HẠNH
ĐỘC CƯ LÝ TƯỞNG
NS.
TN. Trí Hải
Kinh
Theranàmo (Trưởng Lão Danh) trong Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya,
II, 2827) kể chuyện một vị tỷ kheo luôn luôn sống một mình
và khuyên người khác nên sống như vậy. Như nhan đề kinh,
vị ấy được các tỷ kheo gọi là trưởng lão, chúng ta không
rõ vì họ tôn trọng ý muốn dấu tên của ngài hay nó có
tính cách biếm xích khi những bạn đồng tu của ngài có xã
hội tính hơn. Chúng ta gần như có được một bức hoạt
họa về vị tỷ kheo ấy trong những câu sau đây trích từ
kinh văn:
“Bấy
giờ có một vị tỷ kheo được gọi là trưởng lão, vị
ấy là một người độc cư, và tán thán hạnh độc cư. Một
mình vị ấy đi vào làng khất thực; một mình, vị ấy trở
về; một mình, vị ấy ngồi thiền; một mình, vị ấy kinh
hành.
“Một
số tỷ kheo đồng học có lẽ thấy lối sống của ông ta
hơi quái dị, nên đến bạch Phật. Phật cho gọi trưởng
lão ấy đến. Ông ta cũng xác nhận lời đồn đại về sự
ưa thích độc cư của ông. Khi Phật hỏi ông hiểu thế nào
về độc cư và thực hành nó như thế nào là đúng, ông giải
thích cho Ngài nghe thói quen thường nhật của ông như trên:
“-
Bạch Thế Tôn, một mình con vào làng khất thực, một mình
con trở về, một mình con thiền định và, một mình con kinh
hành. Bạch Thế Tôn, như vậy con là một kẻ độc cư và
tán thán hạnh độc cư.”
Lời
dạy của Phật về thái độ ấy không hẳn là một lời lên
án cũng không ca ngợi vô điều kiện. Ngài dạy: “Này trưởng
lão, quả có hình thức độc cư như vậy, Ta không phủ nhận.
Nhưng trưởng lão, Ta sẽ nói cho ông nghe cách thức độc cư
hoàn hảo nhất trong mọi chi tiết của nó. Hãy chú ý lắng
nghe.” Rồi Ngài tiếp tục giải thích như sau:
“-
Trong sự độc cư này, trưởng lão, cái gì đã qua được
bỏ qua. Cái gì chưa đến được gạt bỏ. Tham dục đối
với những tâm sở hiện tại được chế ngự. Này trưởng
lão, thế gọi là lý tưởng độc cư được hoàn thành trong
mọi chi tiết.”
Để
nêu rõ rằng người độc cư lý tưởng kiện toàn những điều
kiện trên đây chính là bậc A la hán, Phật tóm tắt lời
dạy bằng bài kệ:
Vượt
trên tất cả, biết tất cả
Bậc
thánh không nhiễm ô đối với tất cả
Được
giải thoát vì từ bỏ mọi sự
Khi
dục vọng không còn
Người
như thế Ta sẵn sàng tuyên bố
Là
một người độc cư thật sự.
Lý
tưởng độc cư nêu trong Trưởng Lão Danh Kinh dường như được
lập lại trong những bài kệ tóm tắt kinh Bhaddekaratta. Ta có
thể so sánh định nghĩa của Phật về người độc cư toàn
hảo trong kinh Trưởng Lão với những dòng sau đây ở kinh
Bhaddekaratta:
“Đừng
theo dấu quá khứ
Hay
khát vọng tương lai
Cái
gì đã qua được bỏ lại đàng sau
Và
với cái hiện tại
Dùng
tuệ giác soi chiếu.”
Trên
đây ta thấy kinh Trưởng Lão trình bày lý tưởng đích thực
của độc cư trái hẳn với quan niệm thông thường về độc
cư: lý tưởng đích thực được mô tả là một sự “độc
cư” của tâm thức bằng cách bỏ hết mọi sự thuộc quá
khứ và tương lai, và chế ngự dục vọng đối với những
tâm sở hiện tại. Những câu kệ kết luận cho thấy rõ người
độc cư lý tưởng không bị ô nhiễm đối với mọi hiện
tượng và được “giải thoát, vì từ bỏ tất cả”. Điều
này nhắc ta nghĩ đến danh từ upadhiviveka (sự giải thoát
mọi sở hữu) ám chỉ Niết bàn, sự độc cư tâm linh cao
nhất (citta viveka), và mọi nỗ lực độc cư của thân xác
phải được gắn liền vào nó một cách thích hợp. Về sự
độc cư thân xác, quan niệm thông thường là ở một mình.
Nó đem lại cho tâm thức nhà khổ hạnh cái viễn tượng bình
an vì xa lánh được đám đông điên cuồng. Dĩ nhiên sự độc
cư thân xác này thường được đức Phật đề cao xem như
một điều kiện tiên quyết để giải thoát. Bởi thế ở
cuối một đoạn văn hùng hồn ca ngợi hình thức độc cư
này, Ngài thú thật với thị giả Nàgita một cách hồn nhiên
rằng Ngài rất thoải mái ngay cả khi đại tiểu tiện mà
không thấy ai ở đằng trước hay sau mình, hoàn toàn một
mình: “Khi không thấy ai đằng trước hay đằng sau, Ta hoàn
toàn thoải mái khi ở một mình trong rừng núi.”
Cũng
như sự độc cư thể xác có nghĩa là sự thỏa thích vì không
thấy người nào ở trước hay sau mình, sự độc cư tâm linh
cũng thế, được định nghĩa là sự vắng bóng ngoái nhìn
quá khứ hay trông ngóng tương lai trong tâm trạng lo âu. Vì
đã từ bỏ những gì thuộc vị lai, ta không còn lo nghĩ về
tương lai. Quan niệm thời gian về quá khứ và tương lai trong
sự độc cư tâm linh tương ứng với không gian trước và
sau trong sự độc cư thể xác. Tuy nhiên sự giải thoát khỏi
hai yếu tố ấy tự nó không đem lại sự “thoải mái”
vốn là lý tưởng của sự độc cư, còn có một yếu tố
thứ ba cần phải loại bỏ: ấy là ta phải “vôâ ưu lự”
dù trong sự độc cư thể chất hay tâm linh. Do đó bất cứ
sự bám víu nào đối với sở hữu của mình- thuộc vật
chất hay tinh thần- chính là yếu tố thứ ba làm hỏng sự
độc cư. Khi đã điều phục hoàn toàn dục vọng đối với
những tâm sở hiện tại, với tuệ giác người ta biện biệt
rõ ràng những pháp hiện tại và thấy nó vô thường, khổ,
vô ngã.
Hai
kinh Trưởng Lão Danh và Bhaddekaratta như vậy phối hợp để
diễn tả một quan điểm về một sự độc cư siêu việt
xa hẳn ý nghĩa thông thường. Ngoài ra những chỗ khác của
tạng Pàli cũng nói ý ấy, ví dụ:
Không
nhảy quá xa, cũng không lùi lại
Đã
siêu việt được tâm thức tán loạn
Vị
tỷ kheo xả bỏ những pháp bên này bên kia
Như
con rắn bỏ cái vỏ đã khô cằn
(Sn.V,8)
Không
có gì ở trước mặt hay sau lưng
Cũng
không có gì ở trung gian gọi là của mình
Kẻ
nào không sở hữu gì, không bám víu gì
Kẻ
ấy ta gọi là một người thanh tịnh
(PC
421)
“Buông
bỏ cái gì đã qua- buông bỏ cái gì chưa tới- buông bỏ luôn
tất cả cái trung gian- siêu việt mọi hiện hữu, với một
tâm thức giải thoát mọi sự như thế, ngươi sẽ không bao
giờ trở lại trong sanh tử.”
Một
nghiên cứu tỉ giáo về hai kinh nêu trên sẽ cho thấy rõ rằng
cả hai kinh đề cập cùng một vấn đề. Nhưng làm sao để
giải thích đúng từ ngữ bí hiểm Bhaddekaratta? Trong mạch
lạc của sự thỏa luận vềø đề tài độc cư của chúng
ta, yếu tố nổi bật nhất của ẩn ngữ dường như là tiếng
ở giữa “eka” (một, đơn độc). Vì tính cách khá thông
dụng của danh từ này mà ý nghĩa của nó thường bị xem
thường. Do đó có khuynh hướng xem từ Bhaddekaratta như một
khiếm từ (chưa đủ nghĩa). Từ đơn “eka” hầu như bị
vài học giả xem như một phiếu trắng, cần phải thêm vào
những danh từ khác như “đêm” hay “sự gắn bó với cô
độc” để làm cho nó đủ nghĩa. Nhưng ta có thể chứng
minh rằng danh từ eka có một vị trí ưu thắng trong thuật
ngữ kinh tạng Pàli, nó là một biểu tượng có ý nghĩa lớn
đối với những người có khuynh hướng khổ hạnh. Đối
với họ, nó không có gì là khó hiểu vì nó mang tất cả
những hàm ẩn gắn liền với ý tưởng độc cư của nhà
khổ hạnh. Đối với họ, rõ ràng không có gì lạ không có
gì khó hiểu trong từ “eka”, và bởi thế chúng ta tìm thấy
từ này lập lại trong suốt kinh Khaggavisàna (Sn.vv.35-75) trong
điệp ngữ “eko care khaggavivànakappo” (lang thang một mình-
như một con tê giác?) Kinh Mâu Ni (Muni sutta) cũng sử dụng
từ eka trong ý nghĩa “đi một mình” ấy: “ekani carantami
munimappamattam” (bậc Thánh tinh tấn đi một mình- Sn v.213).
Từ eka cũng được tìm thấy đến 6 lần trong bài kệ của
Trưởng lão Ekavihàriya (Trưởng Lão Kệ câu 537-546). Được
“ở một mình không có người thứ hai” (ekàkiyo adutiyo-
câu 541) trong rừng sâu, đấy là niềm khát vọng của ngài,
và do đó ngài đã được đức Thế Tôn ca ngợi trong bài
kệ sau:
Ekàsanam
ekaseyyam
Eko
caram atandito
Eko
danayam attànam
Vanamte
ramito siyà - (Dhp.305)
Một
chỗ ngồi đơn độc- một giường nằm đơn độc
Và
đi một mình không mệt mỏi
Một
mình tự hàng phục, ông ấy có thể tìm thấy khoái lạc trong
sự độc cư ở núi rừng. (PC.305)
Những
khó khăn về từ nghĩa của tiếng "eka" như vậy đã được
vượt qua, bây giờ ta có thể bàn đến tương quan của nó
với từ "ratta" tiếp sau đó. Từ "ekaratta" đã được giải
thích theo truyền thống là "một đêm" và ta đã thấy Nànamoli
và I.B. Horner chứng minh ở trên rằng lối giải thích ấy
không ổn. Đại đức Nànamoli đã gợi ý một cách chính xác
rằng ratta có thể là một từ phát xuất từ ngữ căn vranji
(mong muốn, bám víu). Nhưng ông đã ngần ngại không theo dõi
hết những hàm ẩn của giả thuyết ông, có lẽ vì gặp phải
khó khăn ở danh từ "eka". Trên đây chúng ta đã lột được
ý nghĩa của từ này, nên có thể tiếp tục khai thác sự
gợi ý của đại đức đến chỗ toàn vẹn. Sự "yêu thích
độc cư" (xem bài kệ trên) được xem như một loại "khát
vọng lợi lạc"- nếu ta có thể dùng từ ngữ này một cách
dè dặt. Chẳng hạn, trong kinh Nàlaka (Sn.) chúng ta tìm thấy
một sự phê chuẩn rõ rệt đối với một "bám víu" hay "thích
thú" như vậy:
Esànassasikkhetha-
samanopàsanassa ca ekattam monamakkhàtam eko ce abhira-
missasi
atha bhàsisi dasa disà.
Sutta
Nipàta (Sn. 718-719)
"Hãy
tập luyện ngồi một mình ở nơi thích hợp cho một ẩn sĩ.
Sự độc cư được gọi là thánh hạnh, và nếu người nào
vui thích trong hạnh độc cư, người ấy sẽ chiếu sáng cả
mười phương"
Hoặc
chỗ khác trong kinh Xá Lợi Phất, ta thấy từ ratta (thích thú,
bám víu, khát khao) được sử dụng trong nghĩa nêu trên, nói
đến sự yêu thích độc cư của Phật và sự từ bỏ của
Ngài:
Sabbam
- tamam-vinodetvà-elo'va rati majjhagà
(Sn.v
956)
"Đã
xua tan mọi bóng tối- Ngài tìm thấy khoái thích trong hạnh
độc cư."
Tất
cả dẫn chứng trên đi đến kết luận rằng ekaratto trong
từ Bhaddhekaratto
có
nghĩa là "con người bám lấy hạnh độc cư" hay “con người
yêu thích độc cư". Bây giờ chúng ta coi lại hình dung từ
"Bhadda" (lành, tốt, cao cả). Như đã nói trong phần luận về
kinh Trưởng Lão Danh ở trên, sự ở một mình về phương
diện thể xác mà thôi cũng không phải là tất cả của hạnh
độc cư mà Phật tán thán. Ta cũng nên nhớ rằng Ngài rất
dè dặt khi phẩm bình về lời của vị trưởng lão nói về
thói quen thường nhật của ông, và sau đó Ngài tiếp tục
giảng dạy ông cách thức độc cư toàn hảo trong mọi chi
tiết là như thế nào. Về điểm này ta có thể so sánh với
kinh Migajàla (Tương Ưng bộ IV 357) trong đó Ngài định nghĩa
hai từ ekavihàri và sadutiyavihàri.
"Này
Migajàla, có những hình sắc do mắt nhận biết, thích thú,
dễ chịu, đáng ưa, khoái lạc, liên hệ đến khoái lạc giác
quan và đầy cám dỗ. Nếu một tỷ kheo thích thú đối với
chúng, xác nhận và bám lấy chúng, thì khi ấy, vì ông thích
thú, xác nhận và bám víu chúng, sự thích thú phát sinh (nandi).
Khi có sự thích thú, vị ấy khát khao, và khi khát khao thì
có sự trói buộc. Một người bị trói buộc bởi xiềng xích
của sự thích thú, hỡi Migajàla, thì ta gọi là "một người
ở với (kẻ) thứ hai" (sadutiyavihàri) (nghĩa là không còn độc
cư).
Sau
khi giảng giải tương tự về các đối tượng của các giác
quan khác, Phật tóm tắt bằng những lời sau đây:
"Hỡi
Migajàla, một tỷ kheo sống như vậy, thì dù vị ấy có đi
đến những nơi xa xôi nhất trong núi rừng nơi không có tiếng
động, không ồn ào, nơi vắng bặt bóng người, nơi không
bị người phiền nhiễu- những nơi thích hợp cho sự độc
tọa tư duy- mặc dù vậy, vị ấy vẫn được gọi là "người
ở với một (pháp) thứ hai". Vì sao? Bởi vì dục vọng là
"kẻ thứ hai" (bạn) của vị ấy và vị ấy không bỏ được
dục vọng. Do đó, vị ấy được gọi là "Người ở với
một kẻ thứ hai"
Người
độc cư (ekavihàri) khi ấy được định nghĩa là vị tỷ
kheo không thích thú, không xác nhận hay bám víu vào những
đối tượng của sáu giác quan và như vậy giải thoát khỏi
trói buộc xiềng xích của sự thích thú. Sự tóm tắt của
Phật trong trường hợp này không kém phần hùng biện hơn
nhận xét kết thúc của Ngài trong kinh Nàgita- sự mâu thuẫn
giữa chúng chỉ là bề mặt, nếu ta xét kỹ mạch văn.
"Này
Migajala, một vị tỷ kheo sống như vậy thì dù vị ấy có
ở trong làng mạc, ở giữa các tăng ni, thiện nam, tín nữ,
vua chúa, đình thần, ở giữa những bậc thầy và đồ đệ
các tôn giáo khác, vị ấy vẫn được gọi là kẻ độc cư.
Vì sao? Vì dục vọng là kẻ "thứ hai" của vị ấy đã bị
loại bỏ. Do đó, vị ấy được gọi là một người độc
cư."
Loại
độc cư lý tưởng được tán dương trong hai kinh Trưởng
Lão Danh và Migajàla cũng là đề tài của các kinh Bhaddekaratta.
Ở đấy phần tóm tắt và lược giải liên hệ đến vị
Bhaddekaratta mà bây giờ ta có thể dịch là "Người yêu sự
độc cư lý tưởng" sự phân biệt của Đức Phật giữa tình
trạng độc cư thể xác và độc cư tâm linh là bằng chứng
dồi dào biện minh sự sử dụng tĩnh từ bhadda, và câu kệ
kết thúc, quả vậy, đã cho thấy lời tán dương ấy là của
chính đức Phật.
Evamvihàrim
àtàpim- ahorattam atan
ditam
Tam
ve bhaddekarattoti-santo àcikhate
muni
"Một
người an trú như vậy một cách tinh tấn
Ngày
đêm không mệt mỏi
Người
ấy bậc tịnh thánh đã gọi là
"Kẻ
yêu thích sự độc cư lý tưởng"
Ý
tưởng của nhan đề tuy không phải là điểm duy nhất đáng
chú ý trong kinh Bhaddekaratta; cả hai phần tóm tắt và luận
giải mặc dù ngắn ngủi, có thể đại biểu cho cốt tủy
của chánh pháp trong tất cả chiều sâu và ý nghĩa của nó.
Chẳng hạn trong phần tóm tắt có hai từ ngữ khó "asamhiram-asamkuppam"
có ý nghĩa riêng của nó. Những điểm này sẽ được đề
cập trong phần chú giải, vì tốt nhất nó phải được thẩm
định trong ánh sáng của chính bản kinh.
KINH
ĐỘC CƯ LÝ TƯỞNG
Như
thế này tôi đã nghe. Một thời, đức Thế tôn ở nước
Xá vệ trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc. Ở đấy, Ngài bảo
các vị tỷ kheo: “Này các tỷ kheo”- “Dạ, bạch đức
Thế Tôn,” các vị tỷ kheo trả lời Phật. Đức Thế Tôn
dạy: “Các tỷ kheo, ta sẽ giảng cho các ông tóm lược và
luận giải về người yêu thích sự độc cư lý tưởng. Hãy
lắng nghe, ta sẽ nói.” - “Bạch Thế Tôn, chúng con xin nghe.”
Các vị tỷ kheo trả lời đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói
bài kệ này:
“Đừng
theo dõi dấu vết quá khứ
Hay
khát vọng tương lai chưa đến
Cái
gì đã qua được bỏ lại đằng sau
Cái
chưa đến thì chưa đạt được
Nhưng
cái gì thuộc hiện tại, ngươi hãy quán sát
Bằng
tuệ giác khi nó xảy đến
Bất
động- không sân
Trong
trạng thái ấy người trí nên tăng trưởng
Ngay
hôm nay hãy nỗ lực
Vì
ngày mai cái chết có thể đến- ai biết?
Chúng
ta không thể nào điều đình
Với
cái chết đã thu hút vô số người
Nhưng
kẻ nào an trú như trên một cách tinh tấn
Ngày
đêm không mệt mỏi
Thì
kẻ ấy bậc Thánh gọi là
“Người
Yêu Thích Hạnh Độc Cư Lý Tưởng.”
Lại
nữa, này các tỷ kheo, người theo dõi dấu vết quá khứ là
như thế nào? Vị ấy nghĩ: “Tôi có sắc như vậy trong quá
khứ” và thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thọ
(cảm giác) như vậy trong quá khứ” vị ấy thích thú nghĩ
về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có tưởng (tri giác) như vậy
trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi
có hành như vậy trong quá khứ” và thích thú nghĩ về nó.
Vị ấy nghĩ: “Tôi có thức như vậy trong quá khứ” và
thích thú nghĩ về nó. Như vậy, này các tỷ kheo, là người
ấy theo dõi dấu vết quá khứ.
Và
này các tỷ kheo, thế nào là người không theo dõi dấu vết
quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Tôi có sắc như vậy trong quá khứ”
nhưng không thích thú về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thọ
như vậy... có tưởng như vậy... có hành như vậy... Vị ấy
nghĩ, “Tôi có thức như vậy trong quá khứ” nhưng không
thích thú về nó. Ấy gọi là vị ấy không theo dõi dấu vết
quá khứ.
Và
này các tỷ kheo, thế nào vị ấy khát vọng tương lai? Vị
ấy nghĩ: “Tôi có thể có sắc như vậy trong tương lai”
và thích thú về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể có thọ...
có tưởng... có hành ... vị ấy nghĩ, “Tôi có thể có thức
như vậy trong tương lai” và thích thú về nó. Ấy gọi là
vị ấy khát vọng tương lai.
Và
này các tỷ kheo, thế nào là vị ấy không khát vọng tương
lai? Vị ấy nghĩ: “Tôi có thể có sắc như vậy trong tương
lai” nhưng không thích thú nghĩ về nó. Vị ấy nghĩ: “Tôi
có thể có thọ như vậy... tưởng như vậy... hành như vậy...
Vị ấy nghĩ, “Tôi có thể có thức như vậy trong tương
lai” nhưng không thích thú về nó. Ấy gọi là vị ấy không
khát vọng tương lai.
Và
thế nào gọi là bị lôi kéo vào những pháp hiện tại? Ở
đây, này các tỷ kheo, một người phàm phu không được học
hỏi, không gần gũi những bậc Thánh, không khéo giải pháp
của bậc Thánh, không luyện tập pháp của bậc Thánh, không
gần gũi thiện nhân, không khéo giải pháp của thiện nhân,
không được tu tập pháp của thiện nhân, chấp “sắc là
ngã, ngã có sắc”, chấp “sắc ở trong ngã hay ngã ở trong
sắc”. Người ấy chấp thọ là ngã, thọ có ngã, chấp thọ
ở trong ngã hay ngã ở trong thọ. Người ấy chấp tưởng
là ngã, tưởng có ngã, chấp tưởng ở trong ngã, chấp ngã
trong tưởng. Người ấy chấp hành là ngã, ngã có hành, chấp
hành ở trong ngã hay ngã ở trong hành. Người ấy chấp thức
là ngã, chấp ngã có thức, chấp thức ở trong ngã hay ngã
ở trong thức. Ấy gọi là bị lôi kéo vào những pháp hiện
tại.
Và
hỡi các tỷ kheo, thế nào một người không bị lôi kéo vào
những pháp hiện tại? Ở đây, hỡi các tỷ kheo, một người
môn đệ có học, theo lời dạy của bậc Thánh, khéo giải
pháp của bậc Thánh, luyện tập pháp của bậc Thánh, theo
lời dạy của những thiện nhân, khéo giải pháp thiện nhân,
luyện tập pháp thiện nhân, nên không chấp sắc là ngã hay
ngã có sắc, không chấp sắc trong ngã hay ngã ở trong sắc.
Vị ấy không chấp thọ là ngã ... không chấp tưởng là ngã...
không chấp hành là ngã... không chấp thức là ngã, ngã có
thức, thức trong ngã hay ngã trong thức. Ấy gọi là không
bị lôi kéo vào những pháp hiện tại.
Hãy
đừng theo dõi dấu vết quá khứ
....
Người
ấy bậc Tịnh thánh đã gọi là
Kẻ
yêu thích hạnh độc cư lý tưởng
Chính
để ám chỉ điều này mà ta nói: “Này các tỷ kheo, Ta sẽ
giảng cho các ông tóm lược và luận giải về kẻ yêu mến
hạnh độc cư lý tưởng.”
Đức
Thế Tôn nói như vậy, và các vị tỷ kheo hoan hỉ tín thọ
lời Ngài đã dạy.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân