SỐ 508 THÁNG 08 NĂM 2005 VU LAN BÁO HIẾU
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
GIỚI THIỆU 23 BÀI THƠ TIẾNG VIỆT
Lê Mạnh Thát

Như đã thấy, tác phẩm của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống chủ yếu là viết bằng chữ Hán, mà bộ Thủy nguyệt tòng sao là một thí dụ tiêu biểu. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa thiền sư đã không biết làm thơ và viết văn bằng tiếng Việt. Về văn, ta có thể thấy qua bài giảng Tứ niệm xứ đăng trên báo Viên Âm 18 (1935) 26 – 39. Về thơ may mắn chúng tôi đã tìm được 6 trang tập học sinh do chữ viết của chính thiền sư ghi lại 23 bài thơ tứ tuyệt. 

Những bài thơ tứ tuyệt này, chắc chắn không phải được dịch ra từ những nguyên bản Hán văn, như trường hợp một số các bản dịch thơ chữ Hán khác, mà thiền sư đã thực hiện trong Thủy nguyệt tòng sao. Bản thân chúng tôi cũng từng được thiền sư đọc cho nghe một số bài thơ ấy trong những năm từ 1959 đến 1962, tức thời gian chúng tôi theo thiền sư học chữ Hán tại chùa Quy Thiện. Cơ hội để nghe đọc những bài thơ ấy là vào những ngày cuối năm khi chúng tôi đến thăm và tặng quà Tết cho thiền sư. Trong không khí vui tươi chuẩn bị đón xuân, thiền sư có vẻ hoan hỷ, nên thường nói chuyện nhiều và kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm sống mà thiền sư đã trải qua. Nhân đó, thiền sư đọc cho chúng tôi nghe một ít trong số 23 bài thơ tứ tuyệt vừa nói. 

Nội dung những bài thơ tứ tuyệt này phản ảnh ít nhiều thái độ của thiền sư đối với hoạt động Phật giáo, mà ta đã thấy thiền sư bày tỏ trong Thủy nguyệt tòng sao. Chẳng hạn, vấn đề ứng phó đạo tràng trong Thủy nguyệt tòng sao đã bị phê phán mạnh mẽ qua bài Lạm xí (số 154), thì ở đây thiền sư lại lên án một cách khác mạnh mẽ không kém: 

Cửa Phật vào ra để kiếm ăn 
Mang chuông cắp mõ chạy lăng xăng 
Tam thân Tứ trí đành không biết 
Thợ tụng Thầy tu cũng một thằng 

Đọc những bài thơ loại này, ta phải hiểu bối cảnh xuất hiện của chúng vào những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, khi Phật giáo Việt Nam chuyển mình để đi vào thời hiện đại. Những người Phật tử Việt Nam thời ấy cảm thấy bức xúc không chỉ trước tình trạng trì trệ của đất nước, mà còn của chính Phật giáo Việt Nam. Do thế, họ đòi hỏi một sự cách tân Phật giáo mà đối tượng trước tiên cần xử lý không ai khác hơn là những người sử dụng Phật giáo như một nghề để kiếm sống, mà ở đây thiền sư Chân Đạo Chánh Thống  gọi là thợ tụng. Ta đã thấy khi Hội An Nam Phật học ra đời dưới sự lãnh đạo của Bác sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám, một nhiệm vụ tiên quyết được đề ra cho Hội là kiên quyết xử lý các thợ tụng vừa nói. Cho nên, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống, với tư cách là một giảng sư của Hội, tất không thể nào không lên án các đối tượng thợ tụng ấy. 

Chính nhờ sự lên án mạnh mẽ các đối tượng này, đồng thời với việc thiết lập các trường đào tạo Phật giáo, mà Phật giáo Việt Nam đã chuyển mình đi vào hiện đại một cách thắng lợi, có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giữ đạo giữ nước còn vang vọng cho tới hôm nay. Vì thế, khi đọc những bài thơ trên, ta phải trông vào bối cảnh thời đại và hiểu được tâm huyết của những  người đang giữ vai trò xoay chuyển thời thế để đưa đất nước và đạo pháp đi lên. Làm thế, ta mới thấy được ý nghĩa và vị trí của những bài thơ loại ấy. 

Phần lớn các bài của chùm thơ 23 bài này đều ít nhiều mang âm hưởng của loại thơ có tính phê phán vừa nêu. Tuy nhiên, không phải cả chùm thơ đều có âm hưởng như vậy. Mỗi độ xuân về, lòng người như trút bỏ bớt bao âu lo toan tính của đời thường, để tự mình hòa nhập và tận hưởng những vẻ đẹp của hoa tươi quả ngọt, và thấy mình như sống lại một cuộc sống mới với nhiều sắc màu thiên nhiên như bài thơ xuân sau: 

Xuân về thử hái một cành mai 
Thành kính đem dâng trước Phật đài 
Nhụy trắng hoa vàng sương vẫn đượm 
Hiện trăm ngàn vạn bóng Như Lai 

Chùm thơ 23 bài này, dù số lượng không bao nhiêu khi so với Thủy nguyệt tòng sao, nhưng thật đáng để ta trân trọng, vì chúng giúp ta hiểu thêm con người và tư tưởng thiền sư Chân Đạo Chánh Thống. 

Xem Tiếp: 
Lê Mạnh Thát 
TOÀN TẬP CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG 
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 
 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS