CÁCH
TÔN KÍNH ĐÚNG PHÁP
(Phóng
ghi từ pháp thoại của Ngài Goenka tại Tu Viện “Dharma Drum”
– Đài Loan)
Thiền
Sư S.N. Goenka, Thích Nữ Hằng Liên dịch
Khi
nhìn thấy chư Tăng - Ni xếp chân ngồi thiền định, tôi (T.Sư
Goenka) nhớ lại lời dạy của đức Phật. Một lần nọ,
Đức Phật hỏi rằng: “Như thế nào là pháp tôn kính đấng
Giác Ngộ?” Minh chứng với hình ảnh chư Tăng – Ni đang
ngồi thiền định, Ngài dạy rằng: “đây là cách tôn kính
bậc Đạo Sư.”
Theo
lời dạy của đức Phật, chỉ có thiền định mới thật
sự là chân pháp tôn kính đức Như Lai. Pháp nhủ của Ngài
là thiền định và duy trì sự tỉnh giác các hiện tượng
thân – tâm để hiểu rõ bằng thực nghiệm rằng: “các
pháp bất thiện sanh khởi, chúng tăng trưởng và chế ngự
tâm chúng ta như thế nào? Làm sao để điều phục tiến trình
này và chuyển hóa các tập khí ‘thói quen xấu’ trong tâm
chúng ta?” Đây là những gì đức Phật gọi là thiền tuệ
quán – vipassana: quán chiếu ‘bản chất pháp như thật”
(như thị), tức là tự tánh thực tại bên trong ‘thân thể’
chính mình và mối tương tác giữa thân và tâm trong từng
khoảnh khắc.
Vào
thời đức Phật Gotama, có nhiều pháp môn thiền định hiện
hành ở Ấn Độ. Các phương pháp ấy có thể đưa hành giả
chứng đắc các cảnh giới đinh thâm sâu, chẳng hạn như
các tầng thiền chứng thứ bảy và thứ tám là cảnh giới
định cao nhất mà Ngài học được từ các bậc Thầy ở
Ấn Độ thời bấy giờ. Nhưng chỉ với ‘định chứng’
(samadhi) không thể đưa Ngài tiến đến mục tiêu tối hậu
của sự giải thoát hoàn toàn, tức là giác ngộ viên mãn.
Vì vậy, khi ngồi dưới cội Bồ Đề Ngài bắt đầu quán
chiếu về sự thật bên trong ‘thân – tâm’ chính mình và
chứng đắc cảnh giới thiền tối thượng “hoàn toàn giác
ngộ.”
Sự
thật đầu tiên mà Ngài bắt đầu quán chiếu đó là dòng
hơi thở tự nhiên. Đây là thiền Anapana (thiền tỉnh giác
về hơi thở). Quan sát dòng hơi thở tự nhiên tại một điểm
nhỏ, ngay nơi tiếp xúc giữa hơi thở ra và vào của hai lỗ
mũi; dần dần tâm trở nên nhạy bén và nhạy bén hơn, vi
tế và vi tế hơn, thuần hóa và thuần hóa hơn. Với tâm thuần
hóa và nhạy bén, thiền sinh bắt đầu thực nghiệm các cảm
thọ khác nhau nơi vị trí ‘dưới mũi và trên môi’ (hay
là đỉnh nhơn trung). Rồi từ khởi điểm này thiền sinh bắt
đầu quán chiếu toàn bộ cơ cấu ‘thân thể’, từ trên
đỉnh đầu chuyển dần xuống các đầu ngón chân và từ
các đầu ngón chân chuyển dần lên trên đỉnh đầu, thực
nghiệm các loại cảm thọ khác nhau ‘hiện khởi’ trên thân.
Có các loại cảm thọ khác nhau: đôi khi là những cảm thọ
rất thô, cứng và căng thẳng, hoặc có lúc là các cảm thọ
vi tế, nhẹ nhàng dễ chịu, hay là trạng thái vô ký (trung
hòa: không đau nhức cũng không an lạc). Thiền sinh nên giữ
(tâm bình thản) quán chiếu các cảm thọ ấy một các khách
quan và không khởi tâm phản ứng theo từng cảm thọ.
Thiền
sinh bắt đầu hiểu rõ tập khí (chủng tử) phản ứng theo
bản năng của chính mình: đó là bản năng say mê và tham đắm
đối với các cảm thọ lạc (ưa thích), cũng như phản ứng
giận dữ và sân hận với các cảm thọ khổ (không ưa thích).
Nhận thức rõ sự thật này, thiền sinh sẽ cố gắng chuyển
hóa các thói quen cố hữu của chính mình. Liễu ngộ hoàn
toàn bản chất sanh diệt của mỗi cảm thọ khổ hay lạc,
thô hoặc tế, chúng sanh khởi rồi tiêu diệt. Ôi! thật là
vô thường qúa. Vì thế, vô thường (anicca) là đặc tánh
đầu tiên tương quan với thân và tâm được hiển thị một
cách rõ ràng trong thực nghiệm.
Khi
sự thật này trở nên sáng tỏ, đặc tánh thứ hai cũng sẽ
hiện khởi rõ ràng - đó là pháp ấn về khổ (dukkha). Với
thực nghiệm thiền sinh sẽ nhận thức rõ: “bất cứ khi
nào chúng ta có phản ứng say mê và tham đắm đối với cảm
thọ ưa thích, tâm ta sẽ mất trạng thái cân bằng, cảm thấy
không an vui và hài hòa. Tương tự, khi chúng ta có phản ứng
giận dữ và sân hận với cảm thọ không ưa thích; ta cũng
sẽ đánh mất trạng thái cân bằng của tâm và cảm thấy
không an vui và hài hòa. Ồ! Đây là đau khổ.”
Rồi
đặc tánh thứ ba trở nên hiển lộ rõ ràng hơn: “Cho dù
cảm thọ lạc hay khổ, chúng ta không thể nào làm chủ hay
điều phục được nó. Nếu muốn đẩy lùi các cảm thọ
khó chịu (khổ) chúng ta không thể và muốn giữ lại các
cảm thọ nhẹ nhàng khoan khoái (lạc) chúng ta cũng không thể.
Vạn vật luôn xảy ra theo như tự tánh của chính nó.” Hơn
nữa, trong thực nghiệm đặc tánh thứ ba sẽ khai thị rõ
ràng, đó là pháp ấn về vô ngã (anatta). Không có cái “Tôi”,
cái “của Tôi” và cái “tự ngã của Tôi” – tất cả
chỉ là hiện tượng luôn luôn thay đổi trong từng khoảnh
khắc. Hiện tượng thân tâm duyên khởi không có gì để gọi
“đây là Tôi” hoặc “đây là của Tôi.” Khi thiền sinh
tiếp tục hành trì ở mức độ sâu hơn, tự tánh sẽ khai
ngộ rõ ràng về hiện tượng thân tâm hoàn toàn vô ngã và
không có thực thể. Đó là ‘tánh không’ (sunnata), không
có gì để chấp thủ và nói rằng “có bản thể” hay “đây
là bản thể”. Sự thật không có bản thể nào cả.
Thiền
sinh sẽ chính mình thực nghiệm về thực tại, vì đây không
phải là thú vui lý trí. Đức Phật dạy rằng, thiền sinh
không nên chấp nhận một hình thức sùng tín hay cảm tính
nào cả. Hiện tại, thiền sinh chứng nghiệm được sự thật
này và bắt đầu chuyển hóa các thói quen luôn phản ứng
với tâm tham ái hay sân giận. Khi tập khí tham ái và sân giận
được đoạn trừ tận gốc rễ, tâm sẽ trở nên thuần hóa
và thanh tịnh hơn. Theo quy luật tự nhiên, khi tâm hoàn toàn
thanh tịnh tự tánh sẽ tràn đầy lòng từ bi và thiện ý
đối với mọi người. Một khi, trong tâm vẫn còn các tập
khí tham ái thì chắc chắn tập khí sân giận cũng sẽ ở
đó; và cho đến khi chưa đoạn trừ được tâm sân giận
thì không thể nào phát khởi lòng từ bi.
Đức
Phật chứng đắc cảnh giới tối thượng hoàn toàn giác ngộ
và giải thoát nhờ hành trì thiền tuệ quán này và đó là
lý do lời tuyên ngôn đầu tiên của Ngài vềø pháp “Nhân
Duyên” (paticca-samuppada).
Vạn
vật sanh khởi đều do nhân duyên, nếu (nhân) ‘cái này có’
thì (kết quả) ‘cái kia có.’ Trong tiến trình này đức
Phật giải thích rõ ràng rằng, do nhân duyên sáu căn tiếp
xúc với sáu trần sẽ hiện khởi các cảm thọ trên thân.
Nếu cảm thọ ưa thích, chúng ta sẽ phản ứng với tâm tham
ái; nếu cảm thọ không ưa thích chúng ta phản ứng với tâm
bực mình (sân giận). Các cảm thọ sanh khởi trên thân đóng
một vai trò rất quan trọng. Do vì tập khí vô minh, chúng ta
tiếp tục làm tăng trưởng đau khổ của chính mình buông
theo các cảm thọ và phản ứng theo chúng. Ngược lại, với
trí tuệ thực nghiệm chúng ta sẽ thoát khỏi đau khổ vì
không còn phản ứng theo các cảm thọ.
Vào
thời Phật tại thế (trước cũng như sau Ngài), ở Ấn Độ
có rất nhiều pháp môn thiền định, nhưng không một ai giảng
dạy về phương pháp quán chiếu các cảm thọ trên thân. Đây
là khám phá vĩ đại của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni
Buddha). Bất cứ pháp môn thiền định nào cũng có thể đạt
được tâm định tĩnh, an nhiên và thuần tịnh nhưng chỉ
trên bề mặt tâm thức, đức Phật không thỏa mãn với các
loại thiền chứng này. Ngài quán chiếu hướng sâu vào nội
tâm và tận cùng trong tầng vô thức, tâm vẫn luôn liên tục
phản ứng với các cảm thọ trên thân.
Vì
thế, thực hành phương pháp thiền tuệ quán – ‘vipassana’
theo lời dạy của đấng Giác Ngộ, quan trọng hơn hết là
các cảm thọ trên thân chúng ta. Khi thực hành thiền tuệ
quán, thiền sinh vừa giữ tâm tỉnh giác với các cảm thọ,
nhưng cũng vừa buông xả niệm thọ ấy. Đây là tiến trình
thanh lọc tâm mang tính khoa học, một sự thanh tịnh tâm hoàn
toàn.
Tôi
rất vui mừng khi thấy một số chư Tăng Ni tham dự các khóa
thiền Vipassana và tin rằng chư Tăng Ni sẽ thực hành thiền
định hằng ngày. Tôi có lời khuyến khích chư Tăng Ni nên
tham dự các khóa thiền nhiều hơn. Những người cư sĩ có
rất nhiều tục sự khác nhau, đó là các trách nhiệm thế
tục. Họ không thể dành nhiều thời gian cho thiền định.
Chư Tăng Ni là những người hữu duyên trở thành Chư Tỳ
Kheo và Chư Tỳ Kheo Ni để thực hành chánh pháp chuyên sâu
hơn. Mong rằng chư Tăng Ni sẽ chứng nghiệm kết quả cao thượng
nhất trong lời dạy của đấng Giác Ngộ nhờ thực hành thiền
Vipassana. Hơn nữa, chư Tăng Ni nơi đây vô cùng may mắn có
được bậc Chân Sư (HT Sheng Yen) là vị Thầy hướng đạo.
Cầu
nguyện tất cả Tăng Ni đều thành công như ý!
Cầu
nguyện chư Tăng Ni đều thành tựu chánh Pháp tối thượng!
TN
Hằng Liên dịch từ - S.N. Goenka,
The
Proper Way to Pay Respect, VRI. Newsletter.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân