Từ
“Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng” đến
Thiền-sư
Tuệ Sỹ, Vầng trăng Quê Hương
Diệu
Trân
Hè
năm nay, nắng đến sớm nên hồ sen của chủ nhân Thảo-gia-trang
cũng vươn lá, kết hoa khi mùa an-cư-kiết-hạ bắt đầu. Một
vài người từng có dịp ghé qua, đã hỏi “ Sao lại Thảo-gia-trang?
Nơi đây đâu phải chỉ có cỏ mà còn mai,lan, cúc,trúc, mận
đào chanh quýt …”; chủ nhân nhỏ nhẹ thưa rằng “Vâng,
vườn tại hạ không chỉ có cỏ nhưng thiển nghĩ, nơi nào
có đất, nơi đó tất có cỏ, mà có đất, không tất có
mai lan cúc trúc. Cỏ với đất như núi với sông, như cây
với rừng …. Tĩnh tâm một chút ta còn có thể nói, như có
với không, như chân với vọng, nên có vườn cỏ là hàm có
muôn loài thảo mộc. Tại hạ đặt tên vườn nhà như thế
chỉ do từ lòng tham mà thôi !”
Chiều
nay, chủ nhân Thảo-gia-trang lăng xăng xếp dọn ngoài lều
trúc để đón tiếp Nguyễn-tiên-sinh. Ghế mây đặt ngay ngắn,
bình trà đã sẵn sàng, những đóa sen hé nhụy từ sáng, ngạt
ngào hương. Khách đứng trước thềm, còn bận rũ những cánh
lan tím vương trên áo nhật bình thì chủ nhân đã mở cửa,
cung kính vái chào:
-
Kính bạch Nguyễn-tiên-sinh, tại hạ vô cùng hân hạnh.
Khách
chắp tay đáp lễ, môi điểm nụ cười hòa ái:
-
Chúng ta là huynh đệ lâu năm, đừng khách sáo xưng hô như
thế chứ !
-
Đa tạ đại huynh cho phép, tiểu muội xin mời.
Vừa
nói, chủ nhân Thảo-gia-trang vừa cúi mình, đứng qua một
bên.
Nắng
ngoài vườn bỗng rực rỡ như cùng chủ nhân tiếp khách quý.
-
Thơm quá ! Như sen từ Tịnh-tâm-hồ. Cám ơn muội đã có nhã
ý chia xẻ hương thanh quý này.
Quả
đó là nhã ý của chủ nhân, hương ngọc tinh khiết lưu ly
này ai biết trân quý hơn Nguyễn-tiên-sinh, người từ hơn
hai thập niên ẩn tu nơi tịnh cốc, chỉ hoằng pháp bằng
trí tuệ qua kinh dịch, thi phú. Lâu lâu, hội đủ duyên, người
rời am như thiền-sư thõng tay vào chợ. Duyên hôm nay cũng
vậy chăng ?
Khi
chủ, khách an tọa, Nguyễn-tiên-sinh trao cho Trần-nương, chủ
nhân Thảo-gia-trang, một gói nhỏ, cột sợi giây lụa mầu
lam ngọc:
-
Quà của muội.
Trần-nương
đỡ bằng hai tay, nét hân hoan không dấu được qua ánh mắt:
-
Đa tạ đại huynh, cho phép tiểu muội mở ngay nhé !
Có
lẽ đã biết rõ cô em kết nghĩa này, Nguyễn-tiên-sinh tự
tay rót trà khi Trần-nương hấp tấp gỡ sợi giây lụa mềm.
Cô reo lên:
-
“Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng”, thầy Tuệ
Sỹ viết ! Thật là thần giao cách cảm, tiểu muội đang đi
tìm cuốn này mà đến đâu cũng được trả lời là không
có, hoặc hết rồi !
Nguyễn-tiên-sinh
trao một tách trà cho Trần-nương và nói:
-
Ta cùng nâng tách nhé !
-
Vâng, chung này dâng thầy Tuệ Sỹ, chung này đãi Tô Đông
Pha.
Buổi
thưởng ngoạn hoa sen đã tình cờ lồng vào những áng thơ
trác tuyệt của hai thi nhân, lộng trong nắng gió phong thái
hào sảng muôn đời của thơ nhạc.
-
Đại huynh đã đọc rồi chứ ?
-
Đã. Không chỉ một lần, bởi những gì thầy Tuệ Sỹ viết
không phơi phới cho người mua vui. Muốn nhận được tinh hoa
tuyệt luân ẩn dụ sau chữ nghĩa đó không thể chỉ đọc
bằng nhục nhãn mà phải bằng tuệ nhãn.
-
Đa tạ đại huynh đã từng chỉ dạy tiểu muội như thế
nên khi đọc những tập thơ cũa thầy Tuệ Sỹ mà đại huynh
gửi cho, tiểu muội may mắn thấy thấp thoáng bóng hình thầy.
Cuốn Tô Đông Pha này …
-
Muội sẽ lại có dịp thấp thoáng thấy thầy nữa vì huynh
nghĩ, thầy Tuệ Sỹ viết về Tô Đông Pha không phải chỉ
vì thơ mà còn vì những cảnh huống trùng hợp. Đồng cảnh
thì dễ cảm thông thôi.
-
Chẳng hạn như …
-
Như Tô Đông Pha cũng bị án tử hình, tuy lý do có khác. Thi
sỹ bị ganh ghét, bọn nịnh thần dựng nên vụ án “bài
xích Tiên-đế” để khép tội thi sỹ. Tất nhiên, ông giãi
bầy tâm sự bằng thi ca. Ông viết:
“Bất
ngộ tục duyên tại
Thất thân đạp nguy cơ”, nghĩa là, chưa tỏ ngộ đạo lý,
tục duyên còn nặng; để cho sa chân vào bước nguy cơ(+)
-Thưa
đại-huynh, hai câu đó, hay thì có hay nhưng ý thì bi lụy qúa.
Thầy Tuệ Sỹ cũng có hai câu diễn tả đúng tâm trạng này
khi thầy ngồi tù, tiểu muội xin dẫn:
“Nhất
triêu cước lạc huyền nhai hạ
Thỉ
bả chân không đối tịch hồng”(*) tiểu muội tạm dịch
thế này “Sẩy chân rơi xuống vực sâu. Lấy Chân Không đối
đêm thâu rực hồng”. Thưa đại huynh, cũng cảnh tù đày,
Tô Đông Pha khóc lóc than thở nhưng thầy Tuệ Sỹ thì quyết
lấy trí tuệ, lấy đạo lý, lấy rốt ráo uyên nguyên là
chân không mà đối lại với bạo quyền. Thưa huynh, có đúng
thế không ?
Tách
trà ngưng trên môi Nguyễn-tiên-sinh. Ngạc nhiên, tiên-sinh nhìn
cô em kết nghĩa:
-
Mới thí dụ hai câu thơ, muội đã có câu đối chiếu ngay.
Muội đọc thơ thầy Tuệ Sỹ kỹ lắm rồi hả ?
-
Thưa đại huynh, nghe lời huynh căn dặn là đọc thơ thầy
không chỉ đọc một lần mà bắt được ý nên muội đã
đọc … hơn một lần. Nhưng chữ nghĩa của thầy như núi
cao vực sâu, muội lò dò từng bước, có thấy được bao
nhiêu, xin huynh chỉ dẫn thêm.
-
Huynh gửi sách của thầy cho muội chính là để muội tự
tìm đấy. Bây giờ, huynh nhớ thầy viết gì về Tô Đông
Pha trong cuốn này thì chúng ta sẽ nói chuyện nhé. Muội nhận
xét hai câu vừa rồi đúng đấy. Thi sỹ tuy than thở nhưng
cũng biết do đâu mà sa vào vòng lao lý. Thi sỹ viết thế
này:
“Tự
tiếu bình sinh vị khẩu mang
Lão
lai sự nghiệp chuyển hoang đường”, ý nói là, bình
sinh, vì cái miệng mà mang họa; càng về già, sự nghiệp càng
trở nên hoang đường(+) Đây là thời gian thi sỹ đang bị
đày ở Hàng Châu.
-
Thưa đại huynh, trong trại giam ở SàiGòn năm 1979, thầy Tuệ
Sỹ cũng trải lòng mình bằng thi ca. Thơ trong tù mà đẹp
như non cao biển rộng. Chắc huynh cũng đã đọc những câu:
“Ôi
tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô
hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm, ta luân hồi vô thủy
Đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao”(*);
hay
thể hiện tâm từ bằng hạnh Bồ Tát:
“Yêu
em dâng cả dáng chiều thu
Em
đốt tình yêu bằng hận thù
Cháy
đỏ mùa đông ta vẫn lạnh
Giấc
mơ không kín dãy song tù”(*)
Khi
đọc những câu này, muội cảm thấy tự đáy lòng mình như
có muôn ngàn phím tơ rung. Thầy Tuệ Sỹ muốn chúng ta nhìn
thầy như một con người bình thường. Con người đó, khi
bị hành hạ, bị tước đoạt tự do thì cũng “lảo đảo
giữa tường cao” nhưng ánh sáng đạo pháp ngời sáng trong
thân tứ đại nên dù “trưa dài lắm, ta luân hồi vô thủy”
mà “đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao” Đó là năm thầy
khoảng bốn mươi tuổi.
-
Nói đến tuổi thì huynh nhớ, năm Tô Đông Pha bốn mươi cũng
có viết một câu thế này “Vị ưng hồi thủ yểm lung tù”,
nghĩa là, chưa dám quay đầu lại vì còn sợ bị tù đày giam
hãm (+).
-
Ấy, thưa đại huynh, muội cũng vừa đọc được dăm bài
thơ tù bằng Hán tự của thầy Tuệ Sỹ, đối chiếu với
ý thơ của Tô Đông Pha thì khí khái thật khác hẳn. Muội
xin trích dẫn:
“Trách
lung do tự tại
Tán
bộ nhược nhàn du
Tiếu
thoại độc ảnh hưởng
Không
tiêu vĩnh nhật tù”(*)
Đọc
được mấy câu này, muội ngưỡng phục quá nên đã vận
dụng vốn chữ Hán nhẹ tênh mà dịch là:
“Nhà
tù chật, khó giam lòng tự tại
Khách
nhàn du ta thả bộ thong dong
Ta
cười nói, mình ta nghe thanh thản
Ngày
tù dài trôi nhẹ tựa như không.”
Thưa
huynh, thi sỹ Tô Đông Pha dù mang tâm hồn phóng khoáng của
thi nhân vẫn không thoát khỏi sự sợ hãi, không dám trực
diện nghịch cảnh mà sống thực với bản chất mình. Thầy
Tuệ Sỹ cũng là một thi sỹ chứ, và, vì thầy còn là một
thiền-sư, một vị chân tu khả kính nên thầy đã mang tinh
thần Bát Nhã mà đi trên đường bằng phẳng đầy hoa thơm
cỏ lạ cũng như trên hầm hố chông gai. Với tinh thần vô
úy đó thì không gian nào giam được tâm hồn bay bổng
bao la !, nên cũng cùng trạng huống mà thi sỹ Tô Đông Pha
đau đớn, tự trói mình chặt hơn, ngột ngạt hơn, trong khi
vị thiền-sư của chúng ta thanh thản nhàn du thả bộ trong
phòng giam nên ngày tù tưởng dài mà trôi nhẹ như không.
Nguyễn-tiên-sinh
rót thêm trà vào tách của Trần-nương. Cô vội đỡ:
-
Thưa đại huynh, muội không dám vô phép. Xin để muội được
tiếp huynh.
-
Tách trà này, huynh thưởng muội đấy. Vì sao, muội biết
không ? Vì lời vừa thốt “Vị thiền-sư của chúng ta”.
Ấm áp quá ! Thân thương quá ! Thầy Tuệ Sỹ chính là vị
thiền-sư của chúng ta.
-
Vâng, muội hiểu ý huynh muốn dạy rằng, chúng ta đây chẳng
phải chỉ là huynh, là muội mà là những người Việt Nam
còn mang trong lòng tình tự quê hương và đạo pháp.
-
Đúng thế, Thầy Tuệ Sỹ là hình ảnh dãy Trường Sơn sừng
sững, là biểu tượng của sự im lặng hùng tráng, là bóng
dáng từ bi của ngàn mắt ngàn tay, lắng nghe và yêu thương
muôn người, muôn loài.
-
Đại huynh dạy chí phải. Trong suốt mười năm, từ khi toàn
quê hương Việt Nam nhuộm đỏ tới khi thầy Tuệ Sỹ bị
bắt và lãnh án tử hình, thầy đã thể hiện Bồ-Tát- hạnh,
xả thân cứu giúp đồng bào hoạn nạn, an ủi dìu dắt tăng
sinh, trợ duyên Phật tử khắp nơi khi đạo pháp bị chà đạp,
phỉ báng. Muội biết được phần nào tấm lòng biển rộng
của thầy khi đọc những câu:
“
Mười
năm đó anh quên mình sậy yếu
Đôi
vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh
cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản
tình ca vô tận của Đông Phương
Và
ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa
con đường còn rợp khói tang thương
Trong
mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn
chân tình như mưa lũ biên cương”(*)
Thưa
huynh, thầy Tuệ Sỹ vào chùa từ thuở nhỏ, nhân dáng lúc
nào cũng gầy gò mà trí tuệ luôn phát tiết tinh anh. Giữa
sức mạnh bạo lực, thầy quên mình sậy yếu để nói thay,
làm thay cho muôn triệu đồng bào nên trên con đường rợp
khói tang thương đó, thầy vẫn giữ vững lòng băng thạch,
tràn ngập chân tình như mưa lũ biên cương. Có những đoạn
thơ thầy bộc lộ dung dị như thế. Ngay cả sau khi lãnh án
tử hình, nằm trong nhà giam chờ chết, lòng Bồ Tát vẫn yêu
người như chưa hề vơi; huynh nhớ câu này không:
“Lặng
lẽ nằm im dưới đáy mồ
Không
trăng không sao mộng vẩn vơ
Tại
sao người chết, tình không chết?
Quay
mấy vòng đời, môi vẫn khô”(*)
Thưa
huynh, trong thơ Tô Đông Pha có bài nào thể hiện tình yêu
bao la đó không ?
-
Muội gợi ý huynh mới nhớ bốn câu của Tô Đông Pha, cũng
đồng cảnh nằm trong tù chờ án tử thi hành. Bốn câu này
thi sỹ nhờ cai ngục chuyển cho bạn thân là Tử Do. Ý thơ
đầy tuyệt vọng, than thở chứ không bát ngát bao dung như
bốn câu muội vừa đọc của thầy Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha
viết thế này:
“Thị
xứ thanh sơn khả mai cốt
Tha
niên dạ vũ độc thương thần
Dữ
quán thế thế vi huynh đệ
Hựu
kết lai sinh vị liễu nhân”, ý là, nơi này non xanh có thể
chôn xương được. Sang năm, mưa đêm chỉ riêng hồn mình
lạnh lẽo. Ước nguyện cùng nhau đời đời làm anh em. Lại
kết duyên nợ đời vĩnh viễn của văn chương” (+). Cái
tình vị kỷ cá nhân này cũng thể hiện khá nhiều nơi thơ
ông khi thị thiếp của ông là Triêu Vân mất năm nàng mới
34 tuổi và ông đã 61. Triêu Vân là người thiếp được Tô
Đông Pha yêu quý nhất. Nàng thường hầu rượu ông rồi dạo
phách nhịp, hát bài Từ của ông:
“Hoa
thốn tàn hồng thanh hạnh tiểu
Yến
tử phi thời.
Lục
thủy nhân gia nhiễu
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên
nhai hà xứ vô phương thảo” ý nói, trên cành liễu, bông
liễu đã kết trái, trên hạt của nó có những sợi lông
như lông tơ. Ngọn gió muộn mùa thu thổi qua, bông liễu bay
đi; ngoài kia, bông liễu tản mạn triền miên, tản mạn bay
đi; ngoài kia, ven trời vạn nẻo, đâu không là cỏ non (+)
Theo sách vở ghi lại, thường khi hát tới đây là Triêu Vân
bật khóc vì liên tưởng mùa thu và mùa xuân, hai tuổi đời
cách biệt nhưng nồng nàn trong cùng một tình thơ !
-
Thưa đại huynh, dẫn chứng đến đây thì chắc huynh cũng
đồng ý rằng, ngoài thi tứ trác tuyệt của văn chương, cõi
thơ thi sỹ Tô Đông Pha và cõi thơ Thiền-sư Tuệ Sỹ thật
hoàn toàn khác biệt về ý tình. Đồng cảnh ngộ tù đày
mà người thì oán hận, tuyệt vọng khóc than, người thì
thanh thản an nhiên hỷ xả; Cũng trái tim rung động của thi
nhân, người thì chỉ diễn cảm cho chính mình và cho những
người mình yêu, những gì mình thích; người thì mượn tài
hoa đó như phương tiện để tỏ bày lòng yêu dấu và xót
thương hết thảy muôn loài muôn vật, yêu cả những kẻ đang
tạo ác nghiệp. Yêu đó là tình yêu của vị sa-môn từng
ngồi thiền định 49 ngày đêm dưới cội bồ-đề, hơn 2600
năm trước, khi bừng vỡ cửa ngục vô minh đã giam hãm con
người mịt mù trong bóng tối !
Nguyễn-tiên-sinh
tủm tỉm cười. Trần-nương tiếp thêm nước vào bình, chợt
nhìn Nguyễn-tiên-sinh, e ngại những lời nói hăng say quá của
mình có thể phạm thượng chăng ? Đoán biết ý cô em kết
nghĩa, Nguyễn-tiên-sinh điềm đạm:
-
Muội nhận xét không sai đâu nhưng đừng quên rằng giữa
đồng cảnh mà không đồng thân thế thì cảm nghĩ và hành
xử có thể chẳng đồng, tất là chuyện thường thôi. Giữa
thi sỹ -dù là đại thi sỹ- với thi sỹ thiền sư thì ý tình
ẩn dụ trong thi ca phải khác chứ ! Nhưng chúng ta cũng có
thể bắt gặp thấp thoáng đôi nét đồng điệu trong phút
giây mà cả hai cùng chung nhịp thở nồng nàn của trái tim
thi nhân diễm lệ. Muội nghe này, Tô Đông Pha viết như vầy
có đẹp, có thơ không:
“Dĩ
hỉ thiền tâm vô biệt ngữ
Thượng
hiềm thế phát hữu thi ban”; tâm thiền không lời nhưng đạo
thơ có lời, cả hai cùng trong phương trời viễn mộng của
ông, cả hai đưa đẩy nhau đến cùng tuyệt càn khôn trong
bất động, trong vô ngôn cho đến khi:
“Tố
diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy
trang bất thốn tàng hồng
Cao
tình dĩ trục hiểu vân không
Bất
dữ lê hoa đồng mộng”, là đến chỗ đơn sơ như cõi mộng
ban đầu; ban đầu từ một gương mặt trong ngọc trắng ngà
không son phấn, rã cánh hồng mà nụ vẫn còn tươi (+)
-
Đa tạ đại huynh đã đọc cho nghe những hàng châu ngọc đó
của Tô Đông Pha khiến muội liên tưởng tới giòng nhạc
dìu dặt mênh mang chở hồn thơ Tuệ Sỹ. Huynh nghe thử những
câu này xem có thấy âm ba rợn sóng không nhé:
“Ai
tóc trắng đìu hiu trên đỉnh tuyết
Bước
chập chờn heo hút giữa màn sương
Viên
đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh
Hồn
tôi đâu, trong dấu tích hoang đường?”(*)
hay
đoản khúc:
“Người
mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe
môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như
cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta
yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao”(*)
-
Hay lắm ! Tuyệt vời lắm ! Phải là thi-sỹ-thiền-sư mới
vẽ được những bức tranh phấn lụa kỳ ảo như câu thơ
này:
“Người
đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng
Kể
chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa
Con
bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng
Nhưng
về đâu một chiếc lá xa mùa”(*)
Chưa
cần phân tích, đi tìm ẩn dụ gì, chỉ đọc lên thôi cũng
hạnh phúc, cũng sung sướng quá, như bất ngờ trong gió thoảng
làn hương lạ làm ta ngất ngây, phải không, muội ?
-
Vâng, thưa đại huynh, trên thềm rêu, tình cờ thấy bông hoa
dại nở ta còn dừng lại, ngắm nhìn, cám ơn hoa đã thầm
lặng nở vì đời; huống chi, trước kho tàng vô tận của
bao thi nhân đã cống hiến và chia xẻ từng tơ rung của phím
đời chất ngất hào khí. Muội trân quý lắm, những hạt
ngọc vô giá, mượn phương tiện từ-chương mà chia xẻ với
thế nhân. Hôm nay, muội được phép huynh mà lạm bàn về
hai thi nhân chỉ vì tác phẩm này thầy Tuệ Sỹ viết về
thi sỹ Tô Đông Pha với lòng trân quý quá, mà hoàn cảnh lại
nhiều điểm tương đồng. Mang tinh thần vô ngã, thầy khen
người, tất tự quên mình nhưng, là người đọc, muội nhìn
thấy ẩn sau cái vô ngã của thầy là Vầng Trăng Quê Hương.
-Vầng
trăng quê hương ? ý muội muốn nói gì ?
-
Thưa đại huynh, những bài thơ của thầy Tuệ Sỹ mà muội
may mắn được đọc, dù thơ khóc, thơ đau, thơ thiền hay
ngay cả thơ chết muội vẫn cảm nhận được bát ngát Từ-bi-tâm,
Giác-ngộ-tâm, Hoan-hỉ-tâm, Bồ-đề-tâm, Sám-nguyện-tâm,
Bất-thối-tâm, Tri-ân-tâm … Từ thơ thầy, muội thấy ánh
trăng tỏa ra qua Pháp Hoa, Bát Nhã, Kim Cang; qua vườn Yêm La
tới Trúc Lâm, qua giòng sông Ni Liên Thuyền lên đỉnh núi
Linh Thứu, qua thành thị đến thôn quê, qua bát cơm rau chia
hạt muối mè, qua mồ hôi nước mắt rỏ trên từng tất đất
Quê Hương. Thầy từng nhỏ nhẹ nói “Thầy có làm chi nhiều
đâu !”. Vâng, thầy không làm chi nhiều, thầy chỉ ở lại
với quê hương khi quê hương quằn quại thịt nát xương tan,
như ngài Địa Tạng tình nguyện ở lại địa ngục độ cho
hết thảy chúng sanh ma quỷ. Vâng, thầy không làm chi nhiều,
thầy chỉ thể hiện Bi Trí Dũng để nói lời chân thật thay
cho những người không thể, hoặc không dám nói, dù khi nói
lên điều đó thầy đã đổi được bản án tử hình vô
lý và vô nghĩa. Đại huynh ơi, thầy Tuệ Sỹ không làm chi
nhiều, thầy chỉ không mang tâm sân hận những kẻ độc ác,
ngay với bản thân thầy. Thầy lặng lẽ nhưng uy nghiêm giáo
hóa họ bằng tâm an nhiên tự tại ngay trên bờ vực thẳm
tử sinh. Chính nơi ranh giới tử sinh đó, thầy thể hiện
hạnh vô úy làm rung chuyển đại địa, để từ Cửa Tử,
thầy đã trở thành Bất Tử trong lòng muôn Phật tử, muôn
triệu người Việt Nam khắp năm châu bốn biển, và ngay cả
trong lòng những kẻ vô minh từng trói xiết thầy bằng tam
thược.
-
Muội cũng biết đó, thầy nói không làm chi nhiều, thầy chỉ
đang tiếp tục vắt từng giọt máu trong thân hao gầy, trao
truyền năng lượng trí tuệ tới tăng sinh khắp nơi bằng
bất cứ phương tiện nào thầy có được. Nhờ ơn thầy mà
bao tăng sinh vẫn còn được thọ nhận pháp thí ngay giữa
thời mạt pháp. Kinh, sách, thơ, văn mà chúng ta có đây là
do hằng đêm thầy âm thầm tận dụng chút thì giờ ít ỏi
còn lại để cặm cụi dịch, viết, nên trên thư kệ, chúng
ta mới tiếp tục có từng đài kinh quý báu, từng dãy sách
uyên thâm, hoàn thành từ mồ hôi, từ máu lệ của thầy;
và có lẽ thầy còn lấy bớt cả dăm phút giây cần thiết
của giấc ngủ ngắn ngủi để thả hồn lãng đãng với thi
ca vì nơi trái tim từ bi bao la của Đại Sỹ còn kín đáo
ẩn tàng trái tim thi sỹ giữa vũ trụ mênh mông thơ nhạc.
Chính vì vậy, trong thế giới đó, thi ca của thầy không chỉ
diễm lệ mà còn ấm áp bao dung như muội đã đối chiếu
với thế giới thi ca của thi sỹ Tô Đông Pha đó.
Nắng
điểm những đốm hoa trên vạt áo nhật bình bạc phếch,
như bước thời gian lặng lẽ thoáng qua, để lại đôi nét
chấm phá trên mái tóc sương phong
“Ngược
xuôi nhớ nửa cung đàn.
Ai
đem quán trọ mà ngăn nẻo về” (*)
Quán
trọ nào ngăn được nẻo về nên khách lữ vẫn thênh thang
đạo lộ, như vầng trăng chưa từng khuyết trên trời Quê
Hương.
Diệu
Trân
(Mùa
Sen tháng 7, 2005)
(*)
Thơ Tuệ Sỹ.
(+)
Thơ Tô Đông Pha, lời diễn giải Tuệ Sỹ.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân