LỄ
VU LAN
NGUYỄN
DU LẬP ĐÀN BẠT ĐỘ CÔ HỒN THẬP LOẠI
Thích
Tâm Tôn
Ai
đã từng sống long đong trong bể khổ không cùng cũng như
trong hoan lạc chơi vơi, hay từng trải qua những ngày dài quạnh
quẽ và những đêm tàn hoang vu, ắt hẳn không sao tránh khỏi
trỗi dậy nỗi động lòng dào dạt khiến lệ trào dâng mi
khi đọc Văn Tế Thập Loại Cô Hồn đầy ai oán cảm sầu
của cụ Nguyễn Du. Một Nguyễn Du thiên tài, song lại là một
mãnh đời lận đận và có phần bạc mệnh như chính cuộc
đời Kiều. Phải chăng, đó là nghiệp báo lao xao của một
kiếp chúng sanh mà ông đã nhìn nhận trong Văn Tế Thập Loại
Chúng Sanh:
"Mỗi
người một nghiệp khác nhau,
Hồn
xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?"
Nghe
ra thấy toàn là chất nhân sinh và tâm linh Phật giáo. Và chất
Phật giáo ấy có gì lạ, bởi chính ông là một Phật tử
trí thức thấm nhuần giáo lý Phật Đà. Hình như cái tư tưởng
Phật giáo đã vô hình ứng hiện vào tận nguồn cảm hứng
sáng tác cho một nghệ sĩ Nguyễn Du, để tạo nên những áng
thi chương lẫy lừng bất hủ. Điều đó đã được thể
hiện trọn vẹn trong hai tác phẩm bất tuyệt của ông: Truyện
Kiều và Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Cả hai tác phẩm này
có thể được xem như là những bản kinh của Phật giáo Việt
Nam, mang tính cầu an như truyện Kiều và cầu siêu như Văn
Tế Thập Loại Chúng Sanh. Nhân Lễ hội Vu Lan xin được lạm
bàn về vài áng văn tế của Nguyễn Du, như thể để nhắc
lại cái giá trị văn hóa tâm linh Phật giáo tuyệt với mà
ông đã thể hiện một cách trọn vẹn về nghĩa cử báo hiếu
tình thân và thi ân tế độ phổ đồng. Đó chính là hai mục
tiêu trong một ý nghĩa "Giải Đảo Huyền" mà người Phật
tử Việt Nam nào vào dịp tiết Trung Nguyên - Lễ hội truyền
thống Vu Lan cũng vọng hoài thổn thức.
Đức
Phật từng dạy: "Nếu đem nước mắt của hết thảy chúng
sanh trong vòng luân hồi từ vô thỉ đến nay tích chứa lại
thì nhiều cũng như nước của cả một đại dương". Đức
Phật là hiện sinh của tinh thần đượm nhuần đức tánh
nhân ái và từ bi vô lượng. Bằng vào mọi phương tiện,
tinh thần nhân ái cao cả đó được Ngài thể hiện một cách
tài tình hằng che chở cho tất cả chúng sanh. Tánh đức từ
bi vô ngần ấy chính là tinh thần cảm thông với những nỗi
thống khổ bất tận mà những chúng sanh tội lỗi và bệnh
tật hằng mang. Đức Phật tỏ bày: "Nỗi thống khổ của
người cũng chính là nỗi thống khổ của ta, và niềm hạnh
phúc của người cũng chính là niềm hạnh phúc của ta". Tình
thương cao cả ấy quả là cái đức bạt ngàn của người
cha và cái lòng bao la của người mẹ dành cho con thơ tội
nghiệp.
Phật
giáo du nhập vào Việt Nam mang theo những tinh ba tươi đẹp
nhất để làm tươi mát cho những tâm hồn khốn khổ, đồng
thời cũng xúc tác những nguồn tư tưởng phong phú làm trào
dâng cho bao trái tim nhân sĩ trí thức Việt Nam. Chỉ có tình
thương của đạo Phật mới sản sinh ra những con người giàu
đức hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát như Lý Thánh Tôn
qua những tâm sự này: "Ta ở trong cung kín, sưởi lò than,
khoác áo lông mà còn rét thế này. Nghĩ đến các tù nhân
bị nhốt nơi lao ngục, bị trói buộc khổ sở mà chưa biết
phải trái ra sao, ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân;
gió rét, tất có kẻ chết không nơi nương tựa. Ta thật lấy
làm thương… Ta yêu con ta thế nào thì ta thương dân cũng
thế. Vì dân không hiểu luật lệ nên mắc tội, ta thực lấy
làm thương xót. Vậy từ nay về sau, tội nặng hay nhẹ, các
ngươi cũng khá xử cho khoan hồng." Và tình thương ấy chúng
ta cũng lại được thấy trào dâng bàng bạc vào tận cả
chốn u đồ của Cô Hồn Thập Loại mà Nguyễn Du đã động
lòng cảm thông trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Đó là
tình thương trải rộng, tình thương phổ đồng của tinh thần
đại bi nhà Phật. Tinh thần ấy được Ngài Thật Hiền khai
mở trong Văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm như sau: "Ta với chúng
sanh từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời làm cha mẹ nhau,
có ơn với nhau. Nay do cách đời mờ ám, không biết được
nhau, nhưng lấy lẽ mà suy cứu thì làm sao có thể không có
sự báo bổ. Ngày nay là thú vật, nhưng biết đâu ngày trước
ta đã từng là con cái của chúng. Hiện tại là vi sinh, nhưng
biết đâu quá khứ chúng đã từng là cha mẹ của ta. Thường
thấy, nhỏ mà xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình bóng
song thân, huống chi cha mẹ bà con đời trước, ngày nay kẻ
họ Trương người họ Vương, khó mà nhớ được nhau. Họ
gào thét trong địa ngục, ngất ngưỡng trong ngạ qủy, thống
khổ ai biết, đói khát ai hay. Ta dầu không thấy không nghe,
nhưng họ tất cầu cứu cầu vớt. Kinh mới dạy được việc
ấy, Phật mới tỏ cảnh này, còn kẻ tà kiến thì làm sao
biết được. Nên Bồ Tát nhìn sâu kiến cũng thấy toàn là
cha mẹ quá khứ và Chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi
ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng."
Hình
ảnh Đức Bổn Sư từ phụ của chúng ta sụp lạy đống xương
khô trong Kinh Phụ Mẫu Báo Hiếu Ân thể hiện rõ nét cho tinh
thần này. Nói đến Nguyễn Du, bậc văn chương chính nhân
xưa nay đều hay cái duyên của người nghệ sĩ này với cái
chất Phật giáo nó khắng khít thế nào.
Mở
đầu cho bài văn tế 184 câu, Nguyễn Du như vừa thì thầm
ngâm thơ vừa than thở trong lệ rơi cho nỗi niềm trăn trở
đầy ê chề áo não.
"Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát
hơi may lạnh buốt xương khô,
Não
người thay buổi chiều thu,
Ngàn
lau nhuộm bạc, lá khô rụng vàng."
Trước
hết nếu chỉ xét đơn thuần về khía cạnh tâm hồn người
nghệ sĩ trước cảnh vừa đẹp vừa buồn của tiết thu thì
Nguyễn Du cũng như Nguyễn Khuyến hay Lưu Trọng Lư không hơn
không kém. Đối cảnh sanh tình là cái bệnh "đa cảm đa sầu"
bình
thường muôn thuở của người nghệ sĩ. Hình ảnh của tiết
thu như: mưa dầm, hơi lạnh, sương khô, lá rụng vàng không
gì lạ lẫm trong hồn thơ của những bậc thi nhân. Nhưng thoát
ra ngoài phạm vi nghệ sĩ ấy, ta cảm nhận như Nguyễn Du không
phải bị rơi vào chỗ đồng điệu với cái buồn man mác
của chiều thu, mà hình như tự trong sâu lắng tâm hồn ông
kết đọng một nỗi niềm u uất hay khắc khoải một hoài
vọng xa xăm về một thế giới tâm linh u huyền nào đó. Cái
chất thu ở Nguyễn Du có mang một chút sáng tối áo não hòa
quyện sắc màu âm dương, dễ dàng khơi dậy một thứ cảm
giác bâng khuâng về cái ân và cái nghĩa theo nhà Phật được
thể hiện trong Lễ hội Vu Lan mà mỗi con người ai cũng hằng
mang nặng. Như vậy, ở đây cái thu không chỉ là cảm xúc
khi đối cảnh của tình nghệ sĩ, mà còn là cái thu mang nặng
nghĩa ân tình thâm trọng của người con Phật.
"Tháng
bảy mùa thu lá rụng vàng,
Ấy
mùa báo hiếu lễ Vu Lan."
Đọc
những vần thơ tiếp theo ta mới thấy rõ hơn về sự liên
tưởng từ cái "hữu hình" đến cái "vô hình", từ cái "dương
thể" đến cái "âm thể" trong một tâm hồn trăn trở Nguyễn
Du:
"Đường
bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp
đường lê lác đác sương sa,
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha,
Cõi
dương còn thế nữa là cõi âm."
Từ
một trực cảnh hiện sinh, thiên tài Nguyễn Du mở ra những
cánh cửa bí mật dẫn vào tâm hồn u uẩn của cô hồn thập
loại và của chính tâm hồn mình. Ở đó ta thấy xuất hiện
một nỗi niềm kỳ lạ khó hiểu trong con người của ông
vào lúc cuối cuộc đời. Khi phải bệnh nặng, Nguyễn Du không
chịu uống thuốc. Lúc gần chết, sai người sờ tay chân xem
còn nóng hay đã lạnh. Người nhà bảo: Đã lạnh cả rồi.
Nguyễn Du nói: "Được!". Nói xong thì im lặng mà từ giã cõi
đời.
Theo
thuyết Nghiệp Chủng Thức Phật giáo, mà rõ ràng là giải
thích của Thái Hư Đại Sư ở bài kệ:
"Đảnh
Thánh, nhãn sanh Thiên,
Nhân
tâm, ngạ quỷ phúc,
Bàng
sanh tất cái ly,
Địa
ngục cước tâm xuất."
Để
đoán biết một người sau khi chết sẽ sanh về cảnh giới
nào thì chỉ cần xem người ấy vào lúc lâm chung điểm hơi
ấm cuối cùng xuất ra ở chỗ nào trên thân. Nếu ở đảnh
đầu thì sẽ sanh về cõi Thánh, nếu ở trán thì sanh vào
cõi trời, nếu ở tim thì sanh được làm người, nếu ở
bụng thì sanh làm ngạ quỷ, ở đầu gối thì sanh vào loài
súc sanh, còn ở bàn chân thì phải đọa vào địa ngục.
Nguyễn
Du đã dùng phương pháp này để đoán xem mình sẽ sanh vào
thế giới nào. Người nhà bảo lạnh cả rồi mà ông vẫn
còn trong trạng thái hoàn toàn tỉnh, rồi bảo rằng: "Được!".
Từ "Được" ấy chính là cái điểm nóng cuối cùng diễn
biến đúng như ý của Nguyễn Du. Cũng chính trong cái im lặng
ra đi của ông toát lên một sức mạnh gì đó mang tính được
dự định cho điều bí mật hiện hữu trong một tâm hồn.
Đó phải chăng là một sự tỉnh thức mà từ lâu Nguyễn
Du đã tu tập được để chuẩn bị cho một phẩm vị ở
cảnh liên trì tự tại.
Sống,
Nguyễn Du cứ bị thôi thúc bởi hai chữ "Sinh hóa". Chính vì
vậy mà mở đầu bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh, ta toàn
trực diện với những từ ngữ chứa chan sắc màu lắng đọng
của âm dương chập chờn hòa quyện.
"Trong
trường dạ tối tăm trời đất,
Có
khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương
thay thập loại chúng sanh,
Hồn
đơn phách chiếc lênh đênh quê người."
Đạo
Phật luôn lấy sứ mạng đem ánh sáng và tình thương đến
cho muôn loài làm lý tưởng sống. Ánh sáng của tinh tú, của
mặt nhật, mặt nguyệt chỉ có thể giúp chúng sanh thoát khỏi
sự hỗn mang phiền tạp cũng như sự mò mẫn, và đen đặc
của trời đất hay của cuộc đời. Ánh sáng chánh pháp, của
tình thương chính là hai sự trạng chan chứa trong tinh thần
của Phật giáo. Chính cái tình thương phổ đồng mới đưa
tất cả chúng sanh cùng hòa vào một khối yêu, và ngay ở
chính đó mỗi cá thể sẽ tìm thấy được cái tình thân
ấm áp lạ lùng. Đây quả là lời tỉnh giác, là lời mở
đầu bài thuyết linh cho chúng cô hồn "phách chiếc lênh đênh"
không nơi nương tựa của một Pháp sư chứ không phải của
một Nguyễn Du mà mọi người chỉ biết dưới danh nghĩa một
đại thi hào.
"Tiết
đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước
tỉnh đàn rưới hạt dương chi,
Muôn
nhờ Đức Phật từ bi,
Giải
oan cứu khổ hồn về Tây Phương."
Đến
đây chúng ta càng thấy rõ hơn Nguyễn Du đã thật sự thoát
xác hóa thân thành một pháp sư, thành một đạo sĩ tay cầm
nhành dương rưới nước phép, mở khai phương tiện quyền
xảo đi vào tận cùng thế giới không tên của trăm nghìn
kiếp sống mà hiển thật hóa duyên. Một danh nhân không chỉ
của riêng dân tộc Việt Nam hay của Phật giáo Việt Nam, mà
còn được cả thế giới công nhận và xếp vào hạng những
nhà văn hóa nổi bật của mọi thời đại lại còn xiển
dương việc "lập đàn giải thoát" như thế ấy. Đó chính
là phẩm chất của nhà văn hóa Nguyễn Du và cũng là phẩm
hạnh cao đẹp của một vị Bồ Tát. Có ai nào dám mạo danh
vì một chủ nghĩa, một học thuyết lý luận nào đó mà phê
phán hay chỉ trích ấy là việc làm mê tín dị đoan phải
bài trừ? Chỉ những ai thiếu kiến thức văn hóa mới hời
hợt đánh giá đó là phi văn hóa. Và chỉ có những ai lạm
dụng cái giá trị văn hóa đó để phục vụ cho mục đích
riêng mình mới là người thiếu văn hóa.
Cách
nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
"Trời
đất nào dung tha kẻ ác,
Cớ
sao còn có lễ Vu Lan,
Từ
bi, ta muốn nhờ công sức,
Cứu
được bao người chịu khổ oan?"
Đó
là cách nói răn dè để dạy đời theo quan điểm đạo đức
về thiện ác, thưởng phạt do trời đất định đoạt mang
tính khắc khe của người Nho gia. Theo truyền thống báo hiếu,
đáp nghĩa, đền ân thuộc đạo lý làm người của Phật
giáo thì chẳng những khi còn sống chúng ta phải biết quan
tâm và tử tế với nhau, mà ngay cả sau khi chết chúng ta cũng
phải biết thương tưởng hướng về nhau. Vì thế, Vu Lan phải
được xem như là một nghĩa cử cao đẹp không chỉ cứu tử
mà còn có giá trị độ sanh nữa. Với lại, về mặt pháp
luật, không luật lệ nào không có ngoại trừ, cũng không
có tòa án xử tội nào lại không có điều khoản ân xá.
Theo
Phật giáo, trong thế giới tương đối này, hết thảy vạn
hữu đều phải chịu ảnh hưởng của quy luật Nhân Quả.
Tất cả đều tương quan tác động qua lại với nhau, duyên
vào nhau mà tồn tại. Do đó, nghi lễ cầu an và cầu siêu
là những trợ duyên cần thiết, những đìều kiện hỗ trợ
một cách hợp lý cho sự sống và sự chết của con người
về mặt tinh thần. Đứng về phương diện đạo lý thường
tình mà xét thì "lễ" là sự thể hiện cho cái "nghĩa" sống
của con người, song để thể hiện cái "lễ" ấy thì cần
phải dựa vào "nghi thức" để thực hiện cho phải lẽ kính
tôn.
Tinh
thần từ bi cứu khổ của đạo Phật đã hun đúc nên một
tình thương rộng lớn không chỉ hạn cuộc trong phạm vi nhân
sinh mà còn phổ huân khắp tất cả các loài chúng sanh đang
điêu linh nơi âm cảnh ở một đại thi hào. Lòng xót thương
đã khiến người nhận ra được tính đồng thể mà chỉ
có các Bồ Tát, các bậc giác ngộ trong loài hữu tình mới
nhận thấy được để từ đấy phát nguyện độ tận chúng
sanh. Một tình thương bao la như thể biết dung vào những phương
tiện cứu độ và hóa duyên, mà ở đây là "đàn khai cam lồ
môn" được Nguyễn Du thiết lập theo nghi Vu Lan Bồn để giải
oan bạt độ cho chúng cô hồn lạc lõng bơ vơ.
Ngày
rằm tháng bảy, tất cả các cửa ngục đều mở, mọi hình
phạt đều tạm ngưng, các tội nhơn trong chốn u đồ đều
có cơ hội được xá tội. Đêm hôm ấy, kiến lập Vu Lan
để cúng tế chúng sanh nơi âm giới và báo đáp cù lao. Ở
hội này có thiết lập một đàn "khai cam lồ môn" để giải
oan bạt độ cho chúng sanh chịu khổ chốn u đồ được giải
thoát siêu thăng. Như vậy, "đàn giải thoát" mà Nguyễn Du
nói đến chính là đàn này vậy.
Theo
các khoa nghi chẩn tế thì cô hồn tùy theo nghiệp chủng mà
biến hiện ra nhiều hình thù khác nhau để chịu khổ báo.
Có những loại cô hồn bụng to như cái trống mà cổ lại
nhỏ bằng ống kim, không thể nào ăn uống được. Có những
loại cô hồn vì tánh xan tham nên để giành lấy thức ăn
họ lại cấu xé nhau đến chết mà vẫn chịu cái khổ đói
khát. Có những loại cô hồn nhìn thức ăn thấy toàn máu
mủ và than hồng không sao ăn uống được. Ngoài ra còn nhiều
nỗi thống khổ không sao tả xiết được mà chúng sanh phải
chịu ở chốn u đồ.
"Đoàn
vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ
không đầu đón khóc đêm mưa;
Cho
hay thành bại là cơ,
Mà
cô hồn biết bao giờ cho tan."
Hơn
ai hết, Nguyễn Du làm lắng đọng lòng người để nghe những
âm thanh vang động tiếng thiết tha đầy thê thảm của chúng
sanh khi viết nên tiếng ai oán Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh.
Ở đó, ông cũng phát họa nên những hình ảnh âm linh kinh
hoàng chịu những nỗi rét mướt lạc loài của những oan
hồn cô mộ.
Với
thuyết nghiệp báo của Phật giáo, tất cả chúng sanh đều
có nghiệp quả, chúng đều hưởng thọ nghiệp quả, chúng
lệ thuộc vào nghiệp quả. Chính nghiệp quả mà phân biệt
chúng sanh thành các chủng loại: thấp-cao, sang-hèn, quý-tiện,
hạnh phúc-khổ đau. Hay nói theo Lê Thánh Tôn trong Thập Giới
Cô Hồn Quốc Ngữ Văn:
"Hồn
là thần, phách là quỷ,
No
nên Bụt, đói nên ma."
Như
vậy, qua sự hiện hành của nghiệp quả mà người ta đánh
giá được nghiệp nhân của chúng sanh. Nghiệp quả càng vô
cùng đa dạng thì hình thức hiện sinh của chúng sanh càng
đa dạng không cùng.
"Mỗi
người một nghiệp khác nhau,
Hồn
xiêu, phách lạc biết đâu bây giờ?"
Và
cái đa dạng phảng phất ấy trong khoa Mông Sơn Chẩn Thí Cô
Hồn có trình bày: "Hà sa thập loại khôn cùng,… không chùa
không miếu lấy ai nương nhờ. Từ đường đâu có phụng
thờ. Cô đơn, độc lập nương nhờ gốc cây, lênh đênh mặt
nước cung mây, đầu đường xó chợ hồn bay lạc loài". Hễ
cõi dương có bao nhiêu cảnh phiêu bồng lạc lõng thì cõi
âm có bấy nhiêu cảnh lang bạt tiêu điều. Trở lại lời
thỉnh mời, và cũng là lời mà Nguyễn Du thức tỉnh cho những
tâm hồn mang nặng oán thù sân ngoa.
"Cô
hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng
oan khôn nhẽ tìm đường hóa sanh."
Theo
quan điểm Phật giáo thì thiên đường hay địa ngục đều
do ở mỗi con người mà ra.
"Nghiệp
duyên vốn tự mình ra,
Nơi
vuông tấc đủ thiên đường, địa ngục."
(Vịnh
Phật - Nguyễn Công Trứ)
Vậy
muốn thoát những cái khổ dằn vặt trong chốn tam đồ thì
ở mỗi chúng sanh phải tự mình thức giác diệt từ mê lầm
oán thân, nhờ đó sẽ đạt tới đỉnh cao giác ngộ và giải
thoát - hạnh phúc và tự do. Đó không chỉ đơn thuần là
lời thức giác cho những cô hồn nặng oan khiên mà còn là
lời phản tỉnh cho những con người đang hiện sinh lầm lạc
trong cả cuộc đời này.
"Kiếp
phù sinh như hình bào ảnh,
Có
chữ rằng vạn vật giai không;
Ai
ơi lấy Phật làm lòng,
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi."
Ở
đây, Nguyễn Du đã diễn tả rất chính xác thực trạng vô
thường theo quan điểm nhà Phật, đó là một thực tại khách
quan, một chân lý phổ biến khắp không gian và thời gian.
Nó không dựa trên ý thức cảm tính hay khái niệm chủ quan,
lại hoàn toàn không phải hư cấu giả tưởng hay thêu dệt
để lung lạc lòng người. Hết thảy vạn vật kể cả thập
loại chúng sanh đều có những điều kiện, những nhân duyên
tạo thành, không có cái biệt lập riêng rẽ. Đó là nguyên
lý tất yếu, là nhận thức giác ngộ. Nếu giác ngộ đúng
sự thật thì lòng ta sẽ vơi, sẽ không còn day dứt, khổ
đau; vượt trên những vui buồn thường tình; tháo gỡ những
oán thù, những tham lam ích kỷ. Đây là lời thuyết linh, lời
phản tỉnh dẫn dắt hết sức tài tình của pháp sư Nguyễn
Du. Đồng thời đó cũng là lời thiết tha kêu gọi mọi người
hãy mau mau giác ngộ sự thật cuộc đời. Một khi lòng ta
đã giác ngộ thức tỉnh thì Phật tại tâm, Phật ở tại
lòng ta, vì Phật chính là giác ngộ vậy.
Kết
thúc bài văn tế Nguyễn Du viết:
"Phật
hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ
ngại rằng có có không không;
Nam
mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
Nam
môt nhứt thiết siêu thăng thượng đài."
Khi
Đức Phật quyết định dấn thân vào đời, Ngài phát bốn
thệ nguyện rộng lớn để làm lý tưởng sống giữa cuộc
đời: "Thệ nguyện độ tất cả chúng sanh, thệ nguyện từ
bỏ tất cả phiền não, thệ nguyện học hết thảy giáo lý
cao siêu, thệ nguyện thành tựu đạo giác ngộ vô thượng".
Bốn lời thệ nguyện này là hành trang của lòng yêu thương
và từ bi vô tận, là tiêu điểm hướng đến thành tựu Phật
quả. Bốn câu kết của Nguyễn Du ở bài văn tế bao hàm đủ
ý nghĩa của "Tứ hoằng thệ nguyện" này. Ta thấy tình yêu
thương của ông trang trải khắp tận cùng thế giới chúng
sanh. Chính cái tình yêu thương vô tận ấy là nguồn xúc tác
khơi dậy những vần thơ trác tuyệt làm rạng rỡ hình ảnh
của một Đại thi hào. Đứng về mặt đạo đức thế gian,
ông quả là một người có đầy đủ hiếu tâm, hiếu đạo,
trọn nghĩa, trọn tình. Đứng về mặt giác ngộ, ông có đầy
đủ phẩm hạnh của một Phật tử sống biết thể hiện
tinh thần tự độ, độ tha.
Tóm
lại, đứng trên địa hạt lợi tha, đạo Phật luôn khích
lệ tất cả mọi người phải ghi nhớ, tích cực tìm cách
báo ân và cứu khổ. Xét rộng thì tất cả chúng sanh đều
là ân nhân của nhau. Và cái khổ mà cần cứu cần vớt đó
là cái khổ thống thiết của chúng sanh trong chốn u đồ.
Nhân
mùa Vu Lan đến với người con Phật, tất cả chúng ta hãy
cùng với Nguyễn Du đồng chấp tay hướng về Tam Bảo, đồng
thể hiện tình thương tưỏng đạo giáo vô biên của người
con Phật đến tận khắp pháp giới chúng sanh còn đang đau
khổ đọa đày trong cảnh u đồ, và hiện tại thế gian đang
sống cơ hàn vì thọ nghiệp đáng thương, các chơn linh anh
hùng liệt sĩ vì nước vong thân, đồng bào tử nạn. Hãy
cùng nhau thành kính nguyện cầu cho tất cả đều được siêu
sanh thoát hóa. Ấy là ý nghĩa báo ân mang tính vừa cao cả,
vừa bao la hòa đồng và cảm thông cùng khắp của Nguyễn
Du, của người Phật tử trong tinh thần Phật giáo chánh nhân.
Cuối cùng, xin hãy đồng niệm câu kinh của Phật tử Nguyễn
Du để nguyện cầu cho hết thảy chúng sanh đều được lợi
lạc, an lành và hạnh phúc trong ngày lễ Vu Lan này.
"Nam
mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
Nam
mô nhứt thiết siêu thăng thượng đài".
Nguồn:
Nội san Vu Lan Khánh Hòa
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân