TẢN
MẠN VỀ MẸ
(Phần
2)
Hư
Thân Huỳnh trung Chánh
Đối
với các bà mẹ già, dẫu con cái mình lớn tuổi bao nhiêu,
nó vẫn là thằng béù con “nhỏ xíu” của mẹ như thuở
nào. Mẹ tôi tíu tít đón mừng tôi, trở lại Virginia chăm
sóc bà trong thời gian anh tôi đi về Việt Nam năm tuần lễ.
Bà trìu mến nhìn tôi thật lâu, vuốt tóc tôi, rồi chéùp
miệng buồn hiu : “Oâi! tóc con độ rày bạc nhiều lắm rồi!”
Mẹ tôi đã tròm trèm ở tuổi 90, thằng con của bà cũng đã
67, nhưng chắc bà đinh ninh nó vẫn là đứa bé con như thuở
nào, nên khi chợt khám phá ra mớ tóc bạc của nó, bà bùi
ngùi xót thương. Tôi cà rỡn :
-Má
già, thì con cũng lẻo đẻo già theo má! Rồi ngày nào đó,
má đi theo ông bà ngoại, thì con cũng đâu chịu thua, con theo
bén gót má cho coi!
Mẹ
tôi cười hề hề :
- Thì
ai cũng đi tới đó, sớm hay muộn vậy thôi! Dì Tám con theo
Oâng bà rồi đó! kể ra, chết sớm cũng là một điều hay!
- Chêt
sớùm thì có gì hay ho đâu má?, tôi thắc mắc.
- Ấy!
Ông bà già xưa mình thường nói “Thà làm trẻ ma hơn già
lú lẫn!” đó mà!
Tôi
rất ngạc nhiên vì chưa từng nghe qua câu phương ngôn, hàm
ý “chết trẻ được thương tiếc còn chờ đến già yếu
lú lẫn rồi thì chẳng còn ai thương” nầy. Có lẽ má tôi
suy tư nhiều về cảnh có thể bị lú lẫn làm khổ con cháu,
nên câu phương ngôn vốn xâm nhập và nằm yên trong ký ức
của bà từ thời niên thiếu bỗng bật ra như thế. Tôi không
muốn bà bị ám ảnh bởi tư tưởng bi quan nầy nên khỏa
lấp :
- Nhận
định nầy không đúng đâu má! Theo con thì kẻ đã khó ưa
dẫu sống hay chết, già hay trẻ gì thì cũng ưa hổng vô!
còn người dễ thương thì chết sớm trễ gì cũng khiến cho
mình đau lòng thương tiếc cả! phải không má?
- Ưa!
Bà
trầm ngâm một lúc, rồi lẩm bẩm tiếp lời :
- Má
đã già khụm rồi, mà chưa lẫn lộn. Kể ra thì may quá! Ừ!
May thiệt là may!
Mẹ
tôi quả thật tuy hay quên, đôi khi quên những chuyện rất
gần hay quên cả mảng thời gian hằng mươi năm, nhưng bà
vẫn có những suy tư sáng suốt, đối đáp còn bén nhạy.
Mẹ tôi có cái nhìn rất thản nhiên đối với lẽ chết sống
trên đời : Chết là chuyện bình thường chẳng có gì đáng
lo sợ, lúc nào chết thì sẵn sàng chết; còn Sống với
tuổi già lọm khọm sức khỏe suy sụp thì cũng nhẫn nại
hồn nhiên mà vui sống, dù rằng thỉnh thoảng bà cũng buột
miệng cằn nhằn : “Sao má và dì Năm sống dai quá vậy kìa?”
Với dì Năm thì con cái giữ kín các loại tin buồn, nhất
là tin tức liên quan đến thân thích từ trần vì sợ bà xúc
động, còn với mẹ tôi thì chúng tôi chẳng cần phải dấu
diếm gì cả. Bà bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh trong mọi
biến cố xảy ra trên cuộc đời nầy. Hai tuần trước, khi
anh tôi thông báo tin buồn của dì Tám, mẹ tôi đón nhận
tin đó rất bình thản, khiến anh còn ngạc nhiên, chẳng biết
bà có nghe rõ và hiểu rõ không? Nào ngờ, mấy hôm sau khi
thằng cháu vào thăm nội, bà kể cho nó nghe chuyện bà Tám
qua đời tại Việt Nam với lời “phê bình” : “sanh, lão,
bệnh, tử, lẽ đương nhiên mà con! Có ai tránh được đâu!”
Thì ra, mẹ tôi đã hiểu rất rõ, bà bình thản trước tin
buồn vì bà nắm vững lý vô thường, chớ không phải vô
tâm, bằng chứng là dạo nầy bà cứ nhắc đến Ông Bà Ngoại,
nhắc những kỹ niệm bé thơ, kể lể hoàn cảnh và tánh tình
của từng chị em, đã sống hay chết như thế nào? Nói đến
dì Tám thì bao giờ bà cũng cũng nhắc đến tật khóc dai của
dì Tám khi còn bé, và cơn bệnh trầm kha của dì mấy năm
cuối đời, rồi thở phào nhẹ nhõm nói : “Giờ thì nó khỏe,
không còn khóc, không còn bệnh liệt giường nữa rồi!...”
Nghe mẹ nhắc đến dì Tám, tôi cũng góp lời :
- Từ
khi được tin dì từ trần, mỗi ngày ba thời con đều niệm
chú vãng sanh hồi hướng cho dì! Má ạ!
Mẹ
tôi hăng hái khoe :
- Chú
vãng sanh má cũng thuộc nữa!
- Vậy
thì mẹ con mình đồng niệm chú cầu nguyện cho dì Tám nha
má!
- Ưa!
Mẹ
tôi liền trang nghiêm niệm trôi chảy bảy biến Vãng sanh tịnh
độ đà la ni : “Nam mô A Di Đa bà giạ, đa tha già đa giạ,
đá địa giạ tha. A di rị đô bà tì. A di rị đá, tất đam
bà tì. A di rị đá, tì ca lăng đế. A di rị đá, tì ca lăng
đá. Già di nị, già già na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha”û. Già
ở lứa tuổi 90 mà vẫn tụng đà la ni làu làu đã là việc
hiếm hoi, riêng đối với trường hợp của mẹ tôi, tôi có
thể nói đây là một sự kiện lạ lùng kỳ diệu. Bạn đọc
chắc không đồng ý với tôi về quan niệm nầy, nên có lẽ
tôi nên kể lể dài dòng một chút. Gia đình bên ngoại của
mẹ tôi rất sùng mộ đạo Phật, Oâng cố đã hiến đất
và yểm trợ xây dựng ngôi chùa cổ kính Bữu Lâm, tục gọi
là chùa Tổ tại Cái Bèo, Mỹ Xương (Sa Đéc), cả nhà đều
quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới với hòa thượng Hải Huệ
và đều thấm nhuần ít nhiều đạo pháp. Do đó, tuy Oâng
ngoại tôi theo nho gia, không thiết tha đến Phật Pháp, vào
những ngày lễ lớn hằng năm bà ngoại một mình vẫn đưa
đám con về chùa Tổ sống trọn vẹn một ngày trong chùa (không
rõ có phải là tu Bát quan trai không?) để thành tâm lễ bái,
mẹ tôi đã học thuộc chú Vãng Sanh từ dạo đó. Sau khi lập
gia đình, vì bên Nội tôi theo đạo thờ Oâng bà, theo nghĩa
là thờ cúng tổ tiên, kèm theo những thủ tục mê tín cúng
kiến thánh thần tạp loại để cầu tài, cầu lợi... nên
bà chẳng còn nhớ gì đến chùa chiền và đạo pháp nữa.
Đến khi cha tôi bị lâm nạn, mẹ tôi đôn đáo cầu cứu
khắp nơi : chùa chiền, đồng cốt, bùa chú, xăm quẻ, bói
toán... Điều đáng tiếc là mẹ tôi không gặp được
bậc chân tu khuyên giải, mà chỉ toàn gặp những kẻ giả
dối đội lốt tu hành để lường gạt bốc lột thiện tín
: tiền dâng cúng nhiều thì niềm nỡ vẽ vời lắm trò lễ
lộc, tiền eo hẹp thì bị khinh khi ruồng bỏ. Điều đáng
tiếc khác là mẹ tôi cứ lầm tưởng đồng cốt, xăm bói...
tạp nhạp cũng là “phó sản” của đạo Phật, nên niềm
tin của bà đối với đạo Phật bị sụp đổ toàn vẹn.
Trong hoàn cảnh khổ đau cùng cực, mẹ tôi được các tín
hữu đạo Tin Lành tìm đến, an ủi, vồn vã đưa đi nhà Thờ,
kiến tạo cho bà niềm tin và sức sống. Từ đó, mẹ tôi
và em gái tôi trở thành con chiên ngoan đạo, phần tôi có
lúc cũng nghiêng về đạo Chúa, nhưng nhờ duyên may theo bạn
viếng chùa Linh Sơn, mến đạo và trở thành Phật tử, riêng
anh tôi thì chẳng mấy quan tâm về vấn đề tôn giáo. Sau
khi định cư tại Hoa Kỳ, dầu mẹ tôi sống với ai, chúng
tôi đều đưa bà đi nhà thờ sinh hoạt hàng tuần. Mấy năm
nay, đi đứng khó khăn bà không đi “hầu việc Chúa” nữa,
rồi lần lần dường như bà đã quên cầu nguyện “Lạy
Cha chúng con ở trên Trời”, thế nhưng bài chú nghe từ thuở
ấu thời chìm sâu trong quên lãng cả bảy tám mươi năm nay,
bỗng hiện hành để mẹ tôi có thể đọc tụng trôi chảy,
thì đây chẳng phải là điều kỳ diệu sao?
Trong
kinh sách ghi chuyện là vào thời Đức Phật Thích Ca còn tại
thế, một hôm có một Oâng lão chừng 90 tuổi đến tịnh
xá Kỳ Hoàn xin xuất gia, các vị A la Hán đệ tử sau khi quan
sát nhận thấy trong tám đại vạn kiếp lão chưa từng gieo
trồng căn lành nên từ chối. Đức Phật nghe biết sự việc
trên, Ngài cho ông lão xuất gia, và sau khi được Phật khai
thị, ông liền đắc Sơ quả. Sau đó, Đức Phật mới giải
thích cho các đệ tử hiểu, là xa hơn 80 vạn kiếp về trước,
có lần ông lão là một tiều phu bị cọp dữ rượt phải
trèo lên cây trốn tránh. Tưởng yên thân nào ngờ cọp dữ
quyết cạp cho thân cây gãy để vồ mồi, gả tiều phu trong
cơn sợ hãi bỗng nhớ đến Phật liền niệm lớn “Nam mô
Phật”. Cọp dữ nghe tiếng la bỏ chạy đi, gả tiều phu
thoát nạn rồi tiếp tục kiếp sống buông lung không hề gieo
trồng căn lành nào nữa trong 80 đại kiếp về sau. Bất ngờ,
đến giây phút nầy, căn lành niệm Phật ngày xưa trở nên
thành thục nên lão ta được Phật độ và đắc Sơ quả.
Chỉ niệm Phật một câu thôi, là đã gieo thiện căn rồi,
thì công đức niệm chú của mẹ tôi chắc chắn cũng có ngày
thành thục.
Tụng
chú xong mẹ tôi còn khoe bà còn biết chú “Án ma ni bát mê
hồng” và biết tán hương nữa, bà liền ê a tán hương như
sau :
“Mỗi
nhật thần hôn, nhất chú hương
Tạ
thiên tạ địa tạ quân vương
.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(*)
Cữu
huyền thất tổ độ gia nương
Phụ
mẫu tại đường tăng long phước thọ
Phụ
mẫu quá khứ trực vãng Tây phương
Sở
cầu xứ xứ hiền hòa thục
Hữu
mạng nhơn nhơn thọ mạng trường
Quốc
hữu trung thần phò xã tắc
Gia
vô nghịch tử não gia nương.
Mam
mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát”
Bài
tán hương xuất phát từ thuở còn quân vương của thế kỷ
thứ 19, tưởng đã chôn vùi biệt tích, nay bỗng nhiên tái
xuất hiện, nên dầu bài tán hương có điểm thiếu sót (*)
và thật ra cũng không mấy đặc sắc, nhưng tôi sẽ trân quí
giữ gìn như một kỹ vật của mẹ, một cổ vật tuy có vết
nứt rạn nhưng hiếm hoi do mẹ tôi khai quật từ hang ổ sâu
thẩm trong tiềm thức của bà.
Nhân
lúc mẹ đang hào hứng, tôi bạo dạn thưa hỏi :
- Khi
má từ trần má có cho phép con tụng chú vãng sanh cho má không?
- Má
chết rồi! Đứa nào muốn làm gì thì làm!
- Con
xin phép má cẩn thận, bởi vì, sau khi chết rồi thì cái hồn
– tôi muốn dùng chữ thần thức nhưng sợ bà không hiểu
– vẫn còn nghe biết rất rõ, nếu má đồng ý thì sau nầy
khi hồn má nghe con tụng niệm má hài lòng mà tụng theo thì
rất tốt, vì con tin tưởng rằng nhờ má hoan hỷ mà má sẽ
sanh vào cõi lành. Ngược lại, nếu lúc đó má không đồng
ý mà con bướng bỉnh tụng niệm, hồn má có thể bất mãn,
sanh giận hờn thì rất nguy hiểm, vì sự giận hờn đó nó
sẽ kéo mình đào thai vào cõi xấu. Vì vậy, con cần hỏi
kỹ má lần nữa, má có thật sự bằng lòng, má có vui không?
- Ừa!
má vui, má hứa đó!
Cứ
vài ngày thì tôi hỏi bà lại lần nữa, rồi hai mẹ con đồng
niệm chú Vãng Sanh. Tôi lập lại mãi, để bà có cơ hội
xác định suy tư của bà về việc nầy, và hi vọng suy sư
đó sẽ lần lượt huân tập vào tàng thức bà, giúp thân
tâm bà an ổn vào những giờ phút lâm chung sau nầy.
Vấn
đề khác biệt tôn giáo trong gia đình là vấn đề gai góc
khó giải quyết. Đã bao lần, mẹ tôi vì quá thương con sợ
con theo một tôn giáo lầm lạc nên đã viện trợ các vị
mục sư cùng các tín hữu thuyết phục tôi “trở về với
Chúa” gây cho tôi bao nỗi phiền toái. Phần tôi, là một
Phật tử thuần thành dĩ nhiên tôi cũng tha thiết mong muốn
mang ánh sáng Phật Pháp đến với người mẹ thương yêu của
mình, thế nhưng, đã hàng trăm lần tôi ngập ngừng gợi chuyện
rồi đành lặng lẽ chuyển hướng, vì tôi tự biết mình
bất lực : thuyết giáo bất thành, mà tình cảm mẹ con lại
có thể bị thương tổn nữa. Do đó, ngày ngày, trong những
thời công phu, tôi chỉ biết hồi hướng cầu nguyện cho mẹ
“sống khỏe mạnh an vui, chết thì sanh về cõi Thiên của
Chúa”, chớ nào dám cầu mong bà hướng về Phật đạo. Giờ
đây, bất thình lình ánh sáng đạo pháp bỗng lóe lên trong
tâm thức của bà : mẹ tôi tụng chú vãng sanh, nhờ vậy,
tôi mới bạo dạn đề nghị tụng niệm cho bà khi lâm chung
và đã được bà đồng ý. Kể từ nay, tôi có thể an lòng
hồi hướng cho mẹ “sống an vui, chết nhẹ nhàng và sáng
suốt nương theo vãng sanh đà la ni để quy ngưỡng về cõi
tịnh độ phương Tây”. Tôi tin tưởng rằng đây là một
phước duyên, phước duyên hy hữu mà Phật Pháp nhiệm mầu
đã từ bi gia hộ cho mẹ con tôi.
Trách
nhiệm khó khăn khác của tôi trong những ngày gần gũi săn
sóc bà là “công tác” thực hiện thời dụng biểu trị
liệu vận động tay chân cho bà, mỗi ngày ba lần, mỗi lần
khoảng 35 phút, sao cho đúng “chỉ tiêu” mà anh tôi huy hoạch.
Lạ một điều là với anh tôi thì bà lẵng lặng thi hành
vì “nó là dân nhà binh kỷ luật sắt không khiếu nại được”,
còn với tôi thì bà than thở, kỳ kèo, đòi giảm một bớt
hai... có khi bà còn “dọa” không thèm tập nữa. Nếu tôi
năn nỉ bà thì may ra còn có kết quả, chớ còn giải thích
lý luận cách nào bà cũng làm ngơ, vì vậy, bấy lâu nay tôi
cứ phải thỏa hiệp, nhượng bộ ít nhiều để đổi lấy
sự vui vẻ hợp tác của bà. Thế nhưng sức khỏe của bà
ngày càng yếu, việc vận động đối với bà ngày càng cấp
thiết mà cũng nặng nhọc hơn nên lần nầy tôi dặn lòng
phải “gồng mình” cứng rắn để “thuyết phục” bà
tập thể dục nghiêm túc mới được. Tuy thầm quyết định
như vậy, nhưng tôi nghĩ đây là chuyện gian nan khó thực hiện
lắm, vì lòng dạ tôi yếu ớt, dễ dầu gì ép buộc mẹ già.
Sau khi anh tôi rời nhà, vừa chuẩn bị thời khóa thể dục
đầu tiên, tôi chưa kịp mở lời thì bà đã ra vẻ buồn
buồn gạ gẫm :
- Con
ơi! sao hôm nay má làm biếng quá! Nghỉ một bữa nghe con!
- Má
tập không đầy đủ thì chân tay yếu ngay, anh Hai căn dặn
con hằng chục lần là không được bớt động tác nào hết,
má à! Má nhớ không, lần trước anh Hai về kiểm soát xem
má đi như thế nào, má đi lết bết hơn ngày thường khiến
ảnh cằn nhằn con “quá xá cỡ”. Đáng lẽ, má thương con
thì má nên ủng hộ con chớ! má ráng đi ngon lành thì con đâu
bị rầy như vậy!
Bà
cười hì hì :
- Ưøa!
Thôi từ nay, “thương con mẹ phải bù đi cho con” vậy! Được
không?
Thật
không ngờ diễn tiến lại tốt đẹp và dễ dàng như thế
nầy, tôi mừng rỡ, cố tình nhảy dựng như đứa con nít
:
- Hay
lắm! Má chịu bù đi thì tập thể dục không được khiếu
nại, không đòi bớt nữa nghen!
- Ưøa!
Mẹ
con tôi nhìn nhau cười thật là vui.
(Thuở
nhỏ, mẹ tôi thường kể con cái nghe chuyện một bà mẹ được
ba đứa con trai hiếu thảo luân phiên nhau nuôi dưỡngï mỗi
người ba tháng. Để đánh giá lòng hiếu thảo của nhau, trước
khi bàn giao mẹ cho đứa con kế tiếp, đám con kiểm soát sức
khỏe mẹ bằng cách cân lường sức nặng của bà lên hay
xuống. Vì đứa con út nghèo, cơm nước cho mẹ không đầy
đủ, thân thể mẹ gầy gò, nên nó rất lo lắng bị hai anh
quở trách. Bà mẹ thương thằng con nghèo, bèn bao che nó bằng
cách lén dấu trong mình mớ chì cho nặng cân khi bàn giao, vì
vậy mới có câu “thương con mẹ phải bù chì cho con”.
Phần tôi thì lơ là, không hướng dẫn bà thao tập đúng mức
khiến chân bà yếu đi, nên mới rất cần bù đi mới không
bị anh la rầy. Mẹ tôi lớn tuổi rồi mà còn minh mẫn mượn
câu chuyện nầy ví von thay chữ bù chì thành bù đi, khiến
tôi kinh ngạc mà cũng vui tột cùng)
Tưởng
mẹ tôi chỉ đùa cho vui thôi, nào ngờ mẹ thực hiện lời
hứa bù đi rất “oanh liệt”. Kể từ hôm đó về sau, mẹ
tôi nhẫn nại hoàn tất thời khóa, khi mệt quá bà đứng
lại thở hổn hển, vừa cười cười giải thích : “ngưng
tập đi để má tập thở cái đã!”. Nghỉ một chút lấy
lại sức, bà cố gắng tiếp tục chớ chẳng đòi hỏi giảm
bớt một động tác thể dục nào cả. Thấy mẹ thao tác vất
vả, tôi thương đứt ruột, mà chỉ biết hôn hít bà tán
thưởng
mỗi khi bà hoàn tất một động tác nặng nhọc. Thuở nhỏ,
tôi chưa bao giờ biết hôn mẹ, bây giờ già rồi, mới tập
hôn mẹ mà vẫn chưa quá trễ đểø khám phá được nguồn
thương yêu tràn ngập trong lòng. Ngoài ra, chẳng biết đỡ
đần mẹ cách nào, tôi cùng tập theo động tác của bà, nhân
đó, múa men làm hề, hay nói chuyện tầm phào, nói đớt đát
quê mùa, nhái giọng đặc sệt địa phương để bà cười
vui mà quên mệt. (Thuở nhỏ khi học chuyện Oâng lão họ Lai,
tuổi đã bảy mươi mà còn mặc áo xanh đỏ, bắt chước
trẻ thơ làm trò cho cha mẹ vui, tôi chưa hiểu được. Giờ
đây, tôi mới khám phá ra là dù mình già đến cỡ nào, ở
bên mẹ, mình cũng chỉ là thằng bé con của ngày xưa, muốn
bày trò vui nhộn gì cho mẹ vui cũng dễ cả.) Mỗi khi
bà bắt đầu chán nãn, ngán ngẩm chuyện thể dục, tôi liền
tìm cách chọc bà cười, chuyện khó chịu bực mình nào cũng
biến thành chuyện tiếu lâm cười cợt được. Đại khái,
như khi bà di chuyển phải cầm cáng đẩy cái khung bánh xe
nặng nề, bà cằn nhằn : “Tập đi mỏi chân thì ít, mà
mỏi tay quá chừng hà!” thì tôi cười cợt chen vào :
- Má
đi đứng mỏi tay cũng bình thường thôi. Con đây, mà nói
chuyện có khi còn mỏi tay nữa kìa!
- Uûa!
Sao kỳ lạ vậy?”, mẹ thắc mắc.
- Có
gì lạ đâu! Chỉ vì con nói tiếng Mỹ dở ẹt, phải quơ
tay lia lịa làm dấu, nên mỏi tay vậy thôi.
Mẹ
tôi hiểu ra cười hề hề. Nụ cười rộn rã vui tươi nhất
là vụ cười lén ông anh hiếu thảo và chu đáo của tôi.
Môït hôm, sau khi vừa hoàn tất xong chương trình thể dục,
bà đứng thở dốc cười cười, rồi càm ràm :
- Mình
theo nó (tức anh Hai tôi) tập xong đã hụt hơi rồi, vậy mà
nó còn căn dặn “Khi nào má rảnh, má nhớ tập thêm một
mình càng nhiều càng tốt nghen!”
Vụ
dặn “nếu rảnh tập thêm nầy” cũng có ghi trong cẩm nang
của anh để lại, dĩ nhiên tôi làm lơ không áp dụng, vì
tập đầy đủ theo chương trình đã nặng nề, tôi lo ngại
bị mẹ phản đối, kêu nài giảm bớt rồi, huống chi là
bắt bà tập “giờ phụ trội”. Tuy vậy tôi cũng thừa dịp
bà than vãn, ra giọng diễu cợt nói lén cho vui :
- Xin
lỗi nghe anh Hai, nói thật anh nghe chớ...mẹ con tui làm biếng
lắm, đâu có h...u...ỡ...n và hơi sức đâu mà tập thêm!
a anh Hai!
Mẹ
tôi khoái chí quá cười ngất từng chập :
- Hì!
Hì! Rảnh thì nằm nghỉ chớ ai h...u...ỡ...n đâu mà tập
thêm! Hì!..hì!..
Chuyện
chỉ có vậy thôi, mà mỗi lần nhắc lại thì như là
chuyện mới, mẹ tôi vui vẻ cười rộn rã chẳng bao giờ
nhàm chán.
Năm
tuần lễ sống hủ hỉ ấm áp với mẹ trôi nhanh. Sau khi bàn
giao mẹ cho anh Hai, tôi vào phòng riêng của bà thân mật cười
giỡn, nói chuyện tầm phào, tận dụng những giờ phút thân
thương bên mẹï trước khi từ giả. Mẹ tôi vốn hiền hậu,
không cau có giận hờn nặng nhẹ một ai, những năm sau nầy
mẹ tôi lại càng dễ dãi, không giận, không than, không trách
móc, và lúc nào cũng hài lòng vui tươi với cuộc sống, với
nỗi già nua còm cõi của mình. Do đó, ngoài việc nghe mẹ
kể chuyện xưa cũ, tôi thường ngắm nhìn mẹ thật kỹ, ghi
nhớ từng nét dễ thương vô tận của bà, để biết rằng
mình diễm phúc có được bà mẹ hiền hậu tươi mát, sự
tươi mát mà chính tôi ước mong sau nầy mình có thể học
được nơi mẹ. Trong tình thương ngập tràn, tôi nói với
mẹ :
- Con
không biết sau nầy con có đượïc vui tươi thoải mái như
má không?
Mẹ
tôi cười hề hề, khoát tay :
- Chuyện
dễ mà!
Tôi
giải thích :
- Vui
tươi thoải mái như má không phải là chuyện dễ đâu! Má
biết không? Khi già yếu thân thể bệnh hoạn khó chịu nên
người ta thường sanh tật : rắc rối, giận hờn, cáu kỉnh,
gây phiền nhiễu, kinh hoàng cho con cháu! Con sợ vài năm nữa
con sẽ lâm vào cảnh nầy, sanh tật khiến con cháu xa lánh
thì nguy lắm, má ạ!
Dường
như mẹ tôi chẳng để ý gì về lời giải thích nầy, bà
dí dởm mĩm cười ra vẻ bí mật, lên tiếng :
- Con
đâu có già! Má nghĩ như vầy thì thấy các con trẻ hoài hà!
Bớt đi sáu mươi tuổi tuổi, thì anh con tỉ như mới mười
tuổi, con lên bảy, em con lên năm chớ bao nhiêu đâu! Nhỏ
xíu hà!
Hài
lòng với sự so sánh diễu cợt của mình, mẹ tôi thích chí
vang, tôi cũng cười phụ họa, nên bầu không khí rất vui
nhộn. Nhân dịp nầy, tôi mở lời từ giả mẹ :
- Thằng
bé bảy tuổi nhỏng nhẻo với má nè! Má ơi! Mai con trở về
Cali, má ở lại, khi nào rảnh nhớ tập thêm dùm con nhe má!
Nghe
câu nói giỡn hàng ngày, mẹ tôi lại cười tươi lên. Tôi
tỏ vẻ nghiêm trang đính chánh :
- Lần
nầy con không nói giỡn đâu. Con xin má vận động thiệt tình
mà! Má vận động thì má khỏe. Má khỏe thì má sống lâu
với tụi con thêm một chút.
Mẹ
tôi cười cười lặng yên ra vẻ chẳng muốn bận tâm gì
với chuyện sống chết cả. Tôi tiếp lời :
- Ờ!
Thì biết rằng trước sau gì cũng có ngày đó, nhưng má ráng
vận động thêm đi để sống bù cho tụi con một chút vậy
mà!
Tháng
3.2005
Ghi
chú :
*
Bài tán hương nầy có lẽ thịnh hành vào thời điểm miền
Nam có tục lệ lập trang thờ nho nhỏ trước nhà để thờ
“Thiên Địa”, tục gọi là “bàn thờ Oâng Thiên”. Bài
tán hương có vài điểm không ổn, và thiếu ít nhất là một
câu, câu thứ ba tạ ơn Tam Bảo, có thể tương tợ như là
: “Thập phương Tam Bảo thường gia hộ”. Bạn đọc nào
hiểu biết rõ, xin chỉ dẫn để người viết sửa lại cho
đúng. Xin cảm tạ.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân