáo. Phật giáo gặp nhiều khó khăn đến nỗi
có thể diệt vong. Sau Võ Tông băng hà, vua Tuyên Tông lên kế
vị (năm 847), Phật giáo mới được khôi phục. Nhưng lúc
này là cuối đời Đường, thế lực quốc gia suy giảm dần,
sự hưng thịnh của Phật giáo cũng bị ảnh hưởng không
như ngày xưa. Lại vào thời Ngũ Đại trên 50 năm (từ năm
907 đến 960), Vương triều đổi thay, chiến tranh loạn lạc,
Phật giáo chìm trong binh đao khói lửa. Chùa chiền đổ nát,
kinh sách thất lạc, Phật giáo chỉ hưng thịnh vào đời Tuỳ,
Đường khoảng 300 năm, cho đến nay đã suy tàn không thể
tả được. Trừ Thiền tông còn hưng thịnh một chút, ngoài
các Tông phái lớn nhỏ, đều tan thương mất mát. Tín ngưỡng
Tịnh độ cũng theo nơi đây mà giảm sút không có hưng thịnh
cho lắm. Cuối đời Ngũ Đại Phật giáo lại gặp bẩm tính
xấu xa của vua Chu Thế Tông (năm 954). Sau khi lên ngôi vị
vào năm thứ hai niên hiệu Hiểu Đức, Chu Thế Tông ra sắc
lệnh cấm độ Tăng, Ni, phế bỏ các chùa chiền, hủy bỏ
tượng đồng, tịch thu các loại chuông, khánh, linh về đúc
tiền, đây cũng là một thời kỳ pháp nạn. Thời đại Đường
các vị cao đức các Tông phái trước tác kinh sách rất nhiều,
nhưng gặp lúc đại pháp nạn, mất mát rất lớn, Phật giáo
gần như diệt tận. Chỉ có nước Ngô Việt44 ở phương nam,
có vua Tiền Lưu và Tiền Thúc trải qua nhiều đời sùng tín
Phật giáo. Đặc biệt vua Tiền Thúc từng ngưỡng mộ việc
làm của vua A-dục xây dựng kiến trúc tạo tháp, nên ông
ta lấy vàng bạc, đồng, thủy tinh, kim cương xây dựng tám
vạn bốn ngàn bảo tháp. Rồi sai xứ giả đến Nhật, Cao
Ly thỉnh kinh, Phật giáo được phục hưng, các tông bắt đầu
hưng thịnh từ đây, phần nhiều đều có thành tích. Bên
cạnh đó Pháp nhãn tông45 phát triển rất mạnh. Vả lại,
vua Tiền Thúc cũng tín ngưỡng tôn sùng phái này và xin qui
y. Vua chủ trương Thiền Tịnh song tu, mỗi ngày hành đạo
niệm Phật, vua Tiền Thúc cảm thấy sự hành trì của mình
điều cần thiết là cầu sanh Tây phương. Vua bèn xây dựng
một chánh điện trang nghiêm ở phương Tây, để thắp hương
lễ bái, thành lập ý chí, tự mình hoằng truyền lưu thông
pháp môn Tịnh độ.
Vào
thời đại nhà Tống trên 300 năm, sự hoằng truyền của phái
Tịnh độ rất hưng thịnh, dần dần đã đi vào tín ngưỡng
của người dân. Đồng thời pháp môn Tịnh độ, phần nhiều
đều nương vào Thiên Thai và các phái khác mà lưu hành. Cho
nên từ đời nhà Tống trở về sau, các tông phái như : Thiền
tông, Thiên thai, Luật tông, Hoa nghiêm tông v.v… đa số hoằng
dương pháp môn Tịnh độ. Và hình thành một loại Thai (Thiên
thai) Tịnh dung hợp, Thiền Tịnh song tu, tư tưởng Luật Tịnh
hợp một. Như ngài Vĩnh Minh Diên Thọ thuộc phái Pháp Nhãn
Tông, đề xướng thuyết Thiền Tịnh hợp hành, được đời
sau tôn xưng là tổ thứ sáu của Bạch Liên tông. Thiên Y Nghĩa
Hoài và đệ tử ngài là Tuệ Lâm Tông Bổn của phái Vân
môn tông46, đều thực hành sự nghiệp Mật Tịnh; vả lại
còn sáng tác kinh sách khuyên mọi người tu Tịnh độ. Trường
Lô Tông Di lại theo đường hướng của Bạch liên xã, xây
dựng Liên Hoa Thắng Hội, khuyến khích hàng xuất gia, cư sĩ
niệm Phật. Từ Ái, Hoài Thâm v.v… cũng kế thừa sự nghiệp
Tịnh độ. Trường Lô Thanh Liễu của phái Tào Động, cũng
chuyển pháp môn niệm Phật hướng đến Tây phương, đưa
Tịnh độ vào dân gian. Những vị đại sư vừa kể trên đều
là hành giả thực hành Thiền Tịnh song tu. Phái Thiên Thai
cùng Tịnh độ quan hệ mật thiết với nhau, cho nên hàng đệ
tử của Thiên Thai tông tu Tịnh độ để cầu vãng sanh cũng
nhiều. Đặc biệt Thần Chiếu Bổn Như đệ tử ngài Tứ
Minh Tri Lễ phát huy Tịnh độ rất thịnh. Bổn Như cũng hâm
mộ phái Lô Sơn, kết Bạch liên xã, và vua Nhân Tông cũng
khâm phục, kính ngưỡng nên sắc tứ “Bạch Liên tự”.
Luật Tông có Linh Chi Nguyên Chiếu, ngài chuyên trì tụng “Quán
kinh”, phẩm “Phổ hiền hạnh nguyện” và kết “Liên hoa
Tịnh độ niệm Phật xã”, lại khắc “Từ Mẫn tam tạng
văn tập”47 để hoằng dương Tịnh độ. Đệ tử của ngài
là Trí Giao, Tuệ Hạnh, Dụng Khâm, Hạnh Sân, Từ Mẫn, Đạo
Ngôn v.v… đều tu Tịnh độ. Hoa nghiêm tông có: Trường Thủy
Tử Tuyền, Ngũ Đài Thừa Thiên, Tấn Thủy Tịnh Nguyên v.v…;
phẩm “Phổ Hiền hạnh nguyện” là một phần của Hoa nghiêm,
cũng có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng Tịnh độ. Cho
nên các Đại đức phái Hoa nghiêm tín ngưỡng Tịnh độ rất
nhiều. Ngài Viên Trừng Nghĩa Hoà lại đề xướng Hoa nghiêm
viên dung pháp môn niệm Phật, ngoài ra ngài còn trước tác
một bộ “Hoa nghiêm niệm Phật tam-muội vô tận đăng”.
Thời đại nhà Tống, các tông phái đều hoằng dương và
chuyên tu Tịnh độ, kể cả đại sư Tỉnh Thường tổ thứ
7 Liên tông cũng vậy.
Sau
đời nhà Tống, Tịnh độ tông trở thành trung tâm tín ngưỡng
của các học phái, trải qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh
cho đến năm Dân Quốc đều như vậy. Các tông phái đều
theo tư tưởng của ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn, đồng thời
kết hợp Bạch liên xã phổ biến khuyến khích đạo, tục
niệm Phật; bên cạnh đó còn sáng tác sớ chương kinh điển,
giảng giải kinh luật, để hoằng truyền sự nghiệp Tịnh
độ, và hết lòng quyết chí quay về Tịnh độ. Mỗi ngày
mọi người đều chuyên niệm Thánh hiệu đức Phật, hành
quán lễ sám, hy vọng được vãng sanh. Triều đại nhà Minh
cũng có người hoằng dương Tịnh độ nổi tiếng là ngài
Vân Thê Châu Hoằng (Đại sư Liên Trì), Hám Sơn Đức Thanh,
Linh Phong Trí Húc (Đại sư Ngẫu Ích) v.v… Triều đại nhà
Thanh có ngài Tỉnh Am Thật Hiền, Triệt Ngộ Tế Tỉnh, trong
đó có cư sĩ Châu Mộng Nhan (An Sĩ), Bành Thiệu Thăng. Cho
đến Dân Quốc cũng có các vị Tăng, tục cùng kết xã niệm
Phật rất thịnh hành, lập Liên xã lâm. Ở Đài Loan cũng
lập ra Niệm Phật hội, Niệm Phật đoàn, Niệm Phật xã,
lại phổ biến đến các tự viện, thị trấn, thôn quê đều
tu Tịnh độ.
V.
KẾT LUẬN
Pháp
môn Tịnh độ niệm Phật là một pháp môn tu hành đặc thù
ở trong Phật pháp. Chúng ta tu học Phật pháp mục đích là
giải thoát, mà cảnh giới tối cao của giải thoát là Niết-bàn.
Niết-bàn là con đường tối hậu mà mọi người phải đi
đến, đó là lý tưởng tuyệt đối, giải thoát, an ổn, thật
tại thường trụ, bất biến. Cho nên trong kinh Niết-bàn có
nói: “Niết-bàn là giải thoát”.
Niết-bàn
là cảnh giới chơn thật của giải thoát. Ước định con
người gọi là Như Lai, ước định quốc độ tức là Phật
độ, Tịnh độ, cho nên Niết-bàn, Như Lai, Tịnh độ đều
là thật chất biểu hiện sự giải thoát. Điều quan trọng
là hiển bày sự giải thoát, vì vậy cho dù biểu hiện các
hình thức nào đi nữa, cũng không ngoài “hành trì giới luật”,
“tu học thiền quán”, “đoạn Hoặc chứng Lý” mà thôi.
Từ đó mà lập ra thứ vị tu chứng, gọi là Hành lập luận.
Đối với căn cơ của chúng sanh mà phân loại để nói, gọi
là Chủng tánh luận; hoặc nhờ thần lực của đức Phật,
nương dựa sự cứu tế của Ngài mà vãng sanh Tịnh độ,
được giải thoát, chứng quả gọi là Vãng sanh luận. Do đó
chúng ta thấy rằng, pháp môn Tịnh độ niệm Phật là một
pháp môn trọng yếu ở trong Phật pháp. Pháp môn này có từ
thời đại Phật giáo nguyên thủy, trong Tam qui, Lục niệm
mà lập ra. Cho đến Bồ-tát Mã Minh mới hoằng dương và Bồ-tát
Long Thọ lập ra con đường Dị hành. Trung Quốc tiếp tục
kế thừa cũng tự mình thành lập một tông. Mục đích của
Phật pháp là giúp cho con người được giải thoát, xưa nay
vốn không có tông phái sai biệt, nhưng vì căn cơ chúng sanh
bất đồng, tư tưởng lệch lạc, cho nên mới hình thành ra
nhiều tông phái. Tịnh độ ở Trung Quốc cũng tự thành lập
ra một tông riêng. Phật pháp lưu truyền trong xã hội ngày
nay chỉ có một pháp môn duy nhất là niệm Phật. Đại đa
số xu hướng niệm Phật, nhưng chỉ biết niệm mà không biết
đến giáo lý Tịnh độ, lại không biết Phật pháp, Vô thường
tồn tại, đây là một điểm sai lầm. Đối với thời đại
này, chúng ta muốn trấn hưng hoằng dương Phật pháp, điều
trước tiên là phá trừ quan niệm sai lầm đối với pháp
môn niệm Phật, trở lại thực hành, hoằng dương giáo lý
thực tiễn của Tịnh độ và giúp cho các tông không bị sai
lệch. Đây mới là chỉnh đốn trấn hưng Phật pháp, khế
lý khế cơ, lưu truyền trong hiện tại và tương lai; giúp
cho mọi người ở trong xã hội hiểu biết Phật pháp, thâm
nhập nghiên cứu được lợi ích. Đó mới thật nghĩa nối
dõi, kế thừa huệ mạng Như Lai, phát triển Phật giáo.