Bài
thơ là sự thu gọn của đời sống đang hoạt động, cả
ánh sáng và bóng tối, nụ cười và nước mắt, mãn nguyện
và thất vọng..., do đó nó cũng có những quy luật sống động
như chính những nguyên lý tạo ra đời sống.
Thi
sĩ nói riêng, những nghệ sĩ nói chung, và tất cả mọi người
đều đi tìm thực tại: một thế giới hài hòa (cosmos, chữ
“vũ trụ” của văn hóa Tây phương có nghĩa là hòa điệu)
nằm đâu đó đằng sau những hình tướng tầm thường hầu
như không có sự sống của cuộc đời bình thường và khô
hạn này. Chẳng hạn họa sĩ và lý thuyết gia của chủ nghĩa
hình thức Anh, Clive Bell (1881-1964) nói: “Tình cảm thẩm mỹ
tuy không tách rời với thực tại đời thường, nhưng là
cái thực tại rốt ráo, tức là bản thân thực tại, thực
tại như chính nó. Đó là thực tại cao nhất, là cái chung
trong mọi cái riêng, là cái âm điệu xuyên thấm trong mọi
vật”.
Thi
sĩ là người muốn sống đời sống thực của vũ trụ:
Là
thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ
theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để
linh hồn ràng buộc bởi muôn dây
Hay
chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.
Xuân
Diệu
Thi
sĩ là người muốn thấy và sống cái thực tại nền tảng
hòa điệu của thế giới giác quan này, nghĩa là đi tìm cái
Thật (chân), cái Đẹp (là sự hài hòa của con người với
người khác và thế giới), và đó cũng là cái Tốt (thiện,
so với một thế giới phân mảnh, xung đột, không đầy dẫy
sự sống, đó là cái xấu). Thực tại ấy với Đông phương
gọi là Đạo, với Tây phương gọi là Hữu thể (Être).
Dù
thế nào, cái thế giới, cảnh giới mà thi sĩ muốn thể hiện
và chia sẻ với người khác qua ngôn ngữ phải là cái Thật,
cho dù đó có là một cái gì hoàn toàn tưởng tượng, siêu
thực đi nữa, thì cái tưởng tượng, cái siêu thực ấy vẫn
là cái tưởng tượng và siêu thực thật. Đơn giản vì không
thi sĩ nào lại viết ra những câu thơ mà mình biết đó là
giả, dối trá; vì giả thì phải dở. Cái cảnh giới ấy
phải là cái Đẹp; dù là tả cái xấu, nhưng thi sĩ vẫn muốn
tìm ra và nói lên khía cạnh thẩm mỹ của cái xấu, cái “bản
thể” nằm sau hiện tượng xấu, và phải chăng cái xấu
vẫn có một sự hài hòa tự nền tảng với cái Đẹp? Và
cái ấy phải là cái tốt, cái Tốt theo nghĩa thẩm mỹ là
sự thỏa mãn về mặt mỹ cảm đối với thi sĩ và người
đọc. Cái thế giới, cảnh giới mà thi sĩ muốn vươn tới,
muốn tương ưng, muốn khám phá và chia sẻ (dù vươn tới
được ở mức nào, biểu lộ ở mức nào thì tùy thuộc vào
nhân cách, bản lĩnh của thi sĩ ở mức nào) với ba khía cạnh
Chân Thiện Mỹ là cái mà chúng ta thường gọi là thực tại,
siêu hình học Tây phương gọi là Thực tại tối hậu, Hữu
thể tối hậu, hình nhi thượng học Á Đông gọi là Đạo.
Thực
tại ấy có sẵn hay con người sẽ tạo thành nó bằng nhân
cách cao nhất của mình, điều đó chúng ta không bàn ở đây.
Chúng ta chỉ đưa ra một định nghĩa chung cho cả Tây phương
lẫn Đông phương, cho con người nói chung để có một ý niệm.
Một ý niệm thôi vì định nghĩa nào cũng phiến diện và
không hoàn hảo. Huống gì tuy cùng khao khát hướng về cùng
một thực tại, một hy vọng của mọi hy vọng, nhưng mức
độ thâm nhập, kinh nghiệm thực tại đó có mức độ sâu
cạn khác nhau nơi những con người khác nhau và nơi những
nền văn hóa khác nhau. Với một định nghĩa tổng quát chung
cho các nền văn hóa của Đông phương và Tây phương, thì
Đạo hay Hữu thể là tất cả những cái hiện hữu và không
hiện hữu, tất cả những cái biểu lộ và cái không biểu
lộ, tất cả những cái hữu hình và vô hình (như cái chết
là vô hình đối với con người chúng ta) trong tất cả chiều
sâu và chiều rộng của chúng.
Ở
đây chúng ta nói qua về cái biểu lộ (hiện hữu, hữu hình)
và cái không biểu lộ (không hiện hữu, vô hình). Có thể
chia làm ba cấp độ:
- Cái
biểu lộ và không biểu lộ ở cấp độ vật thể (ontique):
cái không biểu lộ là cái vật thể chưa biết, chưa thấy
nghe. Chỉ cần đến, gặp gỡ kinh nghiệm ở cấp độ giác
quan và ý thức là trở thành cái biểu lộ, cái được thấy
nghe, hiểu biết.
- Cái
không biểu lộ ở cấp độ trung gian: là cái “thần” của
sự vật hay sự việc. Các thi sĩ và những nghệ sĩ cảm thụ
được cái thần và biểu hiện nó ra thành nghệ thuật.
- Cái
không biểu lộ ở cấp độ hữu thể (ontologique): tiến lên
nữa, người ta đi vào thế giới bản thể thay vì thế giới
hiện tượng, thế giới của “tánh” thay vì thế giới của
“tướng”. Cái không biểu lộ ở đây là thể tánh của
sự vật, là hữu thể của vật thể, là đạo của đời
sống bình thường.
Như
thế, chúng ta có thể hình dung rằng con người càng tiến
hóa, càng hiểu biết thì những lãnh vực không biểu lộ càng
biểu lộ ra, cho đến mức tất cả bề rộng và bề sâu của
thế giới đều biểu lộ. Một người tiến đến mức tất
cả đều được biểu lộ, đều được hiểu biết, thuật
ngữ PG gọi là người giác ngộ và trí hiểu biết của người
đó là Nhất thiết trí trí. Qua nhận xét này, chúng ta có
thể có một định nghĩa (trong rất nhiều định nghĩa) về
thi sĩ: người cố gắng biểu lộ cái thế giới còn chưa
biểu lộ bằng phương tiện ngôn ngữ. Cái chưa biểu lộ
này Lão Tử nói là: “Nhìn không thấy gọi là Di, lắng tai
không nghe gọi Hi, cầm nắm không được gọi là Vi”. Cái
không biểu lộ ở cấp độ hữu thể, kinh Pháp Hoa gọi là
“thật tướng của tất cả các pháp”.
Trong
bối cảnh hệ thống kinh Bát Nhã, tất cả những cái biểu
lộ là “sắc thọ tưởng hành thức” và cái không biểu
lộ “không có hình tướng, vượt khỏi tư tưởng, không
có chỗ trụ” là tính Không. Và sự thật, chân lý của hệ
Bát Nhã là: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc”...
Tính Không là “thật tướng của các pháp”. Chúng ta thấy
điều này được thể hiện trong thơ họa của các nước
Đông Á như thế nào.
Với
một kiến giải như vậy, con người bị bao vây trong Đạo
(như là tất cả những gì biểu lộ và không biểu lộ trong
thật tướng của chúng) dù con người có biết hay không. Ý
kiến của các thiền sư: “Người ta ngồi trong rổ cơm mà
chết đói lu bù; người ta ở trong biển nước mà chết khát
lu bù”.
Những
chữ Đạo, Hữu thể và những chữ để chỉ thực tại tối
hậu khác thuộc về loạt những chữ xuất hiện sớm nhất
ở hai nền văn hóa Đông phương và Tây phương. Cũng tương
tự, thi ca là thể loại ngôn ngữ xuất hiện sớm nhất ở
cả hai nền văn hóa: thơ có trước văn xuôi. Thí dụ ở Hy
Lạp có những anh hùng ca Odyssé và Illiade của Homère, Bài
thơ Parménide (Poème de Parmémide) là một bản văn đầu tiên
đề cập trực tiếp đến Hữu thể. Ở Ấn Độ là thánh
ca Rig-Véda, những anh hùng ca (sử thi) Ramayana, Mahabharata, Bhagavad-gita...
Ở Trung Hoa là Kinh Thi, Đạo Đức kinh, những bài thơ của
Khuất Nguyên... Tác giả của chúng (mà chúng ta gọi là thi
sĩ) ở thuở bình minh của văn hóa nhân loại đều được
xem là những tiên tri: các bài thơ trong Cựu ước Job, Thi thiên,
Nhã ca (của vua Salomon)... Ở Ấn Độ, đó là những rishi (những
đạo sĩ nhìn thấy suốt thực tại, những người thấu thị).
Ở Trung Hoa, những bài thơ trong Kinh Thi được giảng giải
trong mối liên hệ với Đạo (như Chu Hy). Cho đến gần đây,
Rimbaud cho mình là nhà thấu thị (le voyant), thi sĩ miền Trung
Đông có tác phẩm nhà tiên tri, Tagore cũng quan niệm thi sĩ
là đạo sĩ.
Thơ
có trước văn xuôi vì thơ là tiếng nói trực tiếp, và người
làm ra thơ là người thấy trực tiếp. Có lẽ những lời
nói đầu tiên của Đức Phật sau khi giác ngộ là thơ, kệ:
“Qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Ta đã miên man
đi, đi mãi. Ta đi tìm mãi mà không gặp người thợ cất cái
nhà này... Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Như Lai đã chứng Vô sanh bất diệt và đã tận diệt mọi
sinh tử”. Những bài kệ ngộ đạo và thị tịch của những
thiền sư, những bài ca giảng đạo của Tilopa, Milarepa, Vĩnh
Gia Huyền Giác, Tuệ Trung Thượng sĩ chứng tỏ điều này.
Nhưng thơ là gì? Chỉ nói riêng truyền thống Tây phương,
thơ ca (poésie) có từ tiếng Hy Lạp poésis là sáng tạo. Những
ngành nghệ thuật khác cũng sáng tạo, nhưng có lẽ thơ không
từ đâu hết, những chất liệu của thơ không thấy được,
mà được tạo ra, cho nên thơ gần với ý nghĩa sáng tạo
hơn hết. Từ thời Platon và Aristote, thi ca và nghệ thuật
được gọi là sự mô phỏng (mimésis). Thi sĩ là người mô
phỏng, bắt chước thực tại ở mức cao nhất có thể được.
Nhưng mô phỏng phải hàm ý trước đó đã có sự phát hiện,
khám phá được, tìm thấy được. Phát hiện, kinh nghiệm
cái không biểu lộ của thế giới biểu lộ, cái mà ở đây
chúng ta gọi là thực tại - dù sự phát hiện này có mức
độ sâu hay cạn, rõ ràng hay lờ mờ là tùy vào bản lĩnh
thi sĩ - và nói ra được, mô phỏng lại được bằng ngôn
ngữ thi ca là sứ mạng của thi sĩ. Trong ý nghĩa đó, thi ca
là một sự giải thích thực tại, và chính điều này đưa
đến quan niệm “hiệu lực thanh tẩy” (carthasis), hay theo
thuật ngữ PG, “tịnh hóa”, của nghệ thuật. Thi ca là sự
truyền thông, thông tin về thực tại, do đó, thi sĩ mang dáng
dấp của người sứ giả, người đưa tin, nhà tiên tri. Trong
thần thoại Hy Lạp, thần Hermes là vị thần đưa tin, những
tin tức “định mệnh” làm thay đổi chuyển hóa cả một
đời người, làm cho con người chết đi trong thế giới tầm
thường để sống lại trong thế giới “Trời Đất Người”
mới mẻ.
Một
bài thơ đúng nghĩa là một thông điệp về sự sống, về
đời sống và do đó về hình thức và nội dung bài thơ là
một cơ thể sống. Nó là một tập hợp những vật thể có
ý nghĩa, những tương quan sống động; nó là một đời sống
thu nhỏ, tinh chất, phản ánh chính những quy cách của đời
sống. Bài thơ là sự thu gọn của đời sống đang hoạt động,
cả ánh sáng và bóng tối, nụ cười và nước mắt, mãn nguyện
và thất vọng..., do đó nó cũng có những quy luật sống động
như chính những nguyên lý tạo ra đời sống. Thế nên, về
hình thức và nội dung, bài thơ phải có tính hữu cơ, tính
hài hòa, tính tương giao phản chiếu lẫn nhau, tính nhịp điệu,
tính vận động sinh trưởng miên man, tính khai mở ý nghĩa
đến mức bao la và sâu thẳm... Những tính cách này là một
số tính cách để xác định một bài thơ “hay”, “sống”
mãi với thời gian. Thi ca và nghệ thuật được gọi là cái
được “sáng tạo” ra, bởi vì chúng phản ánh đời sống
ở mức độ sâu thẳm, mà đời sống chính là cái đang tự
sáng tạo, đang tự biến chuyển không ngừng. Thi ca được
gọi là sáng tạo vì nó mang được sự sống, thể hiện được
ý nghĩa của đời sống, ý nghĩa của thực tại đang sống
động trước mắt chúng ta. Thi sĩ là người có khả năng
phát hiện ý nghĩa của đời sống và diễn đạt ý nghĩa
ấy ra, truyền thông cho người khác biết. Thi sĩ là nhà tiên
tri của đời sống là vì thế.
Thi
sĩ là “những con ong của cái vô hình” (R.M. Rilke). Thi sĩ
là người nghe được “những bông tuyết rơi của mùa vắng
mặt” (S.J. Perse). Thi sĩ là người cảm nghiệm cái vô thường
ở tận những thế kỷ sau:
“Em
về mấy thế kỷ sau.
Nhìn
trăng có thấy nguyên màu ấy không.
Ta
đi để lại đôi dòng.
Lá
rơi có dội ở trong sương mù”
(Bùi
Giáng).
Thi
sĩ là người cảm nghiệm những sự kiện bình thường mà
quá đỗi phi thường của đời sống:
Hôm
nay có một người du khách
Ở
Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
Nguyễn
Bính
Buồn
ở sông xanh nghe đã lại
Mơ
hồ trong một tiếng chim qua
Xuân
Diệu
Anh
một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào
chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh.
Xuân
Diệu
Mưa
chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây
khế đồi cao trổ hết bông
Phạm
Công Thiện
Những
điều trên đều là những sự kiện, nhưng là những sự kiện
mang tính ý nghĩa của con người, là những ý nghĩa mang tính
ý hướng (intentionnalité, chữ của Hiện tượng luận Husserl).
Đó là những sự kiện ý nghĩa xảy ra trong và của thực
tại, xảy ra trong và của Hữu thể, xảy ra trong và của Đạo.
Như thế, phải chăng bằng cảm thụ sâu sắc và thẩm mỹ
của mình, thi sĩ đã lật ngược những sự vật bình thường,
đem chúng về đặt trong ý nghĩa uyên nguyên, trong ánh sáng
nguyên sơ của chúng? Sáng tạo là lật ngược những sự vật
của giác quan bình thường để làm hiển lộ ra mặt ẩn kín,
không biểu lộ của chúng. Thực tại thì có vô lượng nghĩa,
như bản kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa đã cho thấy. Văn
học hiện đại cũng nói đến sự đa tầng đa nghĩa của
một bài thơ, và đó là giá trị của bài thơ.
Thi
sĩ là người phát ngôn của Đời sống (hay của Hữu thể,
của Đạo). Người phát ngôn (le porte-parole) nghĩa đen là người
mang lời nói. Lời nói với truyền thống Tây phương, cụ
thể là với Heraclite, là Logos (le Verbe). Logos là lời nói,
diễn đạt, ý nghĩa hay lý tính, chân lý hay định luật, hữu
thể (Karl Jaspers giải thích). Logos là “Tất cả là Một”
(nguyên văn câu đầu tiên trong bản văn của Heraclite: “Nếu
ngươi nghe, không phải nghe ta, mà nghe Logos (lời), thì
minh triết là: Tất cả là Một”). Tóm lại, Logos là “Tất
cả là Một, Một là Tất cả”. Nếu có thể nói thêm, kiến
giải về Logos này đã đạt đến thế giới “lý sự vô
ngại”, chứ chưa đạt đến thế giới “sự sự vô ngại”
của tông Hoa Nghiêm. Chúng ta biết rằng sau Heraclite 5 thế
kỷ, thánh Jean đã dùng từ Logos này trong câu mở đầu phần
Phúc âm của mình: “Ban đầu có Ngôi Lời (Logos, le Verbe).
Ngôi Lời ở cùng Thượng đế và Ngôi Lời là Thượng Đế”.
Chúng ta cũng biết rằng trong dòng lịch sử triết học Tây
phương, biện chứng pháp (la dialectique) và cái chúng ta hay
gọi là “logic” (logique, luận lý học, hợp luận lý) đều
lưu xuất từ danh từ Logos này.
Nếu
nói trong bối cảnh của Lão Tử Đạo Đức kinh, ngôn ngữ,
lời nói là cái Đức của Đạo, vì Đức là sự biểu lộ
của Đạo. Do đó, thi sĩ chính là sự biểu lộ, cái Đức
của Đạo trong con đường ngôn ngữ. Trong ngữ cảnh của
Kinh Dịch, thi sĩ là người thấu cảm được “cái đại
đức của thiên địa”, “thấy được cái tâm của thiên
địa”, “thấy được cái tình của thiên địa vạn vật”
(quẻ Hàm, quẻ Hằng, quẻ Tụy...) và diễn đạt ra bằng
ngôn ngữ, tức là bằng một loại “văn” của Trời Đất.
Linh hồn thi ca là con rồng tinh thần và tâm linh trong quẻ
Kiến mở đầu cho 64 quẻ của Kinh Dịch.
Đối
với PG Mật thừa, một vị giác ngộ thì thân, ngữ, tâm của
vị ấy cũng được bao hàm trong ánh sáng và năng lực của
giác ngộ. Ngữ của vị ấy thấm nhuần năng lực của giác
ngộ và trở thành thần chú (mantra). Trung tâm năng lực (chakra,
luân xa) thuộc về ngữ ở cổ họng được phát huy triệt
để và lời nói trở thành năng lực, năng lực là lời nói.
Do đó, những lời pháp bằng hình thức thơ của những thành
tựu giả (siddha) được gọi là những bài ca kim cương (vajra),
những bài ca của lời kim cương. Những bài ca đó chính là
thực tại tối hậu hiện thân bằng ngôn ngữ.
Ở
Việt Nam, vào thế kỷ XVIII, Ngô Thì Nhậm viết sách Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh, phần Đại chân viên giác thanh nói
về 24 thanh. Đây là một tổng hợp Phật, Nho, Lão mà nền
tảng là Phật giáo. Nguyên thanh là nguyên ngôn, lời tiếng
nguyên thể (Logos), với 24 cách biểu hiện. Mỗi thanh đều
có mặt Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát quán sát âm thanh
mà giác ngộ. Tiếng lời nguyên thể (nguyên thanh) cũng là
tiếng lời giác ngộ (Viên Giác thanh). Trong ngữ cảnh này,
thi sĩ là người nghe được tiếng lời uyên nguyên (nguyên
ngôn, nguyên thanh) đang ở trong và của vạn vật, hữu hình
cũng như vô hình và diễn đạt chúng bằng tiếng lời của
con người với tính thẩm mỹ, nhịp điệu và hài hòa (cũng
là những tính chất của vạn vật).
Dù
có nhiều đường lối tiếp cận linh hồn của thơ, bao giờ
thơ cũng là lời thể hiện sự sáng tỏ của một con người
trước thực tại. Càng thấy rõ thực tại bao nhiêu, thi sĩ
càng có những câu thơ “bất hủ” bấy nhiêu. Càng gần
với nguyên ngôn Logos bao nhiêu, những lời tiếng, những câu
thơ của thi sĩ càng vang vọng, càng ở mãi trong trí nhớ độc
giả bấy nhiêu. Càng gần với cái Đời Sống viết hoa bao
nhiêu, thơ của thi sĩ càng sống động và càng có cuộc sống
lâu dài bấy nhiêu. Thi sĩ là sứ giả, là người mang lời
nói của Đạo và lời nói ấy hẳn là một thông điệp. Thi
sĩ là người chăn dắt cái vô hình, vô tướng. Nuôi dưỡng
cái vô hình là làm xuất lộ nó trên bình diện hữu hình
của ngôn ngữ, đó là sứ mạng của thi sĩ xét như là thiên
sứ, như là nhà tiên tri.
Cho
nên, ít nhất là với Đông phương, thi sĩ luôn luôn sống
cuộc đời tu dưỡng. Chỉ lấy thí dụ Nguyễn Du:
Ta
đọc Kim Cương cả nghìn lần
Phần
lớn yếu chỉ không rõ nghĩa
Giờ
đến dưới Thạch Đài Phân Kinh
Mới
hay “không chữ” thật chân kinh.
Có
tu dưỡng (chữ này của Nho giáo) cả đời như vậy mới có
một ngày hình tướng vật lý (physique, vật lý học, hình
tướng học) đột biến thành siêu vật lý, siêu hình học
(métaphysique, vượt khỏi vật lý, hình tướng):
Vô
ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương
tuyết tiêu thời hợp hóa long
(Không
lời, một mình đối diện cây trúc trước sân
Khi
sương tuyết tiêu bèn hóa thành rồng)
Có
thiền định thiền quán (vô ngôn độc đối) thì mới có
ngày cây trúc biến thành con rồng tâm linh, vật vô tri mới
biến thành “thật tướng vô tướng”. (Từ ngữ thật tướng
vô tướng này từ câu chuyện Thiền tông: Một hôm Đức Phật
đưa cành hoa lên, trong đại chúng chỉ có ngài Ca Diếp mỉm
cười. Đức Phật nói với ngài Ca Diếp: “Ta có Chánh pháp
nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay
phó chúc cho ông”). Có như vậy Nguyễn Du mới “Bốn thời
tâm kính tự như như”. Nếu được như vậy, hẳn ông đã
thấy được cái đẹp không lệ thuộc vào hình tướng, vượt
ngoài hình tướng. Và do đó, hình tướng nào cũng đẹp, vì
hình tướng nào mà chẳng ở trong tâm kính tự như như? Đây
có thể nói là ông đã bước vào sự sáng tạo bổn nguyên,
sự sáng tạo không cần người sáng tạo, nơi đó cái Chân,
Thiện, Mỹ và những gì gì nữa là Một.
Chỉ
từ một cuộc chuyển hóa như vậy, cái hình nhi hạ học mới
biến thành hình nhi thượng học, nói theo Nho giáo, lời nói
biến thành Nguyên ngôn (Logos), đời mới biến thành Đạo,
hay nói theo Phật giáo, sanh tử mới biến thành Niết bàn,
phương tiện (upaya) mới biến thành trí huệ (prajna). Và cũng
từ đó con người mới trở thành thi sĩ đích thực: một
con người (Nhân) sống để nối kết cho Trời và Đất (Thiên
và Địa). Thi sĩ là người chăn cừu (một ý tưởng của
Tây phương, hay nói theo Thiền tông là người chăn trâu) chăn
dắt ngôn ngữ và sự vật (vì từ đây ngôn ngữ và sự vật
là một) trên cánh đồng bao la của Hữu thể, của Đạo,
hay nói theo ngôn ngữ Phật giáo, trên cánh đồng của ánh
sáng trí huệ và nguồn nước từ bi. Chỉ từ sự tu dưỡng
đưa đến chuyển hóa, con người mới trở thành thi sĩ và
cũng hoàn thành sứ mạng làm người. Sứ mạng thi sĩ là chăn
dắt ngôn ngữ - sự vật trở về Nguyên ngôn, trở về với
Đạo.
Trong
khi khoa học kỹ thuật khai thác vật thể (vật lý học, physique)
thì thi sĩ khai thác cái vô hình, vô tướng (siêu hình học,
métaphysique). Ở đây chúng ta thấy một điểm tương đồng
với Phật giáo: hành giả là người tìm cách thấy được
cái phi tướng, cái vô tướng, điều đó kinh Kim Cương nói
là thấy Như Lai, tức là thấy thực tại tối hậu (Kiến
chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai). Sứ mạng thi sĩ
là chăn dắt ngôn ngữ, sự vật đi đến (hay trở về) chỗ
Thái Hòa (Bảo hợp thái hòa: Kinh Dịch). Trong ngữ cảnh Tây
phương, thi sĩ là người chăn dắt cuộc trường chinh Odyssée
trở về Quê hương Hữu thể. Thi sĩ là người đem cuộc phiêu
lưu của Don Kichotte (cũng là cuộc phiêu lưu của Tây phương)
đặt lại trong Quê hương Hữu thể: phiêu lưu là phiêu lưu
trong Quê hương chứ không phải là phiêu lưu không quê hương
vô vọng. Phiêu lưu ấy phải là một cuộc “du hý”, như
thuật ngữ Phật giáo để chỉ cuộc đời “phiêu lưu”
của Bồ tát. Thi sĩ là nhà huyền bí (mystique) và như Lão
Tử nói, “Huyền chi hựu huyền”, huyền rồi lại thêm huyền.
Ngày
nay, thi ca nói riêng và văn học nói chung trên thế giới đều
yếu đi vì không chú ý đến siêu hình học, hay nói theo chữ
của Đông phương, Đạo học. Và người em của nó, người
luôn luôn sát cánh giúp đỡ nó, phê bình văn học cũng vậy.
Mặc dù có đủ mọi thứ chủ nghĩa: thuyết chuyển cảm,
biểu hiện, trực giác, ngữ nghĩa học, tâm phân học, hiện
tượng luận, mỹ học tiếp nhận, giải thích học, cấu trúc
và hậu cấu trúc... nhưng những phương pháp ấy đều bỏ
quên siêu hình học hay hữu thể học, do đó mà thiếu cái
nền tảng chung cho mọi phương pháp.
Thiếu
sự tu dưỡng cần thiết, thi ca yếu đi vì không nói lên được
Đời Sống, được Thực tại. Người ta có thể đổi mới
thơ bằng những bẻ gãy hình thức, phá bỏ nhịp điệu, bằng
những thủ thuật của ngôn ngữ và ý tưởng hoặc bằng cách
đề cập khá sỗ sàng, khá “hiện thực” những vấn đề
người xưa ít bàn đến (như vấn đề tình dục), nhưng làm
sao có thể đổi mới khi con người chưa đổi mới? Làm sao
có thể tu dưỡng thi ca khi chủ thể sáng tạo thi ca là con
người chưa chịu tu dưỡng? Ở thế kỷ XVIII, Bùi Huy Bích
đã nói: “Người quân tử đời sau biết chăm chỉ học hỏi
để sửa mình rồi dần dần trở thành người có văn chương,
đó là người bậc nhất. Những người tập làm văn chương
rồi thấy được nghĩa lý trong đó, là bậc thứ hai. Còn
hạng kém nhất thì chỉ biết có văn chương mà thôi”.
Thậm
chí những lời nói của người xưa như “văn dĩ tải Đạo”,
văn để chuyên chở Đạo, cũng được hiểu theo nghĩa hình
nhi hạ học là văn để chuyên chở đạo lý (đạo lý theo
cấp độ hình nhi hạ học), để tuyên truyền, để làm sang
cho ý kiến xã hội... Văn để chuyên chở Đạo nghĩa là trong
văn luôn luôn hàm chứa Đạo, Đời sống, Thực tại. Heidegger
cũng có một câu nói tương đồng: “Ngôn ngữ là ngôi nhà
của Hữu thể”.
Chính
vì sự bỏ quên Hữu thể, bỏ quên Đạo làm cho thi ca trở
nên mất giá nhất so với những lãnh vực xã hội khác. Chính
sự vô cảm với Hữu thể, với Đạo làm cho chúng ta ngày
nay không còn được nghe những tâm tình con người mang tầm
vóc vũ trụ (tầm vóc trời đất) như của Khuất Nguyên, Lý
Bạch, Thiền sư Viên Chiếu đời Lý, Tuệ Trung Thượng sĩ
đời Trần.. Khi không còn chú ý đến Hữu thể, đến Đạo,
thơ chỉ còn là ngôn ngữ của đời thường, được sử dụng
như một đồ vật xài xong rồi bỏ đi.
Làm
sao để ngôn ngữ thơ, lời nói thi ca có thể “siêu sanh”
(hay “tái sanh”) vào bờ cõi của Thi ca, cõi Thơ, cõi Đạo?
Nguyễn
Thế Đăng (Theo Giác Ngộ)