HỎI ĐÁP
PHẬT HỌC
CÚNG
PHẬT
HỎI:
Xin cho biết những lễ phẩm cúng Phật hàng ngày tại tư gia
bao gồm những gì? Cúng thờ những "lễ vật" giả như quả
nhựa, hoa vải, nhang đèn điện có mang tội không? Có nên
thực hành cúng ngọ tại tư gia không? Phật là Đấng Giác
ngộ, thể nhập Pháp thân cố nhiên không thọ thực như chúng
sanh thì tại sao trong nghi thức cúng ngọ lại có bát cơm cùng
việc trì chú Biến thực chơn ngôn và Cam lồ thủy chơn ngôn?
ĐÁP:
Cúng
Phật là một trong những biểu hiện tâm thành kính đồng
thời là bổn phận cơ bản của người thờ Phật. Sẽ mất
cơ hội tích lũy, vun bồi phước báo cho tự thân và đắc
tội thất kính nếu thờ Phật mà sơ suất, chểnh mảng việc
cúng dường. Lễ phẩm cúng Phật tại tư gia rất đơn giản,
thông thường bao gồm: hoa (bông hoa), quả (trái cây), hương
(nhang, trầm), đăng (đèn) và tịnh thủy (nước sạch).
Trên
bàn thờ Phật, lúc nào bông trái cũng tươi tốt, nhang đèn
sáng sủa, bàn thờ sạch sẽ, tinh tươm là điều lý tưởng.
Song tùy thuộc vào hoàn cảnh riêng của mỗi gia đình, bởi
không phải bất cứ nhà nào cũng làm được việc ấy. Trong
trường hợp điều kiện không cho phép thì chỉ dâng cúng
hoa trái vào những ngày rằm, mùng một hoặc những ngày vía
Phật và Bồ tát mà thôi. Tuy nhiên, những ngày còn lại trong
tháng dẫu không có hoa trái nhưng nhang đèn luôn đầy đủ,
phải quét dọn bàn thờ sạch sẽ, rút bớt chân nhang, thay
nước sạch, đốt hương cúng Phật mỗi ngày.
Theo
thiển ý của chúng tôi, dùng những lễ vật như hoa trái giả,
nhang điện, đèn nến điện để "cúng" Phật tuy không mang
tội nhưng cũng không nên. Dẫu rằng, với công nghệ chế
tạo hiện nay nhang, đèn, hoa, trái giả trông khá đẹp và
giống như thật nhưng chúng chỉ là vật trang trí chứ không
phải là lễ phẩm để dâng cúng. Phẩm vật dâng cúng
dù nhiều hay ít, tốt hoặc xấu, ngon hay dở đều phải là
thật, lễ bạc nhưng lòng thành và tâm thành thì Phật chứng.
Lễ phẩm là biểu hiện của tấm lòng, do đó sẽ lố bịch
khi dùng lễ giả để mong biểu thị tấm lòng chân thật.
Mặt
khác, về phương diện thẩm mỹ, nhất là trong việc thờ
phụng thì giả tạo lại càng không nên. Nhang điện không
có khói thì không thể nào "nguyện đem lòng thành kính gửi
theo đám mây hương" được; đèn nến điện thì chẳng thể
nào lung linh, huyền ảo; hoa vải và trái nhựa thì sống sượng,
khô cứng; đôi khi còn có cả một hệ thống đèn chớp nháy
xanh đỏ lập lòe, loạn xạ. Tất cả những "lễ phẩm" này
không tạo nên sức sống, sự trang nghiêm, thanh tịnh và sống
động của bàn thờ Phật. Chính sự cứng nhắc, lòe loẹt
và giả tạo này đã làm mất đi nét thành kính thiêng liêng,
đông cứng những rung động về tâm linh, do vậy khó có thể
giao cảm với Phật lực.
Tại
tư gia, cúng ngọ nếu được thực hành vào mỗi ngày thì
rất tốt song không bắt buộc. Đa phần, hàng Phật tử chỉ
cúng ngọ mỗi khi trong gia đình có kỵ giỗ, cúng linh, còn
thường ngày chỉ đốt hương mà thôi. Chỉ riêng ở chùa,
cúng ngọ là một trong những lễ tiết quan trọng, được
thực hiện hàng ngày.
Đúng
như nhận thức của các bạn, Phật là Đấng Giác ngộ, chứng
nhập Pháp thân, cố nhiên Ngài không thọ thực như chúng sanh.
Do đó, cúng Phật (cúng ngọ) không phải để Phật "ăn" như
cúng linh hay cúng thí cô hồn mà chỉ cầu Phật chứng. Vì
thế, những lễ phẩm dâng cúng Phật, kể cả bát cơm tượng
trưng cho vật thực, chỉ có ý nghĩa biểu trưng cho lòng thành
kính mà thôi. Điều chủ yếu trong cúng Phật là thông qua
những lễ phẩm tượng trưng ấy để dâng cúng trọn vẹn
tấm lòng thanh tịnh với ngũ phần tâm hương là giới hương,
định hương, huệ hương, giải thoát và giải thoát tri kiến
hương.
Tuy
nhiên, trong nghi thức cúng ngọ thì ngoài việc cúng Phật ra
còn có phổ đồng cúng dường. Trên hết là cúng dường chư
Phật trong mười phương, kế đến là chư Hiền Thánh, sau
cùng là chúng sanh trong lục đạo, dâng cúng hết thảy chúng
sanh trong pháp giới. (Thượng cúng thập phương Phật, trung
phụng chư hiền Thánh, hạ cập lục đạo phẩm…) Muốn chúng
sanh trong lục đạo ăn được, tất yếu phải gia trì thần
chú biến thực, biến thủy. Ngay đây, chúng ta cần xác định
rõ là cúng Phật (ngọ) với lễ phẩm cơm, nước, hoa, trái,
nhang, đèn cùng với tâm thành kính, thanh tịnh của ngũ phần
tâm hương là đủ. Còn vấn đề gia trì thần chú biến thực,
biến thủy trong nghi thức cúng ngọ chỉ dùng để cúng dường
tất cả chúng sanh trong lục đạo. Không nên hiểu và liên
tưởng một cách máy móc, thô thiển về việc dâng cúng cơm
nước và trì tụng thần chú biến thực, biến thủy trong
nghi thức cúng ngọ là cúng cho Phật "ăn" như các chúng sanh
khác.
THỌ
TRÌ BÁT QUAN TRAI GIỚI
HỎI:
Chúng con được biết, người Phật tử phát nguyện thọ trì
Bát quan trai giới thì công đức vô lượng. Xin cho biết duyên
khởi của việc tu tập Bát quan trai bắt nguồn từ đâu? Hiện
ở quê chúng con không có chùa, không có Tăng Ni, vậy muốn
thọ trì Bát quan trai giới phải làm thế nào? Có thể đối
trước Đức Phật tự phát nguyện thọ Bát quan trai giới
được không?
ĐÁP:
Bát
quan trai giới, Pàli ngữ Uposatha sila, Hán dịch là Cận trú
giới, Cộng trú giới, Bát giới, Thiện trú giới… Thọ trì
và tu tập Bát quan trai giới có từ thời Thế Tôn còn tại
thế.
Duyên
khởi của việc tu tập Bát quan trai giới do sự phát nguyện
tu học của nữ cư sĩ Visàkha. Theo kinh Tăng Chi Bộ I, lúc
Phật trú ở thành Savatthi, tại Pubbarama, nữ cư sĩ Visàkha
trong ngày bố tát đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Đức Phật hỏi nữ cư sĩ có duyên sự gì mà đến
tu viện sớm như vậy? Nữ cư sĩ thưa rằng: Bạch Đức Thế
Tôn, hôm nay con thọ trì trai giới.
Nhân
lời thưa của nữ cư sĩ, Thế Tôn nói về ba loại trai giới:
Trai giới của người chăn bò, trai giới của Niganthà (phái
Lõa thể) và trai giới của bậc Thánh.
Này
Visàkha, thế nào là trai giới của người chăn bò? Ví như
kẻ chăn bò, buổi chiều lùa bò về cho chủ, suy nghĩ rằng:
"Hôm nay các con bò đã ăn cỏ và uống nước ở chỗ này.
Ngày mai sẽ ăn cỏ và uống nước ở chỗ kia". Cũng vậy,
này Visàkha, có người giữ trai giới mà suy nghĩ: "Hôm nay,
ta đã ăn loại thức ăn cứng và mềm này. Ngày mai , ta sẽ
ăn các loại thức ăn cứng và mềm kia". Như vậy, người
ấy suốt cả ngày sống đồng hành với tâm tham dục, chẳng
khác nào suy nghĩ của người giữ bò nên gọi trai giới của
người ấy là trai giới người chăn bò.
Này
Visàkha, trong ngày trai giới, các tu sĩ của phái Niganthà khuyến
khích các đệ tử của họ như sau: "Này các ngươi, hãy quăng
bỏ tất cả quần áo và nói như sau: Ta không có bất cứ
vật gì, bất cứ chỗ nào, bất cứ ở đâu. Bất cứ vật
gì, bất cứ chỗ nào, bất cứ ở đâu không có cái gì là
của ta". Được sống và thực hành như vậy, này Visàkha,
trai giới của các Niganthà không có quả lớn, không có lợi
ích lớn.
Và
này Visàkha, trai giới của bậc Thánh là làm thanh tịnh một
tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi. Trong ngày trai giới,
vị Thánh đệ tử niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm
Giới, niệm Thiên. Nhờ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
niệm Giới, niệm Thiên mà tâm phát sinh niềm thanh tịnh, các
cấu uế phiền não nơi tự tâm lắng xuống và bị đoạn
tận.
Này
Visàkha, trong ngày trai giới, vị Thánh đệ tử suy tư như
sau: "Cho đến trọn đời, các vị Thánh đệ tử không sát
sanh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không
uống rượu, không ăn phi thời, không ca hát và xem nghe cùng
xoa ướp dầu thơm, không nằm giường cao và rộng lớn. Cũng
vậy, ngày nay và đêm nay, ta cũng từ bỏ, không sát sanh, không
trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu,
không ăn phi thời, không ca hát và xem nghe cùng xoa ướp dầu
thơm, không nằm giường cao và rộng lớn. Ta theo gương các
vị A la hán, sẽ thực hành trai giới". Như vậy, này
Visàkha, đây là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới
có quả lớn, và có lợi ích lớn, đưa người thọ trì trai
giới đi đến quả Thánh.
Xuất
phát từ việc phát tâm thọ trì trai giới của nữ cư sĩ
Visàkha, Phật chế định Bát quan trai giới và pháp thức này
được truyền trì cho đến ngày nay.
Muốn
phát tâm thọ trì Bát quan trai giới, trước hết người thọ
phải đầy đủ nhân cách của hàng Phật tử tại gia, tức
đã quy y Tam bảo và giữ gìn năm giới (Cận sự giới). Vì
nếu chưa thực hành đầy đủ các chi phần của Cận sự
giới thì người ấy chưa đủ đức tin và lòng ái kính Tam
bảo để tiếp nhận và lãnh thọ Cận trú giới hay Bát quan
trai giới. Vì thế, trong nghi thức thọ Bát quan trai, trước
khi truyền Bát giới bao giờ cũng phải kinh qua pháp thọ trì
Tam quy để đầy đủ tư cách tiếp nhận giới thể của Cận
trú giới.
Mặt
khác, theo pháp thức thọ giới Bát quan trai thì bắt buộc
phải thỉnh ít nhất một vị Tỷ kheo để làm giới sư truyền
giới. Việc tiếp nhận giới Bát quan trai không như Cận sự
giới (năm giới) có thể tiếp nhận một trong năm chi phần
mà bắt buộc phải lãnh thọ trọn vẹn tám chi phần. Nếu
không thọ đủ tám chi thì Cận trú giới bất thành. Truyền
và thọ Bát giới nếu không đúng với pháp thức như trên
thì giới thể vô biểu của Cận trú không thể phát sinh và
không đủ khả năng phòng hộ cho người thọ viên mãn Cận
trú giới. Không có trường hợp tự thọ giới Bát quan trai.
Do đó, nếu địa phương của các Phật tử chưa có chùa và
Tăng Ni thì muốn thọ Bát quan trai phải đi đến nơi khác
đầy đủ các điều kiện như đã nêu để lãnh thọ và tu
tập.
LỄ
LẠY CHA MẸ
HỎI:
Người xuất gia thọ giới nhà Phật khi cha mẹ quá vãng có
lễ lạy không? Có ăn đồ cúng không? Chúng tôi nghe người
nói được nhưng có người bảo không nên chưa được rõ.
Xin cho biết nguyên nhân và hoan hỷ giải thích.
ĐÁP:
Người
xuất gia là bậc đã phát nguyện cát ái từ thân, xả ly những
luyến ái gia đình thân tộc, tiếp nhận Thánh giới, tu tập
Thánh đạo, cầu giải thoát và nguyện độ chúng sinh. Trong
ba ý nghĩa cao quý của xuất gia (xuất thế tục gia, xuất
phiền não gia và xuất tam giới gia) thì xuất thế tục gia,
thoát ly khỏi căn nhà thế tục và các mối quan hệ tình cảm
gia đình, dòng tộc là bước đầu tiên. Đây là bước ngoặt
quan trọng làm cơ sở cho đời sống phạm hạnh, nỗ lực
đoạn trừ tham ái đồng thời là nền tảng cho Thánh quả.
Cát
ái ly gia đối với người xuất gia phải được thực thi
triệt để, trọn vẹn vì tham ái là điều chướng ngại có
tính chất thâm căn, cội nguồn của sanh tử. Vì thế, trước
lúc phát nguyện tiếp nhận Thánh giới (10 giới Sa di
hoặc Sa di ni), người xuất gia hướng về phương Bắc, chí
thành lễ tạ tứ ân (ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc
gia và ân thí chủ), sau đó hướng về Tam bảo thọ nhận
giới pháp xuất thế, quy mạng trọn đời. Từ đây trở về
sau, người xuất gia sống đời xuất thế, nỗ lực tu tập
để thành tựu giải thoát làm đạo sư của trời người
đồng thời không còn liên hệ và bị ràng buộc bởi các
quan hệ thế thường.
Đối
với cha mẹ, công sanh thành dưỡng dục của song thân, người
xuất gia xem trọng như núi cao, biển cả. Tuy nhiên, sự đền
đáp công ơn hiếu dưỡng trời biển đó, người xuất gia
không thực thi như người thế tục mà thực hiện bằng cách
dùng đạo hạnh để cảm hóa cha mẹ hướng thiện, quy kính
Tam bảo đồng thời phát huy đạo lực để tiếp dẫn, cầu
nguyện cho cha mẹ siêu thoát. Vì thế, khi dự phần vào Tăng
bảo, bước lên địa vị xuất thế gian, người xuất gia
dẫu vẫn kính trọng và báo ơn cha mẹ nhưng không lễ lạy
nữa.
Mặt
khác, tuy có con là người xuất gia nhưng trong Chánh pháp thì
cha mẹ vẫn thuộc hàng đệ tử tại gia, phải kính lễ Tam
bảo, nương theo Tam bảo để tu học. Hàng Phật tử tại gia
thường xuyên kính lễ Tam bảo mỗi ngày để vun bồi phước
đức của mình. Do vậy, bậc cha mẹ có con xuất gia thì phải
xem con mình là một vị Tăng, hành xử phải theo Pháp như chư
vị Tăng khác. Một vị Tăng, ngoài kính lễ Tam bảo ra không
lễ lạy bất cứ tôn vị nào khác, kể cả cha mẹ. Ngay cả
việc thi lễ với những bậc quân vương, quốc chủ là pháp
quy bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt của xã hội phong kiến
vẫn dành cho chư Tăng một ngoại lệ, bất bái (Bất bái quân
vương giả luận - Tuệ Viễn).
Người
xuất gia vẫn tận hiếu với cha mẹ nhưng không lễ bái vì
tuân thủ pháp tắc của Tăng bảo đồng thời việc lễ bái
ấy sẽ tổn giảm phước đức của chính cha mẹ mình. Một
vài vị xuất gia quan niệm rằng dù có làm gì trong xã hội
đi nữa, mình cũng vẫn là con của cha mẹ nên thực hành lễ
bái. Quan niệm này chỉ đúng với mọi người trong tương
quan đời thường, thế tục nhưng đối với Chánh pháp thì
rất thiển cận và sai lầm. Bởi khi thọ nhận sự kính lễ
của một người mà giới đức và phạm hạnh to lớn hơn
mình rất nhiều lần, tất nhiên phước đức của mình bị
tổn giảm, nhất là khi thọ nhận kính lễ của vị Tăng thì
phước đức của người tại gia càng bị tổn giảm hơn.
Do vậy, để tôn trọng Chánh pháp và để tránh sự tổn phước
cho cha mẹ, người xuất gia không lễ bái, dù song thân hiện
còn hay đã khuất.
Đối
với các phẩm vật đã dâng cúng quỷ thần và hương linh,
theo pháp Phật, người xuất gia không thọ dụng. Kinh Tương
Ưng Bộ I, khi Bà la môn Sundarika hỏi Phật nên cho ai những
vật cúng còn lại này, Phật dạy: "Này Bà la môn, hãy quăng
vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh hay nhận
chìm xuống nước nơi không có loài hữu tình". Vật phẩm
đã dâng cúng quỷ thần, hương linh không phải là thực phẩm
thanh tịnh theo thường pháp dành cho người xuất gia. Hàng
Sa môn, Tỷ kheo chỉ được phép dùng các phẩm vật đã dâng
cúng Tam bảo.
Ngoài
ra, việc không ăn đồ cúng rất phù hợp với nguyên tắc
vệ sinh, an toàn thực phẩm. Khi các phẩm vật đem ra cúng
tế sẽ bị nắng mưa, nguội lạnh cùng với bụi bặm, tàn
nhang và ruồi nhặng, nếu ăn vào sẽ có hại cho sức khỏe.
Mặt khác, chư Tăng là những bậc giới đức, phạm hạnh
cụ túc đã và đang hướng về địa vị Ứng cúng, La hán
nên các phẩm vật mà quỷ thần và hương linh đã hưởng
thọ xong; nếu đem cúng dường chư Tăng thì chính hương linh
và quỷ thần ấy tổn phước vì thất kính. Bản thân chư
Tăng cũng tự ý thức điều này, chỉ thọ dụng những thực
phẩm cúng dường đúng pháp, không ăn các thực phẩm phi pháp
"vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và các loài
hữu tình".
Gíac
Ngộ