MỘT THOÁNG
HÀN SƠN TỰ
Thích
Chiếu Sáng
Chùa
Hàn Sơn không dựa vào vách núi như bao nhiêu ngôi già lam cổ
kính ở Trung Quốc, mà nép mình trong một thôn xóm nghèo ở
vùng ngoại ô của thành phố Tô Châu. Chúng tôi bước lần
theo con đường tráng nhựa quanh co dẫn đến cổng chùa. Phía
trước có một con sông nhỏ trong xanh, khơi nguồn từ Bắc
Kinh chảy thẳng đến Hàng Châu, nhưng lại uốn mình qua Cô
Tô, lững lờ trước cổng Hàn Sơn tự. Dòng sông hiền hòa
như mặc khách, êm đềm như tao nhân, ẩn hiện như câu chuyện
cổ tích, nhưng lại rực sáng bằng thi ca và lưu truyền cho
hậu thế. Nhờ đó mà dòng sông đa tô đậm sắc màu cho ngôi
già lam thêm phần thi vị. Cầu Giang Thôn ở trước chùa như
kết nối hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và bàn tay sáng
tạo của con người. Chiếc cầu đá được xây dựng theo
hình bán nguyệt nằm vắt mình trên sông. Du khách bước lên
cầu, phóng tầm nhìn xa hơn, có thể ngắm hai hàng cây phong,
xa hơn nữa là những ngôi nhà lầu cao ngất ngưởng như thách
thức với thời đại, cùng sánh vai bước vào thế kỷ hai
mươi mốt. Thời gian trôi qua, ngôi chùa vẫn đứng bên sông,
âm thầm ghi vào nỗi nhớ từng trang lịch sử, lặng lẽ chứng
kiến bao cuộc thăng trầm dâu bể của đất nước Trung Hoa.
Ngôi chùa đã soi bóng dưới dòng sông, hóa thân thành bức
tranh thủy mặc, phong sương với gió, hòa quyện vào mây, trơ
gan cùng năm tháng.
"Boong...
boong... boong...". Tiếng chuông thanh thoát trầm hùng, vọng vang
vào tai du khách, lòng chúng tôi như lắng đọng mọi suy tư,
lâng lâng theo tiếng chuông, xóa tan niềm vương vấn. Từ những
tâm tình riêng lẻ, chúng tôi gợi nhớ những giai thoại thi
ca, tiếng chuông đã thoát xác hiện thân vào cuộc sống, nhắc
nhở thế nhân quay về với thực tại.
Ngày
xưa Trương Kế là một trong những khách thuyền đi tìm cảm
hứng thi ca, ông đã sống dưới màn trời đầy sương, trong
bóng đêm ông đã lắng nghe tiếng của chim kêu, lặng nhìn
ánh trăng khuất dần ở trời xa. Tất cả cảnh sắc của
thiên nhiên đã hội tụ trên sông, hồn thơ liền trỗi dậy,
nhất là hình ảnh của bác ngư phủ bên ánh đèn lập lòe,
khiến cho hai hàng cây phong ở ven bờ như đượm nét sầu
vương. Thế là Trương Kế vội phóng bút thành thơ:
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Tạm
dịch:
Nhạn
kêu trăng lặn đêm sương
Bến
sông ánh lửa sầu vương thẫn thờ.
Tiếc
thay cảm hứng của ông bỗng nhiên biến mất, bao nhiêu mỹ
từ đã chắp cánh bay xa, để lại một mình ông trên chiếc
thuyền độc mộc, sự bế tắc của ngôn từ khiến ông mệt
lả, ru vào giấc ngủ chập chờn.
Cùng
lúc đó, Hòa thượng trụ trì chùa Hàn Sơn sau giờ tọa thiền
đang tản bộ dưới hiên chùa thanh vắng, bóng đêm trường
tĩnh mịch, ánh trăng lung linh tỏa chiếu, các vì sao đang ẩn
hiện mập mờ, tạo nên không gian lôi cuốn thi nhân. Thoảng
nhiên những tứ thơ tự nhiên tìm về trong tâm tư của Hòa
thượng:
Sơ
tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán
tợ ngân câu bán tợ cung
Tạm
dịch:
Canh
tư trăng sáng mông lung
Nửa
hình câu móc, như cung nửa vành
Đến
đây ý thơ không tuôn chảy nữa, Hòa thượng cố tìm lại
một chút gì đó cảm xúc của hồn thơ, để điểm xuyết
bức tranh thi ca còn đang dang dở. Thế là ngài đi tản bộ
dưới ánh trăng, tâm hồn lại vương vấn nỗi niềm riêng
chất ngất. Biết được tâm trạng của sư phụ, chú tiểu
âm thầm lẽo đẽo theo sau, phác họa lại bức tranh của đêm
trăng chưa được hoàn hảo. Chẳng những chú đã vượt trội
hơn sư phụ về mỹ từ, mà còn biểu hiện sâu sắc hơn về
nội dung. Sức sống của màn đêm đã được tái tạo trở
lại qua hai câu thơ của chú tiểu:
Thùy
bả kim bôi thân lưỡng đoạn
Bán
trầm thủy để bán phù không
Tạm
dịch:
Ai
đang tâm xẻ trăng vàng
Bóng
chìm dưới nước, nửa vầng trên không
Không
ngờ hai câu thơ của chú tiểu quá trác tuyệt, vừa có trăng
có đáy nước có hư không, vừa diễn đạt ý trừu tượng
bằng hình ảnh cụ thể hóa vầng trăng bị xẻ làm đôi.
Chỉ cần vài nét chấm phá trong bài thơ của chú tiểu, độc
giả có thể liên tưởng đến một bức tranh hoàn hảo của
một đêm trăng. Niềm vui cũng từ đó mà nhân đôi, thế là
hai thầy trò leo lên lầu khai đại hồng chung đang lúc nửa
đêm để cảm tạ thâm ân của Phật, Tổ. Tiếng chuông ngân
vang theo gió, đồng vọng đến bến sông, khiến cho Trương
Kế giật mình tỉnh giấc. Tiếng chuông như phá tan sự tĩnh
mịch của đêm khuya, nối lại dòng suy tư đang đứt quãng,
để rồi Trương Kế đã xuất thần làm nên kiệt tác lưu
lại cho đời sau:
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thinh đáo khách thuyền
Tạm
dịch:
Nhạn
kêu trăng lặn đêm sương
Bến
sông ánh lửa sầu vương thẫn thờ
Hàn
Sơn ven ngoại Cô Tô
Tiếng
chuông lay tỉnh giấc hồ nửa khuya.
Tiếng
chuông ngày xưa lay tỉnh khách tao nhân, nhưng bây giờ là tiếng
chuông của buổi chiều nhạt nắng. Ai cũng giật mình vì chỉ
mới đó mà thời gian lại trôi qua thật nhanh, chúng tôi vội
vào Đại hùng Bảo điện lễ Phật, phía sau chánh điện là
nơi tôn thờ hai vị Hàn Sơn và Thập Đắc. Ngôi chùa này
sở dĩ được nổi tiếng trong và ngoài nước, chính là do
sử thoại của hai vị hóa thân này.
Hàn
Sơn lai lịch như thế nào không ai biết rõ, người ta chỉ
biết nhà của ông gần chùa và thường xuyên qua lại làm
bạn với Hòa thượng Phong Can. Một hôm Hòa thượng Phong Can
lượm một chú bé mang về đặt tên là Thập Đắc. Hàng ngày
Hàn Sơn và Thập Đắc thường lượm cơm thừa rơi rớt ở
sàn rửa chén, phơi khô để dành ăn. Hai người rất tâm đầu
ý hợp, họ thường rong chơi trên khắp nẻo đường và làm
thơ khi gặp cảnh bức xúc. Một bữa nọ, Thập Đắc đến
trước tượng của Tôn giả Kiều Trần Như nói: "Đứng đây
làm gì vậy đồ tiểu căn bại chủng?". Lần sau chẳng ai
bảo ông lên chánh điện cúng Phật nữa. Hôm khác ông thấy
chim chóc thường đến ăn cơm cháo của chùa. Thập Đắc mới
đánh mắng tượng thần Già lam: "Ông là vị thần hộ trì
Tam bảo, tại sao không đuổi loài chim chóc bay đi?". Thần
Già lam báo mộng cho Tăng chúng chùa, Thập Đắc đã đánh
mắng ông. Mọi người hết sức ngạc nhiên nhưng chẳng ai
dám nói gì cả. Cũng vào năm đó Hòa thượng Phong Can xuống
núi hành cước, trong dịp tình cờ trị lành bệnh tuần phủ
Thái Châu. Nhân lúc tuần phủ muốn chiêu hiền đãi sĩ, Hòa
thượng mới bảo ông đến chùa Quốc Thanh tìm hai vị Hàn
Sơn và Thập Đắc. Hai vị này chính là hóa thân của Bồ
tát Văn Thù và Phổ Hiền. Điều đặc biệt là họ không
màng đến chuyện danh lợi của thế gian, nếu mời được
họ, ông có thể trị nước an dân. Sau đó không lâu, tuần
phủ đến chùa tìm Hàn Sơn và Thập Đắc, trong lúc bái kiến
ông còn nghe văng vẳng bên tai lời của hai vị, "Đối diện
với Di Đà mà chẳng biết, lễ lạy ta làm chi?". Thế rồi
hai ông cõng nhau trốn vào núi, từ đó về sau không còn ai
biết tông tích của họ ở đâu.
Phía
sau là Bảo tháp Phổ Minh cao năm tầng, du khách thường đứng
trên tầng cao nhất của bảo tháp dõi trông về phía xa, ngắm
nhìn toàn quang cảnh của chùa Hàn Sơn. Bên ngoài xung quanh
của Bảo tháp người ta đã lưu lại những bút tích các nhà
thư pháp nổi tiếng như là: Tánh Không, Tống Vương v.v...
Điều hết sức ngạc nhiên, các nhà thư pháp đều viết về
bài thơ "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế. Từ phía trước
nhìn vào ở bên trái là Pháp đường, bên trong cũng trưng
bày bút pháp "Phong Kiều dạ bạc".
Giờ
đây tuy xa rồi nhưng bên tai chúng tôi vẫn vang mãi tiếng
chuông chùa Hàn Sơn, Trương Kế nhờ tiếng chuông này đã
làm một bài thơ, để lại ấn tượng cho người đời nhớ
mãi. Chỉ một bài thơ thôi, mà tên tuổi của ông được
lưu danh đến ngàn sau, người ta nhắc đến Trương Kế đều
không quên vần thơ trác tuyệt của ông. Vần thơ đó Trương
Kế đã xuất thần sáng tác, đồng thời chiếm vị trí độc
tôn trong làng thi ca Trung Quốc. Các thi nhân nổi tiếng vào
đời Đường như Lý Bạch và Đỗ Phủ cũng làm thơ nói về
chùa Hàn Sơn, nhưng cũng thừa nhận thơ của họ không thể
nào sánh bằng kiệt tác của Trương Kế.
Xem
thêm:
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 5-2005
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân