VÀI
NÉT VỀ NI GIỚI PHẬT GIÁO HÀN QUỐC
TN.Giới
Hương
Phật
giáo được du nhập vào Hàn Quốc đến nay hơn 1.600 năm, nhưng
lịch sử của Phật giáo Hàn Quốc lại không có nhiều ghi
nhận về hoạt động của Ni giới.
Thật
ra ở Hàn Quốc, Ni giới đã có công lớn trong việc truyền
bá Phật pháp ở những giai đoạn đầu của lịch sử. Qua
các thời đại Tam kinh (37 trước Tây lịch - 668 sau Tây lịch),
Silla Thống nhất (668-935), Goryeo (còn gọi Goh Ryur hoặc Koryo,
918-1392), Joreon (còn gọi Joh Surn hoặc Choson 1392-1910) và thời
hiện đại ngày nay, Phật giáo tiếp tục được duy trì và
phát triển. Tùy địa phương khác nhau mà vị trí, vai trò
và sự biểu hiện của Ni giới trong Phật giáo cũng đa dạng
tùy duyên.
NI
GIỚI TRONG THỜI TAM KINH (Goguryeo, Baekje và Silla)
Lịch
sử Phật giáo Hàn Quốc ghi nhận Sunim Sa Morye là vị Tỳ kheo
ni đầu tiên (Sunim có nghĩa là Đại đức hoặc Ni sư trong
tiếng Hàn Quốc) đã hỗ trợ đắc lực cho Hòa thượng Ado
mang Phật giáo truyền vào kinh đô Silla. Tám năm sau khi Phật
giáo được chính thức chấp nhận ở đây, do ngưỡng mộ
đức hạnh Sunim Sa Morye, hoàng hậu của vua Beopheung đã xây
chùa Youngheong cúng dường, sau đó xuất gia trở thành Sunim
Myobop và là vị Tỳ kheo ni đầu tiên của Giáo hội Ni ở
Silla.
Trong
sử Tam kinh (Samguk-sagi) có ghi rằng vua Jinheung quy y Tam bảo
và được đặt pháp danh là Beop Un. Hoàng hậu của vua Jinheung
xuất gia làm Tỳ kheo ni Bopun và tu học ở chùa Young-heung.
Sau đó, có nhiều nữ Phật tử nữa cũng xuất gia theo Sunim.
Ngoài ra, còn có phu nhân Jiso của Tể tướng Kim Yu-si cũng
xuất gia trở thành Tỳ kheo ni sau khi chồng bà qua đời.
Vào
triều đại Jin Pyong (681-692), Hòa thượng Won Gwang là một
danh tăng Trung Quốc (đời nhà Tùy) đến Hàn Quốc tổ chức
lễ Juhm-chal. Nhân đó, có một Tỳ kheo ni đã cúng nhiều đất
đai cho Hòa thượng thực hiện Phật sự này. Tỳ kheo Ni Ji
Hye ở chùa Anhung cũng thường tổ chức lễ này mỗi năm.
Sử Tam kinh cũng có đề cập trường hợp của một Tỳ kheo
ni lương y đã chữa lành bịnh cho Quốc sư Gyeong Heung Dae Deok
trong triều đại vua Sin Mun (681-692).
Vào
năm thứ 12 triều vua Jinheung, vua đã sắc ban cho pháp sư Hyeryang
ở kinh đô Goguryeo làm Quốc sư và Tỳ kheo ni Ani làm Ni trưởng
của Giáo hội Ni. Đây là một sự kiện quan trọng chứng
tỏ Ni giới cũng được chú trọng.
Sử
của kinh đô Baekje cũng đề cập vai trò tích cực của Tỳ
kheo ni. Chẳng hạn vào năm 577, vua Widuck đã phái một Tỳ
kheo ni sang Nhật Bản để giảng dạy Phật pháp. Bên cạnh
đó, biên niên sử Nihonshoki (Nhật Bản) chép rằng vào năm
588, có 3 Tỳ kheo ni Hàn Quốc đầu tiên thọ giới ở Nhật
Bản do Hòa thượng Hye Pyeon (kinh đô Gogureyo) truyền giới
và sau đó họ trở về lại Baekje để học luật 3 năm. Năm
655 vào triều vua Uija, có Tỳ kheo ni lương y Beop Myeong sang
Nhật Bản trị bịnh bằng phương pháp trì kinh Duy Ma. Tất
cả những tường thuật này đã minh chứng vai trò tích cực
của các Tỳ kheo ni trong sứ mệnh hoằng pháp độ sanh.
Sử
Nihonshoki còn nói rằng vào năm 687 có một đoàn gồm 22 Tỳ
kheo, Tỳ kheo ni và Phật tử của kinh đô Silla đến trú tại
Musasinokuni (nay là Tokyo). Lần đầu tiên vào năm 757 ở quận
Silla thuộc Musasino, các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đã tích cực
phổ biến Phật pháp (theo sử Phật giáo Nhật Bản Genkoushakusho).
Đặc biệt trong tuyển tập thơ Manyosu Nhật Bản có đề cập
đến danh ni Hyeon Won.
Tóm
lại, lịch sử Hàn Quốc ghi nhận Ni giới đạt vị trí cao
nhất trong thời đại Tam kinh. Trong thời này không chỉ thứ
dân mà đến cả hoàng hậu, quý tộc cũng xuất gia thọ giới
và đóng góp trong sự nghiệp hoằng pháp.
NI
GIỚI TRONG TRIỀU ĐẠI GORYEO
Kế
thừa thời Tam kinh, triều đại Goryeo cũng có nhiều hoàng
gia quy y Tam bảo và thọ giới như hoàng hậu Yeon xuất gia
sau khi vua Gong Min băng hà. Các Tỳ kheo ni: Seong Hyo (còn gọi
là Jin Hye) (1255-1324), Jong Min, Cheong Won, Yo Yeon và Hui Won đã
nhập hạ 3 tháng tại chùa Su Seon và được Quốc sư Hye Sim
cấp chứng điệp an cư kiết hạ. Các chứng điệp này thể
hiện phong cách nghệ thuật viết chữ đẹp Eom Gok, Mu Hak.
Vào năm thứ bảy của vua Woo trị vì (tháng 5, năm 1381) trong
Ni giới xuất hiện một Tỳ kheo ni đức hạnh và có tài năng
đặc biệt, vị Ni này đã cảm hóa rất nhiều người theo
đạo Phật. Tỳ kheo ni Manbuhoi đã cùng với chư Tăng hoằng
pháp và khuyên Phật tử niệm Phật tụng kinh sẽ giúp cho
Phật tử khi chết không cảm thấy đau đớn hay sợ sệt.
Ni chúng và Phật tử mỗi buổi sáng tối thường tụng kinh
Kim Cang, Hoa Nghiêm, Di Đà, kinh Ngàn mắt Ngàn tay… Những kinh
này nhấn mạnh lòng từ bi và bao dung đối với người khác
và những giáo lý căn bản để người tu tập có thể sống
một đời sống an lạc.
Trong
thời hậu Goryeo, pháp hiệu của các Tỳ kheo ni như Ji Gong,
Na Ong và Bo U cũng được viết trong văn bia của các bậc thầy
tổ. Cùng với danh tánh các vị Tỳ kheo, rất nhiều tên các
Tỳ kheo ni cũng được khắc trong văn mộ chí.
Cuối
thời Goryeo, Tỳ kheo ni Myo Deok đã phát tâm ấn tống sách
"The Analects of Baekunhwasang" khắc trên gỗ do nghệ nhân Kyunghan
(bút hiệu Baekun) thực hiện. Điều này cũng đánh dấu thời
điểm phát triển nghệ thuật in ấn.
Đối
với Ni giới, Phật giáo là đời sống hàng ngày hơn là một
tôn giáo cao thượng. Suốt trong triều đại Goryeo, Ni giới
đã không gia nhập vào chính trị, thay vào đó, họ thường
tu hạnh bố thí, cúng dường hoặc xuất gia. Những người
nghèo thường hay cho con vào chùa hay những người giàu cúng
những người nô lệ vào chùa làm công quả. Đây là một
cách cúng dường sức lao động. Nữ giới thường đưa con
cái đến chùa quy y Tam bảo. Có những bà mẹ trở thành Tỳ
kheo ni, sau khi đã cho con mình xuất gia hoặc chồng chết. Và
cũng có nhiều mệnh phụ quý tộc xuất gia ở chùa Ni Jongop-won
xây tại thủ đô vào năm thứ 38 vua Gojong trị vì.
Lịch
sử cũng ghi nhận rằng vào năm thứ 14 vua Chungrgul trị vì,
công chúa của triều đại Yuan làm hoàng hậu của vua Chungryul,
thường mời chư Ni vào cung để tham vấn giáo lý.
NI
GIỚI TRONG TRIỀU ĐẠI JOSEON
Khác
với những thời đại trước, triều đại Joseon lấy Khổng
giáo làm hệ tư tưởng chỉ đạo cai trị thần dân, Phật
giáo mất dần ảnh hưởng về mặt xã hội, chính trị và
thậm chí bị kỳ thị đàn áp. Vào năm thứ 11 trị vì của
vua Sejong, nữ giới cấm không được tới chùa và quý thầy
không được tới nhà các quả phụ. Mặc dù thế, nữ giới
vẫn thích Phật giáo, tìm sự an lạc trong kinh điển và tìm
cầu phước báo trong hoạt động Phật sự khiến cho vua Taejong
đã phải than thở: "Ta đã cấm các nữ quý tộc không được
hành lễ Phật giáo nhưng họ vẫn tiếp tục tụng kinh, trì
giới … cầu nguyện cho gia đình được sống lâu và bình
an, không có gì có thể dừng họ lại được…".
Đây
là một bằng chứng cho thấy Phật giáo vẫn là một tôn giáo
thịnh hành trong nữ giới thời Joseon. Nữ giới Hàn Quốc
đã theo bước chân của các nữ quý tộc để ủng hộ Phật
pháp, đến chùa lạy Phật, dù không đủ phương tiện như
các mệnh phụ quý tộc nhưng họ có thể cúng dường tịnh
tài và thực phẩm trong khả năng cho phép. Do áp lực triều
chính chống lại Phật giáo thời bấy giờ, giới hạn việc
cúng dường và cấm chư Tăng không được lai vãng vào các
thành phố.
Sử
kể rằng suốt thời gian hoàng hậu Mun Jeong (1545-1553) nhiếp
chính, đã có 5.000 Tỳ kheo ni và đặc biệt vài danh ni đã
tu học ở những Ni viện Jasu Won và Insu Won. Nhưng do chánh
sách đàn áp, hai Ni viện Jasu Won và Insu Won cuối cùng cũng
bị phá hủy và các Tỳ kheo Ni bị trục xuất khỏi thủ đô.
Tuy vậy, các Tỳ kheo ni cũng nỗ lực duy trì đạo Phật như
Sư cô Gim Suyeong sống ở chùa Naewon, đã cúng dường tiền
để xây chùa. Sư cô Hong Sanggeun cúng nhiều gạo cho chùa Yu
Joen tổ chức lễ. Một số thành viên trong hoàng gia yêu cầu
triều đình trả lại quyền lợi cho chùa và các Tỳ kheo ni
đóng vai trò như người trung gian giữa chùa và hoàng gia, khuyến
khích họ tu tập và ủng hộ Phật pháp. Các Tỳ kheo ni như
chất xúc tác cho sự sống còn và phát triển Phật giáo giữa
chính sách thiên về Khổng giáo và đàn áp Phật giáo của
triều đại Joseon.
NI
GIỚI TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
Ni
giới là nguồn sống và sức mạnh trong lịch sử Phật giáo
Hàn Quốc và sức mạnh này liên quan mật thiết với Phật
giáo Hàn Quốc. Ni giới chiếm đa số từ 70% đến 80% tổng
số giới xuất gia toàn quốc. Hiện nay, hơn một nửa Tỳ
kheo ni thuộc Giáo hội Tăng già Jogye lãnh đạo Phật giáo
ở Hàn Quốc và 16.000 vị thọ Cụ túc trong Giáo hội Tăng
già Jogye thì một nửa số này là Tỳ kheo ni. Đặc biệt trong
mùa Hạ năm 2003, có 940 Tỳ kheo ni trong số 2.159 vị từ 91
chùa của toàn bán đảo Hàn Quốc đến nhập hạ.
Ni
giới ngày nay đóng vai trò quan trọng trong xã hội và Tăng
già. Những hoạt động của Ni giới được mở rộng trong
việc thuyết giảng Phật pháp. Họ học cả giáo dục trong
đạo và ngoài đời và nhiều vị với văn bằng tiến sĩ,
thạc sĩ đã có thể dạy các Tỳ kheo ni trong các trường
cao đẳng Phật giáo. Hiện nay có 80 Tỳ kheo và Tỳ kheo ni
đang là pháp sư và có khoảng 60 Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đang
là giảng sư các ở trường Phật giáo và Đại học Dongkuk.
Sự thay đổi đáng khích lệ này là kết quả của những
nỗ lực và sự tự tu tập của họ. Hơn 100 Tỳ kheo ni đã
tốt nghiệp khóa hoằng pháp ở chùa Namjang, tại Sangju. Đây
là một sinh khí mới cho Giáo hội Ni tại Hàn Quốc. Thật
là vinh hạnh và vĩ đại cho Giáo hội Ni là vừa qua được
giới thiệu 3 Ni trưởng đạo cao đức trọng là quý sư bà:
Geumryong, Hyeoak và Sueak vào sử Phật giáo hiện đại của
Hàn Quốc.
Hơn
30 trung tâm thiền trên toàn bán đảo Hàn Quốc của Tỳ kheo
ni được trùng tu như trung tâm thiền của tu viện Gyunsung,
Naewon, Daesung, Daesung, Daewon, Boduck… Những giảng đường thuyết
pháp, trường sơ cấp, cao cấp và đại học Phật giáo được
thành lập với số lượng đông đảo chư Ni tham học. Ni giới
trở thành Bồ tát (Bosal) của lòng từ, mang những lời dạy
giải thoát của Đức Phật hòa nhập vào thực tế cuộc đời
trong nhiều lãnh vực như văn hóa, từ thiện xã hội, giáo
dục… Sự thành lập Học viện Phát triển Nữ giới (Buddhist
Women'Sakyadhita Development Institute) là biểu tượng kiên cố
của nữ giới Hàn Quốc và phản ảnh sự nỗ lực của họ
cống hiến cho Phật giáo và xã hội. Hiện nay, một số lớn
nữ Phật tử gia nhập vào nhiều hoạt động từ công quả
tay chân đến nghiên cứu kinh điển, phiên dịch ấn tống,
thiền định, tụng kinh trì chú, hoạt động xã hội và văn
hóa Phật giáo. Đây là khuynh hướng rất đáng khích lệ.
Hội
Tỳ kheo ni Hàn Quốc Giáo hội Jogye đã thành lập Phật học
Ni viện Beob Ryong Sa vào năm 2003 để tạo điều kiện cho Ni
giới nghiên cứu Phật pháp, đem Phật pháp đi vào cuộc đời
và xây dựng một xã hội từ bi.
Tóm
lại, 1.700 năm lịch sử Phật giáo Hàn Quốc đã cho thấy
Phật giáo Hàn Quốc đã có đóng góp lớn lao để xây dựng
nền văn hóa giàu có và phong phú cho bán đảo Hàn Quốc với
tinh thần và truyền thống lâu dài 'cứu nước và phục vụ
chúng sanh'. Phật giáo Hàn Quốc hồi phục sau 500 năm bị đàn
áp dưới triều Joseon. Tại đây, Ni giới là những nhân tố
tích cực đóng góp đằng sau những thành đạt lịch sử ấy.
Ni giới đóng vai trò quan trọng cùng với chư Tăng xây dựng
một xã hội tốt đẹp, trong đó Ni giới đã có điều kiện
trình bày khả năng của họ như là những người nỗ lực
tu tập, những sứ giả thừa kế Chánh pháp và là những biểu
tượng sống động của lòng từ bi. Bằng cách này, họ đã
xây dựng một chỗ đứng của họ trong lòng xã hội Hàn Quốc.
SÁCH
THAM KHẢO
1.
Discipline and Practice of Buddhist Women: Past and Present, Kwangwu Sunim,
8th Sakyadhita International Conference on Buddhist Women, Korea, 2004,
trang 5-9.
2.
Activities of Korean Buddhist Nuns: An Historical Review, Gyehwan Sunim;
Như trên, trang 29-35.
3.
A Panorama of 5000 Years: Korean History, Andrew C. Nahm, Hollym Corporation,
USA, 1989.
Nguồn
Giác Ngộ 267 (10/3/2005)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân