SỐ 507 THÁNG 07 NĂM 2005
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
HỎI ĐÁP PHẬT HỌC

CÚNG PHẬT 

HỎI: Xin cho biết những lễ phẩm cúng Phật hàng ngày tại tư gia bao gồm những gì? Cúng thờ những "lễ vật" giả như quả nhựa, hoa vải, nhang đèn điện có mang tội không? Có nên thực hành cúng ngọ tại tư gia không? Phật là Đấng Giác ngộ, thể nhập Pháp thân cố nhiên không thọ thực như chúng sanh thì tại sao trong nghi thức cúng ngọ lại có bát cơm cùng việc trì chú Biến thực chơn ngôn và Cam lồ thủy chơn ngôn?

ĐÁP:   

Cúng Phật là một trong những biểu hiện tâm thành kính đồng thời là bổn phận cơ bản của người thờ Phật. Sẽ mất cơ hội tích lũy, vun bồi phước báo cho tự thân và đắc tội thất kính nếu thờ Phật mà sơ suất, chểnh mảng việc cúng dường. Lễ phẩm cúng Phật tại tư gia rất đơn giản, thông thường bao gồm: hoa (bông hoa), quả (trái cây), hương (nhang, trầm), đăng (đèn) và tịnh thủy (nước sạch). 

Trên bàn thờ Phật, lúc nào bông trái cũng tươi tốt, nhang đèn sáng sủa, bàn thờ sạch sẽ, tinh tươm là điều lý tưởng. Song tùy thuộc vào hoàn cảnh riêng của mỗi gia đình, bởi không phải bất cứ nhà nào cũng làm được việc ấy. Trong trường hợp điều kiện không cho phép thì chỉ dâng cúng hoa trái vào những ngày rằm, mùng một hoặc những ngày vía Phật và Bồ tát mà thôi. Tuy nhiên, những ngày còn lại trong tháng dẫu không có hoa trái nhưng nhang đèn luôn đầy đủ, phải quét dọn bàn thờ sạch sẽ, rút bớt chân nhang, thay nước sạch, đốt hương cúng Phật mỗi ngày.

Theo thiển ý của chúng tôi, dùng những lễ vật như hoa trái giả, nhang điện, đèn nến điện để "cúng" Phật tuy không mang tội nhưng cũng không nên. Dẫu rằng, với công nghệ chế tạo hiện nay nhang, đèn, hoa, trái giả trông khá đẹp và giống như thật nhưng chúng chỉ là vật trang trí chứ không phải là lễ phẩm để dâng cúng. Phẩm vật  dâng cúng dù nhiều hay ít, tốt hoặc xấu, ngon hay dở đều phải là thật, lễ bạc nhưng lòng thành và tâm thành thì Phật chứng. Lễ phẩm là biểu hiện của tấm lòng, do đó sẽ lố bịch khi dùng lễ giả để mong biểu thị tấm lòng chân thật.

Mặt khác, về phương diện thẩm mỹ, nhất là trong việc thờ phụng thì giả tạo lại càng không nên. Nhang điện không có khói thì không thể nào "nguyện đem lòng thành kính gửi theo đám mây hương" được; đèn nến điện thì chẳng thể nào lung linh, huyền ảo; hoa vải và trái nhựa thì sống sượng, khô cứng; đôi khi còn có cả một hệ thống đèn chớp nháy xanh đỏ lập lòe, loạn xạ. Tất cả những "lễ phẩm" này không tạo nên sức sống, sự trang nghiêm, thanh tịnh và sống động của bàn thờ Phật. Chính sự cứng nhắc, lòe loẹt và giả tạo này đã làm mất đi nét thành kính thiêng liêng, đông cứng những rung động về tâm linh, do vậy khó có thể giao cảm với Phật lực. 

Tại tư gia, cúng ngọ nếu được thực hành vào mỗi ngày thì rất tốt song không bắt buộc. Đa phần, hàng Phật tử chỉ cúng ngọ mỗi khi trong gia đình có kỵ giỗ, cúng linh, còn thường ngày chỉ đốt hương mà thôi. Chỉ riêng ở chùa, cúng ngọ là một trong những lễ tiết quan trọng, được thực hiện hàng ngày.

Đúng như nhận thức của các bạn, Phật là Đấng Giác ngộ, chứng nhập Pháp thân, cố nhiên Ngài không thọ thực như chúng sanh. Do đó, cúng Phật (cúng ngọ) không phải để Phật "ăn" như cúng linh hay cúng thí cô hồn mà chỉ cầu Phật chứng. Vì thế, những lễ phẩm dâng cúng Phật, kể cả bát cơm tượng trưng cho vật thực, chỉ có ý nghĩa biểu trưng cho lòng thành kính mà thôi. Điều chủ yếu trong cúng Phật là thông qua những lễ phẩm tượng trưng ấy để dâng cúng trọn vẹn tấm lòng thanh tịnh với ngũ phần tâm hương là giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát và giải thoát tri kiến hương. 

Tuy nhiên, trong nghi thức cúng ngọ thì ngoài việc cúng Phật ra còn có phổ đồng cúng dường. Trên hết là cúng dường chư Phật trong mười phương, kế đến là chư Hiền Thánh, sau cùng là chúng sanh trong lục đạo, dâng cúng hết thảy chúng sanh trong pháp giới. (Thượng cúng thập phương Phật, trung phụng chư hiền Thánh, hạ cập lục đạo phẩm…) Muốn chúng sanh trong lục đạo ăn được, tất yếu phải gia trì thần chú biến thực, biến thủy. Ngay đây, chúng ta cần xác định rõ là cúng Phật (ngọ) với lễ phẩm cơm, nước, hoa, trái, nhang, đèn cùng với tâm thành kính, thanh tịnh của ngũ phần tâm hương là đủ. Còn vấn đề gia trì thần chú biến thực, biến thủy trong nghi thức cúng ngọ chỉ dùng để cúng dường tất cả chúng sanh trong lục đạo. Không nên hiểu và liên tưởng một cách máy móc, thô thiển về việc dâng cúng cơm nước và trì tụng thần chú biến thực, biến thủy trong nghi thức cúng ngọ là cúng cho Phật "ăn" như các chúng sanh khác. 
 

THỌ TRÌ BÁT QUAN TRAI GIỚI

HỎI: Chúng con được biết, người Phật tử phát nguyện thọ trì Bát quan trai giới thì công đức vô lượng. Xin cho biết duyên khởi của việc tu tập Bát quan trai bắt nguồn từ đâu? Hiện ở quê chúng con không có chùa, không có Tăng Ni, vậy muốn thọ trì Bát quan trai giới phải làm thế nào? Có thể đối trước Đức Phật tự phát nguyện thọ Bát quan trai giới được không?

ĐÁP: 

Bát quan trai giới, Pàli ngữ Uposatha sila, Hán dịch là Cận trú giới, Cộng trú giới, Bát giới, Thiện trú giới… Thọ trì và tu tập Bát quan trai giới có từ thời Thế Tôn còn tại thế. 
Duyên khởi của việc tu tập Bát quan trai giới do sự phát nguyện tu học của nữ cư sĩ Visàkha. Theo kinh Tăng Chi Bộ I, lúc Phật trú ở thành Savatthi, tại Pubbarama, nữ cư sĩ Visàkha trong ngày bố tát đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi nữ cư sĩ có duyên sự gì mà đến tu viện sớm như vậy? Nữ cư sĩ thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay con thọ trì trai giới.

Nhân lời thưa của nữ cư sĩ, Thế Tôn nói về ba loại trai giới: Trai giới của người chăn bò, trai giới của Niganthà (phái Lõa thể) và trai giới của bậc Thánh.

Này Visàkha, thế nào là trai giới của người chăn bò? Ví như kẻ chăn bò, buổi chiều lùa bò về cho chủ, suy nghĩ rằng: "Hôm nay các con bò đã ăn cỏ và uống nước ở chỗ này. Ngày mai sẽ ăn cỏ và uống nước ở chỗ kia". Cũng vậy, này Visàkha, có người giữ trai giới mà suy nghĩ: "Hôm nay, ta đã ăn loại thức ăn cứng và mềm này. Ngày mai , ta sẽ ăn các loại thức ăn cứng và mềm kia". Như vậy, người ấy suốt cả ngày sống đồng hành với tâm tham dục, chẳng khác nào suy nghĩ của người giữ bò nên gọi trai giới của người ấy là trai giới người chăn bò.

Này Visàkha, trong ngày trai giới, các tu sĩ của phái Niganthà khuyến khích các đệ tử của họ như sau: "Này các ngươi, hãy quăng bỏ tất cả quần áo và nói như sau: Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ chỗ nào, bất cứ ở đâu. Bất cứ vật gì, bất cứ chỗ nào, bất cứ ở đâu không có cái gì là của ta". Được sống và thực hành như vậy, này Visàkha, trai giới của các Niganthà không có quả lớn, không có lợi ích lớn.

Và này Visàkha, trai giới của bậc Thánh là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi. Trong ngày trai giới, vị Thánh đệ tử niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên. Nhờ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên mà tâm phát sinh niềm thanh tịnh, các cấu uế phiền não nơi tự tâm lắng xuống và bị đoạn tận.
Này Visàkha, trong ngày trai giới, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Cho đến trọn đời, các vị Thánh đệ tử không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu, không ăn phi thời, không ca hát và xem nghe cùng xoa ướp dầu thơm, không nằm giường cao và rộng lớn. Cũng vậy, ngày nay và đêm nay, ta cũng từ bỏ, không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu, không ăn phi thời, không ca hát và xem nghe cùng xoa ướp dầu thơm, không nằm giường cao và rộng lớn. Ta theo gương các vị A la hán, sẽ thực hành trai giới". Như vậy,  này Visàkha, đây là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới có quả lớn, và có lợi ích lớn, đưa người thọ trì trai giới đi đến quả Thánh.

Xuất phát từ việc phát tâm thọ trì trai giới của nữ cư sĩ Visàkha, Phật chế định Bát quan trai giới và pháp thức này được truyền trì cho đến ngày nay.

Muốn phát tâm thọ trì Bát quan trai giới, trước hết người thọ phải đầy đủ nhân cách của hàng Phật tử tại gia, tức đã quy y Tam bảo và giữ gìn năm giới (Cận sự giới). Vì nếu chưa thực hành đầy đủ các chi phần của Cận sự giới thì người ấy chưa đủ đức tin và lòng ái kính Tam bảo để tiếp nhận và lãnh thọ Cận trú giới hay Bát quan trai giới. Vì thế, trong nghi thức thọ Bát quan trai, trước khi truyền Bát giới bao giờ cũng phải kinh qua pháp thọ trì Tam quy để đầy đủ tư cách tiếp nhận giới thể của Cận trú giới.

Mặt khác, theo pháp thức thọ giới Bát quan trai thì bắt buộc phải thỉnh ít nhất một vị Tỷ kheo để làm giới sư truyền giới. Việc tiếp nhận giới Bát quan trai không như Cận sự giới (năm giới) có thể tiếp nhận một trong năm chi phần mà bắt buộc phải lãnh thọ trọn vẹn tám chi phần. Nếu không thọ đủ tám chi thì Cận trú giới bất thành. Truyền và thọ Bát giới nếu không đúng với pháp thức như trên thì giới thể vô biểu của Cận trú không thể phát sinh và không đủ khả năng phòng hộ cho người thọ viên mãn Cận trú giới. Không có trường hợp tự thọ giới Bát quan trai. Do đó, nếu địa phương của các Phật tử chưa có chùa và Tăng Ni thì muốn thọ Bát quan trai phải đi đến nơi khác đầy đủ các điều kiện như đã nêu để lãnh thọ và tu tập.  
 
LỄ LẠY CHA MẸ

HỎI: Người xuất gia thọ giới nhà Phật khi cha mẹ quá vãng có lễ lạy không? Có ăn đồ cúng không? Chúng tôi nghe người nói được nhưng có người bảo không nên chưa được rõ. Xin cho biết nguyên nhân và hoan hỷ giải thích.

ĐÁP
Người xuất gia là bậc đã phát nguyện cát ái từ thân, xả ly những luyến ái gia đình thân tộc, tiếp nhận Thánh giới, tu tập Thánh đạo, cầu giải thoát và nguyện độ chúng sinh. Trong ba ý nghĩa cao quý của xuất gia (xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia) thì xuất thế tục gia, thoát ly khỏi căn nhà thế tục và các mối quan hệ tình cảm gia đình, dòng tộc là bước đầu tiên. Đây là bước ngoặt quan trọng làm cơ sở cho đời sống phạm hạnh, nỗ lực đoạn trừ tham ái đồng thời là nền tảng cho Thánh quả. 

Cát ái ly gia đối với người xuất gia phải được thực thi triệt để, trọn vẹn vì tham ái là điều chướng ngại có tính chất thâm căn, cội nguồn của sanh tử. Vì thế, trước lúc  phát nguyện tiếp nhận Thánh giới (10 giới Sa di hoặc Sa di ni), người xuất gia hướng về phương Bắc, chí thành lễ tạ tứ ân (ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân thí chủ), sau đó hướng về Tam bảo thọ nhận giới pháp xuất thế, quy mạng trọn đời. Từ đây trở về sau, người xuất gia sống đời xuất thế, nỗ lực tu tập để thành tựu giải thoát làm đạo sư của trời người đồng thời không còn liên hệ và bị ràng buộc bởi các quan hệ thế thường.
Đối với cha mẹ, công sanh thành dưỡng dục của song thân, người xuất gia xem trọng như núi cao, biển cả. Tuy nhiên, sự đền đáp công ơn hiếu dưỡng trời biển đó, người xuất gia không thực thi như người thế tục mà thực hiện bằng cách dùng đạo hạnh để cảm hóa cha mẹ hướng thiện, quy kính Tam bảo đồng thời phát huy đạo lực để tiếp dẫn, cầu nguyện cho cha mẹ siêu thoát. Vì thế, khi dự phần vào Tăng bảo, bước lên địa vị xuất thế gian, người xuất gia dẫu vẫn kính trọng và báo ơn cha mẹ nhưng không lễ lạy nữa.

Mặt khác, tuy có con là người xuất gia nhưng trong Chánh pháp thì cha mẹ vẫn thuộc hàng đệ tử tại gia, phải kính lễ Tam bảo, nương theo Tam bảo để tu học. Hàng Phật tử tại gia thường xuyên kính lễ Tam bảo mỗi ngày để vun bồi phước đức của mình. Do vậy, bậc cha mẹ có con xuất gia thì phải xem con mình là một vị Tăng, hành xử phải theo Pháp như chư vị Tăng khác. Một vị Tăng, ngoài kính lễ Tam bảo ra không lễ lạy bất cứ tôn vị nào khác, kể cả cha mẹ. Ngay cả việc thi lễ với những bậc quân vương, quốc chủ là pháp quy bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt của xã hội phong kiến vẫn dành cho chư Tăng một ngoại lệ, bất bái (Bất bái quân vương giả luận - Tuệ Viễn).

Người xuất gia vẫn tận hiếu với cha mẹ nhưng không lễ bái vì tuân thủ pháp tắc của Tăng bảo đồng thời việc lễ bái ấy sẽ tổn giảm phước đức của chính cha mẹ mình. Một vài vị xuất gia quan niệm rằng dù có làm gì trong xã hội đi nữa, mình cũng vẫn là con của cha mẹ nên thực hành lễ bái. Quan niệm này chỉ đúng với mọi người trong tương quan đời thường, thế tục nhưng đối với Chánh pháp thì rất thiển cận và sai lầm. Bởi khi thọ nhận sự kính lễ của một người mà giới đức và phạm hạnh to lớn hơn mình rất nhiều lần, tất nhiên phước đức của mình bị tổn giảm, nhất là khi thọ nhận kính lễ của vị Tăng thì phước đức của người tại gia càng bị tổn giảm hơn. Do vậy, để tôn trọng Chánh pháp và để tránh sự tổn phước cho cha mẹ, người xuất gia không lễ bái, dù song thân hiện còn hay đã khuất.

Đối với các phẩm vật đã dâng cúng quỷ thần và hương linh, theo pháp Phật, người xuất gia không thọ dụng. Kinh Tương Ưng Bộ I, khi Bà la môn Sundarika hỏi Phật nên cho ai những vật cúng còn lại này, Phật dạy: "Này Bà la môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh hay nhận chìm xuống nước nơi không có loài hữu tình". Vật phẩm đã dâng cúng quỷ thần, hương linh không phải là thực phẩm thanh tịnh theo thường pháp dành cho người xuất gia. Hàng Sa môn, Tỷ kheo chỉ được phép dùng các phẩm vật đã dâng cúng Tam bảo.

Ngoài ra, việc không ăn đồ cúng rất phù hợp với nguyên tắc vệ sinh, an toàn thực phẩm. Khi các phẩm vật đem ra cúng tế sẽ bị nắng mưa, nguội lạnh cùng với bụi bặm, tàn nhang và ruồi nhặng, nếu ăn vào sẽ có hại cho sức khỏe. Mặt khác, chư Tăng là những bậc giới đức, phạm hạnh cụ túc đã và đang hướng về địa vị Ứng cúng, La hán nên các phẩm vật mà quỷ thần và hương linh đã hưởng thọ xong; nếu đem cúng dường chư Tăng thì chính hương linh và quỷ thần ấy tổn phước vì thất kính. Bản thân chư Tăng cũng tự ý thức điều này, chỉ thọ dụng những thực phẩm cúng dường đúng pháp, không ăn các thực phẩm phi pháp "vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và các loài hữu tình".

Gíac Ngộ
 

 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 6-2005
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 7-2005

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS