SỐNG TRONG
HIỆN TẠI
Thích
Nữ Trí Hải
Con
người đau khổ là vì hoài niệm quá khứ và mơ tưởng đến
tương lai, không bao giờ sống trọn vẹn với hiện tại. Một
kỷ niệm, nếu là chuyện vui đã làm ta vô cùng thích thú,
thì ta ưa làm cho nó sống lại bằng trí tưởng tượng. Chẳng
hạn ta hồi tưởng một cuộc đi chơi núi với những người
bạn thân. Ta nhớ đến lúc chuẩn bị cuộc hành trình, những
người tham dự, nhớ đến cảnh đẹp trên những con đường
đã đi qua, nhớ tới khi lên đến đỉnh núi, nhìn thấy cảnh
trí đẹp như thế nào, nhớ những lời nói, động tác của
những người bạn trong lúc đó. Dĩ vãng trở về trong vòm
trời tâm thức ta như một khúc phim sống động làm ta say
mê, đắm chìm trong đó, không còn biết gì tới hiện tại
với những tiếng động chát chúa khó ưa: tiếng ồn của
xe cộ, của người, của vật, của ống loa phóng thanh, của
toàn những thứ "oan gia tụ hội"! Đó quả thực là một cách
trốn chạy hữu hiệu không khác gì một liều thuốc an thần,
một cuộc rượu, một ván bài, một trò giải trí, hay một
thời tham thiền nhập định, nếu thiền định đây chỉ là
"làm trống không cái tâm, không nhớ nghĩ". Bởi vì chung quy
đó đều là những phương tiện tạm thời giúp ta chạy trốn
thực tại trong chốc lát, cái thực tại đau khổ mà ta muốn
thoát ly.
Nhưng
dù ta có thể làm sống lại quá khứ linh động đến bao nhiêu,
nó thực sự vẫn là một cái xác chết. Không thể tránh được
cái lúc ta phải trở về với thực tại trước mặt, một
sự thực cay đắng. Càng vui với hoài niệm bao nhiêu, ta càng
khổ khi bừng tỉnh trước thực tại bấy nhiêu, khi mà:
"Bừng
con mắt dậy thấy mình tay không"
Con
người càng sống với hoài niệm nhiều bao nhiêu thì càng
dễ điên loạn bấy nhiêu. Quá khứ dần dần đối với họ
biến thành một ám ảnh, họ sống trong một cảnh mà danh
từ duy thức gọi là "Độc ảnh cảnh", cái cảnh chỉ có
một mình họ thấy bằng tưởng tượng thêu dệt.
"Khi
mơ những tiếc khi tàn!" mộng càng đẹp bao nhiêu, càng làm
ta khoái ý bao nhiêu, thì khi tỉnh mộng ta càng ngẩn ngơ, tiếc
rẻ đau khổ bấy nhiêu trước cảnh thực phũ phàng. Không
có một cuộc tỉnh mộng nào mà không đem lại đau khổ, dù
mộng ấy là mộng đẹp hay ác mộng. Những người "mơ mộng
giữa ban ngày" nghĩa là ưa làm sống lại một hoài niệm hạnh
phúc, sẽ phải đau khổ thốt lời than như Chateauriand:
Revenez,
revenez, ô mes tristes pensées
Je
veux rêver et non pleurer
(Hãy
trở về hiện tại, hỡi những hoài niệm u buồn
Tôi
chỉ muốn mộng mơ, mà không muốn khóc)
Nhưng
đã mơ mộng với quá khứ thì đương nhiên phải khóc với
hiện tại, đó là chuyện không thể tránh. Bởi vì khi mộng
tưởng như vậy, con người thường đắm mình trong sự say
sưa. Đó là một thái độ bám víu, ghì giữ lấy quá khứ,
làm sống lại nó để quên đi thực tại.
Nghĩ
tưởng về tương lai với niềm hy vọng, khát khao cũng là
một thái độ trốn chạy thực tại không khác hoài niệm
quá khứ. Khi một viễn tượng tương lai làm ta khoái thích,
ta hình dung nó trong trí với tất cả những chi tiết, đến
một độ ta hoàn toàn quên bẵng hiện tại. Đó là thái độ
của cô bé Pérette trong truyện ngụ ngôn của Lafontaine. Cô
bé đội một bình sữa đi bán, giữa đường cô nghĩ tới
lúc bán được tiền sẽ mua một con lợn về nuôi. Lợn sẽ
lớn nhanh, béo mập, khi lợn đẻ ra một bầy lợn con thì
sẽ đem bán được một món tiền to. Với món tiền ấy cô
sẽ mua một con bò, còn thừa tiền mua một thêm một con bê
xinh xắn. Con bê sẽ nhảy tung tăng khắp nhà, thật đáng yêu
biết mấy. Nghĩ tới đây cô khoái trá nhảy lên như con bê
trong trí tưởng. Bình sữa đội trên đầu rớt xuống vỡ
tan tành. Thế là vốn liếng đi đời nhà ma! Đó là hậu quả
dành sẵn cho người nào quá mơ mộng về tương lai, làm cho
hiện tại của mình phải hỏng bét như bình sữa vỡ tan tành.
Như
vậy hoài niệm quá khứ, mơ tưởng vị lai đều là hai thái
độ nguy hiểm. Chỉ còn cách an vui là sống với hiện tại
hiện tiền. Nhưng làm sao để sống hoàn toàn trong hiện tại?
Điều này dường như bất khả, vì cái tâm con người luôn
luôn hoạt động dù trong giấc ngủ. Mà nó đã hoạt động
thì không nghĩ về tương lai cũng đoái tưởng quá khứ. Ký
ức là một phần tất yếu của tâm thức con người, không
thể nào phủ nhận. Có người, vì ký ức dĩ vãng làm họ
đau khổ, thường tìm cách để quên. Nhưng càng cố quên,
nó lại càng hiện rõ. Cố quên một hoài niệm khổ cũng là
thái độ điên đảo không khác gì làm sống lại một hoài
niệm vui: hai hạng người này đều có mặt tại dưỡng trí
viện. Có những người điên, đúng giờ ngày tháng đó trong
năm, thì nổi cơn điên loạn. Đó là do họ đã tự ức chế,
không muốn nhớ lại một hoài niệm đau buồn vào ngày, tháng,
giờ đó. Chính sự đè nén đó đã ăn sâu vào tiềm thức,
làm họ trở thành điên loạn.
Như
thế thì chúng ta rơi vào ngõ bí không thể thoát chăng? Bởi
vì nhớ cũng không được mà quên cũng không xong. Vậy thì
ta phải sống làm sao với cái "của nợ ký ức" này? Vả lại
ta làm sao chối bỏ hoàn toàn quá khứ! Kinh nghiệm cũng là
do ký ức quá khứ, nếu không có ký ức thì không luôn cả
cái kinh nghiệm đang giúp ta sống trong hiện tại. Khi đó,
có lẽ chúng ta không khác gì trâu bò, chúng cũng sống không
có hoài niệm dự tưởng gì ráo. Dự tưởng về tương lai
cũng vậy, làm sao ta có thể sống trong hiện tại nếu không
có một ít bảo đảm tối thiểu về tương lai? Một đời
sống mà không nhớ gì đã qua, không tự tính việc gì chưa
đến, thì có lẽ không khác gì cỏ cây, ngói đá, súc vật
cả. Có phải đạo Phật khuyên ta trở về với một lối
sống như vậy không ?
Hoàn
toàn không !
Trái
lại, thiền định của Phật giáo có năng lực phát triển
trí nhớ (niệm lực) đến mức độ triệt để, làm cho người
ta có thể nhớ tới không những tuổi thơ của mình đời
này mà còn có thể nhớ đến nhiều đời trước với đầy
đủ các chi tiết: chủng tộc, quê hương, cha mẹ, đồ ăn,
tuổi thọ v.v.. Không những có thể nhớ đến vô số kiếp
quá khứ của mình, túc mạng minh, mà còn có thể nhớ quá
khứ của người khác gọi là thiên nhãn hay sinh tử trí, những
thần thông mà Phật có được khi đắc quả.
Như
vậy, có thể nói tu là phát triển toàn bộ tâm thức, trong
đó có trí nhớ, chứ không phải cố quên. Cố quên hay cố
nhớ, do vui hay buồn, do tư dục thúc đẩy, do sự trốn chạy
thực tế thúc đẩy, mới là tâm bệnh. Bởi vậy, chính thái
độ khoái thích đắm say, hay thái độ xua đuổi tránh né
mới là điểm đáng phàn nàn trong lúc nhớ về dĩ vãng hay
dự phóng tương lai. Một vị A la hán cũng có thể diễn tả
một hoài niệm quá khứ hay một dự phóng tương lai, nhưng
vị ấy không thích thú, không có thái độ bám víu hay xua
đuổi của người thường đối với hoài niệm, dự phóng
ấy. Chính nhờ thái độ vô dục, giải thoát đối với hoài
niệm, mà Phật có thể bình thản nhớ lại vô số tiền kiếp
của mình: "Tại chỗ kia, Ta đã sinh ra, dòng họ như vậy,
màu da như vậy, ăn đồ ăn như vậy, thọ khổ lạc như vậy...
Ta nhớ đến một đời, hai đời... Cho đến trăm ngàn đời...."
(kinh Trung Bộ I) Nếu chúng ta có thể gợi lại một kinh nghiệm
khổ vui của mình trong quá khứ với một thái độ vô dục
như Phật nhớ các tiền kiếp của ngài, không xen lẫn vui
buồn, không bám bíu, không thích thú, tức là ta đã giải
thoát khỏi những ràng buộc của dĩ vãng và vị lai. Sống
trong hiện tại có nghĩa là làm chủ được tâm thức mình,
rõ biết những khởi tâm động niệm của mình trong giây phút
hiện tại, không để bị lôi kéo về dĩ vãng hay tương lai
ngoài sự kiểm soát của mình, nghĩa là một cách vô thức.
Cái gì lôi kéo tâm trí ta trở về quá khứ hay khát vọng
tương lai? Chính là chấp thủ, sự bám víu.
(Bóng
Nguyệt Lòng Sông)