NHẬT
BẢN VỚI PHẬT GIÁO VÀ LỄ VU LAN
Giác
Nghiêm sưu tầm
Ngày
xưa, khi một người Nhật ra đời, cha mẹ đưa anh ta vào đền
thờ Thần Đạo (Shinto) để hiến anh ta cho Kami (các Thần).
Thần Mặt Trời (Amaterasu) tức là Thiên Chiếu Đại Nhân Thần
được tôn sùng hơn tất cả, vì vào buổi tạo lập Hòn đảo
trời tức là xứ Mặt Trời, Thần Amaterasu được Thần Izanagi
(từ trên trời hạ giới) trao chuỗi ngọc và quyền lực trị
vì xứ này cùng cai quản tất cả các Kami.
Người
Nhật đi lễ ở đền vào dịp năm mới, các ngày lễ, lễ
cưới cũng tổ chức theo nghi thức Thần đạo. Thần đạo
có nghĩa là: "Con đường của các thần linh", đây là tín
ngưỡng bản địa của dân Nhật, đây không phải là một
tín ngưỡng có thể chế tổ chức mà bao gồm các truyền
thống của các gia tộc thống trị cùng các tín ngưỡng đa
dạng, vì vậy mà dân Nhật có tính đặc trưng là sẵn lòng
cùng một lúc theo nhiều tôn giáo; đi lễ thì đền Thần đạo;
lễ cưới hỏi thì coi ngày tốt xấu theo đạo giáo (Lão giáo);
trong quan hệ gia đình, cha mẹ, thân thích theo nề nếp chữ
Hiếu Khổng giáo; quan hệ xã hội, làm ăn, ở trường học
theo sự tôn kính, trung thành của Khổng giáo; khi nhớ ơn cha
mẹ tổ tiên thì cầu khẩn Phật. Dầu là theo Thần đạo,
nhưng trong cuộc sống tinh thần gắn liền với nhân sinh quan
Phật giáo và mục đích cứu cánh là sự giải thoát, bình
an trong cõi Niết bàn.
Quá
trình Phật giáo xâm nhập vào vương quốc Nhật Bản ở thế
kỷ thứ bốn TL. Từ Trung Quốc, Triều Tiên do người di dân
và thương nhân, chính xác không biết thời gian nào. Nhưng
vào năm 552 TL theo văn bản Nihon Shoki thì vua xứ Triều Tiên
gởi quà cho Hoàng Đế Kimmei trong đó có một tượng Phật
và mấy cuốn sách kinh Phật. Ông vua Triều Tiên còn gởi kèm
một bức thư như sau:
" Những
điều của Đức Phật nói vượt trên tất cả những giáo
huấn khác. Lời lẽ khó hiểu và khó nắm bắt, đến cả
Chu Công thông thái và đức Khổng Tử cũng chưa hiểu sâu.
Nhưng những lời này sẽ mang lại lợi ích không lường và
hạnh phúc, giúp người ta an lạc và tiến đến giác ngộ
tối thượng. Những lời kỳ diệu này cũng như có được
một kho báu đưa đến cho ta mọi thứ, bởi vì khi cầu xin
Đức Phật lúc cầu nguyện sẽ được như ý. Do vậy, từ
Ấn Độ ở Phương Tây xa xôi đến Triều Tiên ở phương
Đông mọi người đều đón nhận những lời này với lòng
tôn kính nhất…".
Nhật
Hoàng bỗng lâm vào một tình thế khó xử, bởi người Nhật
vốn luôn quan niệm Amaterasu và các Kami là những thế lực
thiêng liêng mang lại tất cả những lợi ích và ơn phúc cho
thế giới này. Họ chưa bao giờ thấy Kami trong tư thế tọa
thiền nhắm mắt an nhiên tự tại, bởi từ xưa người Nhật
không có vẽ hình, tạc tượng các thần linh. Và cho đến
lúc ấy họ chưa thể hiểu được các kinh văn huyền bí kia
(kinh Phật giáo).
Hoàng
đế Kimmei rất thích các món quà này nhưng ông không quyết
định được phải làm thế nào, và ông hỏi ý kiến ba cận
thần của mình. Ông bảo: "Ta chưa hề thấy một gương mặt
nào cao quí như gương mặt Đức Phật đây, liệu ta có nên
thờ không?"
Soga
no Iname cảm nhận được sự ưu việt nên đáp: "Sao ta có
thể từ chối thờ Đức Phật, bởi các nước phía Tây không
trừ nước nào đã tôn thờ Ngài".
Nhưng
hai người kia vốn dòng dõi gia đình các tư tế Mononobe và
Nakatomi lại nhìn thấy trong việc này có một mối nguy tiềm
tàng. Hai ông bác lại rằng: "Theo tập quán, các Hoàng đế
Nhật phải thờ các Kami Nhật Bản, nay thờ một Kami ngoại
lai thì có thể khiến các Kami quốc gia nổi cơn thịnh nộ".
Nhật
Hoàng Kimmei chọn cách dung hòa, đưa tượng Phật cho đại
thần Soga bảo mang về thờ riêng để thử nghiệm. Soga hài
lòng mang tượng Phật về thờ trong nhà, thực hành theo lời
Phật dạy. Một thời gian ngắn sau, một bệnh dịch lan tràn
trong đất nước, hai đại thần Mononobe và Nakatomi tâu với
Nhật Hoàng rằng tai họa là do Hoàng đế đã không nghe lời
khuyên của họ, bây giờ chỉ có thể cứu vãn tình thế bằng
cách quẳng bức tượng Phật đi. Nhật Hoàng bèn lệnh cho
đem ném bức tượng xuống một con kênh, và vậy là một đám
cháy bắt đầu xảy ra quét sạch nhà đại sảnh trong Hoàng
cung.
Sang
năm sau dân chúng kể rằng nghe tiếng tụng kinh Phật như tiếng
sấm vang từ ngoài biển cùng với một vầng sáng lớn như
hào quang. Cho người đi kiểm tra thì thấy một khúc gỗ long
não phát sáng trôi nổi trên mặt nước. Nhật Hoàng ra lệnh
cho tạc một pho tượng Phật bằng khúc gỗ ấy.
Từ
đó, ngày càng có nhiều tượng Phật cùng kinh sách đem đến
từ Triều Tiên. Rồi các nhà Sư đến giảng dạy Phật pháp,
hành thiền, xây dựng Chùa, tạo tượng Phật. Gia đình Soga
nhiệt tình hộ trì Phật pháp, đứa con trai là Soga no Umako
hộ đạo không mệt mỏi bằng cách truyền bá kinh sách nhà
Phật, giúp các vị Sư trong việc hoằng pháp. Dần dà những
lời giáo huấn của vị "Kami ngoại lai" này đã có chỗ đứng
vững chắc trong các gia tộc lớn của Nhật, và đó là điều
rất quan trọng vì mọi việc điều hành đất nước đều
do các gia tộc lớn quyết định.
Những
lời dạy của Đức Phật, những điều hiếu hạnh trong kinh
sách Phật giáo làm thỏa mãn con người Nhật, từ đó Phật
giáo được phát triển mạnh trong lòng người Nhật, sức
hấp dẫn của Phật giáo trong nhân gian tăng lên mạnh mẽ.
Thái
tử Shotoku, khi lên ngôi Hoàng đế (573-621) là một trong những
vị Hoàng đế đem sự phồn vinh sáng láng nhất trong lịch
sử Nhật Bản. Hoàng đế Shotoku mặc dầu vẫn tiếp tục
thờ cúng Kami theo truyền thống, nhưng tạo sự chuyển biến
tích cực cho Phật giáo, bằng cách ra một sắc chỉ, lệnh
cho các quan trong triều phải tỏ lòng tôn kính hết mực
với các Kami của trời và đất (trong đó có Đức Phật).
Shotoku nghiên cứu Phật giáo, Khổng giáo, hiểu biết sâu sắc
cả hai.
Năm
604 Shotoku ban hành Hiến pháp có 17 điều nổi tiếng, trong
đó có điều quan trọng nhất là: "Các ngươi cần phải thành
thực tôn kính Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng, chốn qui y sau
hết của muôn loài và đã được hết thảy mọi người tôn
kính".
Thái
tử Shotoku đặc biệt gắn bó với Phật giáo, thậm chí còn
thuyết Pháp. Bởi vậy trong lịch sử ông được tôn vinh là
người lập nên Phật giáo ở Nhật Bản, ông đặt nền tảng
văn hóa, quan hệ mật thiết cả Thần giáo, Phật giáo, Khổng
giáo và người Nhật từ đó đã sống trong truyền thống
tín ngưỡng như vậy.
Năm
725 Nhật Hoàng Shomu muốn xây một ngôi chùa thật lớn ở
kinh đô Nara làm trung tâm Phật giáo cho cả nước. Nhật Hoàng
muốn chắc chắn, sai pháp sư Gyogi (người quan hệ mật thiết
của Thần đạo rất có uy tín), đi cầu thần Amaterasu ở
đền lớn Ise.
Liệu
ông tổ Thần Mặt Trời của đế chế sẽ nghĩ sao về: "Đức
phật vị thần Mặt Trời ngoại lai này?".
Nhưng
thật tuyêt! Sau khi Gyogi thành tâm cầu hỏi, đồng lên và
đại thần uy nghi phán truyền rằng:
"Phật
Gotama thực sự là một hiện thân của Kami và có thể thờ
cúng như với Kami mặt trời Amaterasu". Giờ đây được sự
phù hộ của Đức Phật thật là quan trọng nên Nhật Hoàng
đã cho xây dựng ngôi chùa lớn, đồng thời sử dụng Gyogi
cùng với Tăng Ni đi quyên góp tiền để dựng một tượng
Đại Nhật Phật (Vairocana) đồ sộ ở đây. Từ đó Nhật
Hoàng cho phép xây dựng chùa chiền ở khắp nơi để có chỗ
Sư sãi cầu nguyện cho sự thịnh vượng của quốc gia Phù
Tang này.
Bây
giờ nhìn qua lễ Vu Lan Bồn ở Nhật, ở Nhật gọi là "Lễ
Bon", viết tắt chức "Urabon", cũng còn viết là "Urambon". Trước
thế chiến thứ hai, "Lễ Vu Lan Bồn" là ngày lễ công lập,
công sở và trường học đóng cửa, nhân công được nghỉ
việc ăn lương. Hai ngày lễ quan trọng nhất trong năm là ngày
Tết Nguyên Đán và ngày Vu Lan Bồn, nước Nhật ngày nay sinh
hoạt làm việc theo dương Lịch, nhưng các chùa và người
dân vẫn còn giữ âm lịch. Trong hai ngày lễ lớn này, theo
tập tục những người đi làm ăn xa gia đình phải trở về
nhà sum họp và dâng lễ cúng tổ tiên. Vì vậy mà hai dịp
lễ này các phương tiện chuyên chở đi lại đông đúc, riêng
dịp Lễ Vu Lan từ cuối tháng sáu đến giữa tháng bảy xe
cộ tấp nập kèn kẹt.
Cho
đến ngày nay, đặc biệt ở vùng quê, dân chúng chuẩn bị
Lễ Vu Lan Bon từ ngày mồng một tháng bảy. Trong mỗi cư gia
Nhật đều có bàn thờ Phật gọi là Budsusan. Đầu tháng 7
người ta đặt trước bàn thờ Phật một chiếc bàn vong Shorydana,
trên bàn vong đặt bài vị để đón tiếp hương linh Cửu
huyền quá vãng. Ngày mồng bảy gọi là ngày Nanoka Bon, trưởng
tộc hay gia chủ và người thân đi thăm mồ mã, quét dọn,
làm cỏ, làm lễ tại ngôi mộ gia tiên. Ngày 13 gọi là ngày
"đón vong hồn" (Mukac Bon), ngoài mộ và trên bàn vong chưng
đầy hoa đẹp gọi là Bonbana, trên lối đi nhiều nơi còn
treo lồng đèn ở mỗi khúc rẽ, mỗi cư gia tứ bề thắp
đèn lồng để vong linh khỏi lạc đường, chiều đến thì
đốt đèn ngoài cửa nhà để tiếp đón vong hồn. Lửa này
giữ cho đến ngày 16, gọi là ngày "tiễn đưa vong hồn" (Okuri
Bon). Tại vài địa phương lại còn có tục lệ nhảy múa
Vu Lan gọi là Bon Odori, chào mừng tổ tiên trở lại nhà sum
họp với con cháu. Sau thế chiến thứ 2, phát triển du lịch,
ngưòi ta phục hưng lại điệu múa Bon Odori kỹ lưỡng, đẹp
đẽ và trọng thể để phục vụ các điểm du lịch.
Giữa
thế kỷ thứ mười chín, Minh Trị Thiên Hoàng thấy các nước
Âu Mỹ văn minh tiến bộ hơn bèn gấp rút công cuộc duy tân
và kỹ nghệ hóa đất nước, vì vậy các lễ hội đình đám
phải giản dị hóa, lễ hội Urabon và Sagaki-e cũng rút gọn
lại.
Nhưng
nước Nhật ngày nay đã văn minh, tiến bộ và phú cường,
cuộc sống không còn khó khăn, nên hiện tại có khuynh hướng
trở lại với đời sống tinh thần và tôn giáo. Ta hãy nghe
giáo sư Kenneth Chen dạy tại Đại học Princeton, nói về Lễ
Vu Lan ngày nay tại Nhật. Theo quyển Buddhism, The Light of Asia
nhà xuất bản Barron, New York, Hoa kỳ in năm 1978; trang 263 ghi
như sau: Vào ngày 13 tháng 7 âm lịch, bắt đầu lễ, người
ta đi viếng, chưng hoa quả, thắp đèn đốt hương trên mộ,
ở tại nhà cũng thắp đèn trước cổng, hàm ý dẫn đường
cho vong hồn biết lối trở lại nhà để sum họp cùng con
cháu và hưởng phẩm vật cúng dường. Trong mỗi gia đình,
chưng dọn bàn thờ, dâng cúng hoa đẹp, quả tươi và thức
ăn mà người Nhật thường dùng, trên bàn, trên chiếu giữa
nhà, các món ăn như: mì sợi, chè kê, canh bí ngô, canh dưa
gang, cá hấp, riêng ngày 13 có cùng món chè xôi nước đặc
biệt để đón các vong hồn mới về. Ngày 14 ngoài các món
ăn thường lệ, có cúng chè khoai và cá hấp trộn mè. Ngày
15 ngoài việc cúng tổ tiên trong nhà, trước sân bày cúng
hoa quả thực phẩm cho các cô hồn bị phiêu bạt đói khát
không người cúng quảy, gọi là cúng "Segaki-e". Ngày 15 này
cũng là ngày "cúng tiễn ông bà", ngoài những thức ăn thường
ngày, còn có thêm cơm đùm lá sen, chè bột lọc bọc nhân
đậu. Cũng có trường hợp ngày 16 là ngày giỗ một người
nào trong gia đình, thì để đến ngày 16 làm cúng giỗ đồng
thời cúng đưa tiễn luôn. Mỗi ngày, hương đèn trên bàn
thờ không để lụi, thỉnh thoảng châm thêm trà nước hương
hoa. Tại các làng xóm gần sông rạch và hồ biển, thường
có người chết vì sông nước, thì đặt thêm thực phẩm,
thắp đèn trên những chiếc bè, thuyền bé tí hon thả trôi
trên dòng nước để cúng. Nhìn cảnh thắp đèn trên cổng
nhà, ánh sáng bập bùng le lói trên các bè thuyền tí hon dưới
sông trôi xa theo ngọn nước, theo làn gió người ta cảm khái
nghĩ tưởng đến tổ tiên ông bà đã khuất, ý niệm nhớ
ơn và báo ân đến với tất cả mọi người, ngày lễ "Vu
Lan Báo Hiếu" thật sự đã gắn liền người sống hiện tại
với người đã ra đi vào cõi hư vô*.
Nguồn:
Nội san Vu Lan Khánh Hòa
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân