MẸ
GÌA NHƯ CHUỐI BA HƯƠNG
Nguyễn
Thị Xuân Lộc
Trời
sắp vào Thu, khí hậu dịu dàng hơn với những ngọn gió Thu,
những trận mưa Thu, những đêm Thu đầu mùa, khiến tôi nhớ
hoài đến những ngày tháng cũ, kỷ niệm đôi lúc ùa về
như cơn giông...
Ngày
ấy Mẹ tôi còn trẻ, mắt mẹ sáng long lanh, môi mẹ tươi
thắm... Ngày ấy tôi mới lên năm, nhưng đã được mẹ dắt
đi chùa vào những ngày rằm, nhất là rằm tháng Bảy, đầu
mùa Thu. Con đường từ nhà đến chùa không xa, gió hiu hiu
lành lạnh, tôi tung tăng bên mẹ, mẹ kể cho tôi nghe bao nhiêu
là chuyện liên quan đến đức Phật, nhưng với trí óc non
nớt, tôi chỉ lơ đãng nghe và mắt chăm chú đuổi theo những
chú bướm nhởn nhơ quanh rặng ngâu dọc đường đi. Ðến
khi mẹ hơi bóp mạnh tay tôi, tôi mới giật mình nhìn mẹ,
những lúc ấy, mắt mẹ đỏ hoe, tôi hỏi tại sao, mẹ bảo
là nhớ bà ngoại... Với tuổi nhỏ thơ ngây, tôi đã an ủi
mẹ và bảo rằng đức Phật sẽ săn sóc Bà ngoại, Bà sẽ
khỏe mạnh hoài cho đến ngày Mẹ gặp lại Bà...
Ông
Bà Ngoại tôi chỉ có một mình Mẹ, ngày Bố tôi vào Nam,
Mẹ tôi đã nhất định ở lại Bắc, nhưng sau cùng Bà đã
khuyên mẹ phải đem con vào Nam tìm bố tôi. Thế là Bà và
Mẹ xa nhau. Hai năm sau, gia đình tôi nhận được tin Bà tôi
mất. Tôi còn nhớ mẹ tôi khóc nhiều lắm, tôi cũng khóc
và đã trách đức Phật sao không bảo vệ Bà của tôi cho
mẹ...
Thời
gian trôi, cuộc sống của những người di cư trên mảnh đất
mới, dù đó cũng là quê hương của mình, nhưng không phải
không có khó khăn. Bố tôi vừa đi học vừa đi kèm buổi
tối, Mẹ tôi bán hàng xén loanh quanh và trông nom chúng tôi.
Tự do của miền Nam đã tạo mọi cơ hội thăng tiến cho mọi
người. Gia đình tôi cũng như mọi gia đình khác đã hội
nhập vào đời sống thanh bình êm ả đầy tình đồng bào
của miền Nam.
Chúng
tôi lớn nhanh như thổi, mới đấy, tôi đã học xong Trung
Học, Ðại Học và có gia đình riêng, tôi bận bịu với công
việc hàng ngày, đôi lúc còn phải nhờ đến sự đỡ đần
của Mẹ. Tôi lu bu không còn nhớ đến rằm tháng Bảy hay
những ngày giỗ kỵ, một phần vì tôi nghĩ đã có Mẹ, Mẹ
lo tất cả mọi sự trên đời, nơi nào có Mẹ nơi ấy an
toàn và mọi việc xong xuôi.
Dần
dần, tôi ít về thăm Mẹ, tôi cũng không cảm thấy thiếu
thốn, vì cứ nghĩ Mẹ vẫn quanh quẩn đâu đó, hễ các con
cần là có Mẹ ngay. Cho đến một hôm, về thăm Mẹ, tôi mới
giật mình nhìn thấy những tàn phai ở Mẹ. Tóc Mẹ bạc và
rụng nhiều, mắt mẹ bớt tinh anh, da mẹ có những đốm đồi
mồi, đôi môi có những nếp nhăn của thời gian...Mẹ già
như chuối Ba Hương...
Ðến
tháng tư năm 1975, nước nhà “thay ngôi đổi chủ”, bố
tôi bị bắt đi tù cải tạo. Mẹ bảo chúng tôi phải tìm
đường vượt biên, không thể ở lại vì tương lai con cái
và của chính chúng tôi, Mẹ ở lại để chờ Bố. Tôi đã
quyết liệt phản đối và bảo chờ Bố về, rồi cả nhà
đi chung hoặc không ai đi cả. Tôi không muốn bị như Mẹ,
Mẹ đã ra đi và Bà đã chết trong cô quạnh.
Nhưng
dù quyết liệt thế nào, nước mắt của Mẹ tôi đã tràn
trề và biến thành giòng sông đưa chúng tôi ra biển. Ngày
chia tay, Mẹ ôm chúng tôi vào lòng và hứa khi Bố tôi về,
Mẹ sẽ tìm cách đi và gia đình sẽ đoàn tụ. Niềm tin đoàn
tụ của mẹ thật mãnh liệt. Ðã có biết bao tin tức về
thảm cảnh trên biển, hải tặc, đói khát, chìm tàu... nhưng
dường như những điều ấy chẳng mảy may ảnh hưởng đến
Mẹ, Mẹ tôi luôn nói đến Phật lực của từng người của
từng gia đình sẽ đem đến những điều may mắn.
Chúng
tôi chia tay, chuyến đi bảy ngày bảy đêm, trăm vạn gian nan,
đã đưa chúng tôi đến bến bờ tự do. Khi tàu vừa cập
bến Mã Lai, tôi đã nhờ Hội Hồng Thập tự đánh điện
tín về cho Mẹ. Tưởng tượng đến niềm vui của mẹ khi
chúng tôi đến nơi an toàn, tôi muốn khóc thật to, muốn hòa
nước mắt với mẹ, muốn kể cho mẹ nghe thật nhiều về
chuyến đi tìm tự do thập tử nhất sinh...
Tôi
cũng viết vội thư cho thân nhân ở Mỹ, ở Úc, ở Pháp, để
báo tin và nhờ báo tin thêm về cho mẹ tôi. Chúng tôi ở Mã
Lai sáu tháng, nhưng vẫn không nhận được thư Mẹ, tôi bắt
đầu lo, tôi sợ sự lo âu, chờ đợi sẽ khiến mẹ tôi suy
sụp. Sau cùng thì tôi nhận được thư Mẹ. Thư viết trên
giấy màu vàng xỉn, nét chữ của mẹ thô cứng, khác hẳn
ngày trước. Ðọc thư, nước mắt tôi chan hòa, tôi không
thể tưởng tượng được sức chịu đựng của mẹ tôi,
không nhận được tin tức các con trong bốn tháng trời, Mẹ
vẫn sống, vẫn vững tâm cầu nguyện và chờ đợi, thư mẹ
viết ngắn ngủi nhưng chứa đựng cả một tình yêu thống
thiết và tuyệt diệu:
''Các
con của Mẹ,
Mẹ
cảm ơn trời Phật đã che chở cho các con đến được bến
bờ bình yên. Bốn tháng qua, Mẹ đã yêu các con quá chừng
chừng, yêu nhiều lắm, Mẹ nghĩ Mẹ luôn ở cạnh các con
dù có thế nào.
Mẹ
của các con.''
Chúng
tôi xúc tiến việc bảo lãnh bố mẹ ngay khi vừa định cư.
Thế mà đến hơn mười năm sau, chúng tôi mới được hôn
Mẹ, ôm Mẹ để nhận biết rằng Mẹ đã già và tấm thân
Mẹ còm cõi.
Ðược
sống với Mẹ, được chăm sóc Mẹ lúc tuổi già, tôi không
còn mong gì hơn, cứ đến cuối tuần, các em các cháu đến
chơi, trong nhà vang tiếng cười và thơm mùi xào nấu thức
ăn của Mẹ. Tôi cầu xin hạnh phúc đơn sơ, quý báu này ở
với chúng tôi mãi mãi.
Nhưng
đời sống hàng ngày đã nuốt chửng chúng tôi, không một
ai có được thời giờ với Mẹ. Sáng sớm chỉ kịp hôn phớt
lên má Mẹ, rồi vội vã đi làm, đi học, đến tối mịt
mới về đến nhà, cơm nước Mẹ đã lo sẵn, chúng tôi yên
lặng hưởng sự chăm sóc của Mẹ mà cảm thấy bất an. Đôi
lúc nước mắt hạnh phúc cứ chực trào ra, khi nhìn nếp già
nua đang đổ xuống Bố Mẹ. Tôi không muốn Mẹ cực khổ
lo cơm nước cho cả nhà, nhưng Mẹ nói Mẹ là Mẹ, thì phải
lo cho con cháu, đến khi nào Mẹ chết hãy hay.
Mặc
dù Mẹ vẫn vui khi chúng tôi quây quần bên Mẹ, nhưng đôi
lúc, tôi bắt gặp ánh mắt Mẹ xa xăm, cùng tiếng thở dài.
Hình như Mẹ tôi cô đơn giữa những khuôn mặt quen thuộc
của con cháu, Mẹ cô đơn giữa những tiếng cười nói, ồn
ào của láng giềng. Ði giữa phố chợ, có những thức ăn,
hàng quán thân quen, với cái lạnh, cái nóng y như Sàigòn,
thế mà mẹ tôi như người ở giữa thinh không, đôi lần
Mẹ bảo mẹ nhớ Sàigòn xa ngàn dặm. Mẹ nhớ Phú Thọ, nơi
gia đình mình đến tạm cư năm 1954, Mẹ nhớ căn nhà nhỏ
bé của gia đình ở khu Trương Minh Giảng, Mẹ nhớ Ðà Nẵng,
nơi chôn giữ những tháng năm đẹp nhất đời Mẹ, với đàn
con sáu đứa, tròn mũm mĩm như đàn chó con. Mẹ hay ví chúng
tôi như thế. Những lúc Mẹ tôi nhớ đến ngày tháng cũ,
tôi ước Mẹ khóc, vì nước mắt sẽ cuốn đi mọi sầu bi.
Nhưng Mẹ không có lấy một giọt nuớc mắt nào, u buồn vì
thế, cứ chồng chất trong tâm khảm. Tôi lo sợ cho sức khỏe
của Mẹ, nhưng Mẹ tôi vẫn bình yên, không bao giờ than vãn
một điều gì.
Mẹ
sống lặng lẽ, nhưng vững vàng như mái nhà che đỡ nắng
mưa. Mẹ là linh hồn của gia đình, thiêng liêng không thể
thiếu. Mẹ thường nói, đừng bao giờ bận tâm cho sức khỏe
của Mẹ, vì chính Mẹ, Mẹ phải lo phần ấy, Mẹ phải thật
khỏe mạnh, để sống lâu, để minh chứng với hàng xóm rằng
gia đình mình là gia đình Việt Nam, với đầy đủ ân nghĩa.
Lúc nào Mẹ tôi cũng lo âu là nếu Mẹ mất đi, nhà sẽ đóng
cửa im ỉm suốt ngày, không có ai ra vào, hàng xóm sẽ không
biết gia đình mình là người Việt Nam, là dân tộc có đến
mấy ngàn năm văn hiến lễ giáo. Cha mẹ trông nom, chăm sóc
các con cho đến cuối cuộc đời. Và các con cũng gần gũi,
hủ hỉ với Bố Mẹ lúc tuổi già. Chính ý thức trách nhiệm
và cũng là niềm kiêu hãnh của người Mẹ Việt Nam này, đã
khiến cho Mẹ tôi luôn mạnh khỏe...Mẹ già như chuối Ba Hương...như
cơm nếp mật như đường mía lau.
Mùa
Thu với rằm tháng Bảy, với mùa Vu Lan Báo Hiếu hàng năm
vẫn trôi qua. Từ ngày Mẹ tôi còn trẻ, Bà tôi còn sống,
tôi tặng Mẹ những đóa cẩm chướng hồng thắm, ngày Mẹ
tôi mất Bà, tôi rụt rè tặng Mẹ những đóa hoa màu trắng,
mắt Mẹ đỏ hoe, giọng Mẹ sụt sùi. Đến ngày tôi vượt
biên xa Mẹ, tôi lo sợ mỗi lần Vu Lan đến. Tôi đã có con,
các con đang tuổi lớn khôn, tôi đang buớc vào tuổi già,
và Mẹ tôi còn phải già hơn nữa... Mẹ già như ngọn đèn
trước gió...Tôi đếm từng mùa Vu Lan và không còn can đảm
nhìn những đóa hoa màu Trắng. Tại sao lại là màu Trắng
mà không là màu Ðỏ thắm cho tất cả mọi người? Mẹ cho
dù có khuất núi, mình cũng vẫn còn Mẹ, như trong thư Mẹ
viết cho chúng tôi khi nhận được tin chúng tôi vượt thoát
đến bến bờ tự do: '' Mẹ luôn ở cạnh các con dù có thế
nào!''
Những
mùa Vu Lan sau ngày chúng tôi đoàn tụ đã là những kỷ niệm
êm đềm của Mẹ, của tôi và các con tôi. Cách đây vài năm,
tôi bị ốm nặng, Mẹ đã ôm tôi vào lòng vỗ về như khi
tôi còn ấu thơ, các con tôi đứng bên giường lo lắng, dỗ
dành tôi như đứa trẻ. Tôi khóc vùi trước hạnh phúc quá
lớn lao này. Tôi tự hỏi phải chăng ở một kiếp nào đó,
chúng tôi đã từng có những liên hệ ruột thịt máu mủ
mẹ con. Vì có như thế, chúng tôi mới ràng buộc nhau, mới
trói nhau vào mối tình mẫu tử tuyệt đẹp này. Tôi được
ngửi mùi tóc thơm thơm của Mẹ, được khóc vùi trên ngực
Mẹ, tôi đã để cho các con tôi vuốt ve bàn tay xương xẩu
gầy gò của mình, tôi đã để cho các con tôi lau nước mắt,
đã nũng nịu nuốt từng muỗng cháo từ bàn tay nhỏ bé ân
cần của con. Và tâm can như bị xé vụn khi nghe các con ru
hời...Mẹ già như chuối Ba Hương...như cơm nếp mật như
đường mía lau...
Vu
Lan năm ấy, chúng tôi tạ ơn nhau bằng một chùm hoa đủ màu,
rực rỡ. Chỉ có màu sắc của Hoa, mùi thơm ngào ngạt của
Hoa mới nói hết được nỗi niềm chúng tôi dành cho nhau.
Năm
nay mùa Vu Lan lại về, chúng tôi như bầy chim vỡ tổ, tôi
đã ở rất xa Mẹ và các con. Chúng tôi hẹn rằng sẽ điện
thoại cho nhau trong ngày Vu Lan, sẽ tặng nhau những chiếc hôn
thật kêu, thật to, tượng trưng cho màu cẩm chướng đỏ
thắm, sẽ nói nhớ nhau thật nhiều, sẽ chọn những hạnh
phúc của mùa Vu lan đã qua để kể cho nhau nghe. Sẽ áp sát
điện thoại vào ngực để nghe nhịp tim thổn thức...Chưa
gì mắt tôi đã cay...
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân