THIẾP
TRẢ NỢ CHÀNG
Diệu
Trân
Khoa
học không tin có kiếp sau, có luân hồi, không tin có ân oán
vay trả nhưng cho tới nay, khoa học vẫn hoàn toàn thất bại
trong việc chứng minh những điều không tin ấy. Khi đã không
tin thì những câu chuyện quanh vấn đề đó sẽ trở thành
hoang đường, lố bịch, hoặc nhẹ nhàng hơn thì chỉ như
câu chuyện mua vui, vô thưởng vô phạt mà thôi. Nhưng ngay
với những người chỉ coi là chuyện “làm quà”, đôi khi
họ cũng vô tình không nhận ra những món quà ấy thấp thoáng
theo họ suốt chặng đời, nhiều khi còn ở lại với họ
lâu hơn cả những món ân tình mà họ tưởng là bền bỉ
keo sơn.
Tạm
thí dụ, ít người Việt Nam nào không biết chuyện Trương
Chi Mỵ Nương. Cô công nương con quan, cành vàng lá ngọc, đêm
đêm tựa lầu son nghe tiếng hát du dương của anh chèo đò
ven sông mà mê mẩn tương tư. Khi nàng mình hạc vóc mai, lương
y khắp nơi triệu về đành bó tay trước căn bệnh lạ kỳ
thì người thị nữ thân tín của nàng mới đành rụt rè,
sợ hãi thưa với Vương Quan rằng, cô chủ mê đắm tiếng
hát ven sông mà sanh bệnh. Lập tức anh chèo đò nghèo khổ
được triệu đến cửa quan. Bên giường bệnh của công nương,
chàng được lệnh cất tiếng hát để cứu nàng. Trong cơn
mê thiêm thiếp giữa mộng và thực, tiếng hát trầm bổng
du dương có ma lực đưa nàng về dần sinh lộ. Với niềm
hoan lạc ngập tràn, nàng từ từ mở mắt và trực diện người
trong mộng mang gương mặt quá dị kỳ xấu xí, xấu đến
mức vừa thất vọng, vừa kinh hãi, nàng đã hét rú lên rồi
ngất xỉu. Lẽ dĩ nhiên, anh lái đò nghèo khổ lập tức bị
đuổi khỏi dinh quan; nhưng oái oăm thay, nợ tình từ phút
đó mới thực sự thành oan nghiệt vì vừa nhìn thấy dung
nhan Mỵ Nương, lưới tình đã cột chặt lấy chàng trai “trời
bắt xấu”. Tự biết thân phận mình, nhưng quá đau khổ,
chàng ôm mối tình tuyệt vọng mà:
“Cắm
sào cho chặt, hát thề một câu:
Kiếp
này đã dở dang nhau
Thì
xin kiếp khác duyên sau lại thành.”
Khóc
nguyện xong, chàng trầm mình xuống sông, tự vẫn. Không ai
thấy xác người chèo đò nhưng ven sông đó bỗng mọc lên
cây lạ. Một người thợ tiện đi ngang, biết là gỗ quý
bèn cưa mấy nhánh, đẽo thành bộ tách trà rồi đem ra chợ
bán. Duyên nghiệp nào run rủi, bộ tách được người trong
dinh quan mua về, và khi thị nữ rót trà dâng công nương thì
lung linh đáy chén, nàng nhìn rõ bóng con đò và người lái
đò bất hạnh năm xưa! Chẳng phải chỉ nhìn thấy bóng hình
mà tiếng hát mê hồn còn cất lên, nghẹn ngào tức tưởi
như oán như than. Công nương vô vàn ân hận, giọt châu lã
chã rơi xuống chén. Nước mắt nàng rơi đến đâu, bóng hình
chàng mờ nhạt đến đấy; và khi nàng òa lên, ôm chén ngọc
vào lòng nức nở rằng “Duyên xưa đã lỡ phũ phàng. Thiếp
trả nợ chàng nước mắt đầy vơi”, là lúc hương trà
sóng sánh, đưa hồn chàng tan biến, thoát vòng oan nghiệt trần
gian …..
Câu
chuyện thực hay hư, hình như chẳng ai buồn bỏ công truy tìm
vì tình tiết đẹp quá! Diễm lệ quá! Thơ mộng quá! Đẹp
đến nỗi có người mơ mộng, mong được là Trương Chi để
tận hưởng cái thú đau thương tột đỉnh của một tâm hồn
nghệ sỹ ! Có người lại muốn được là Mỵ Nương để
biết tận đáy cảm xúc rung động tuyệt vời của con tim
! Chúng ta thường nói “thương lắm” hay “ghét lắm” mà
thật ra thương, ghét đó vẫn chỉ là hời hợt. Phải đi
tới nỗi đau cùng cực trộn lẫn niềm hoan lạc vô bờ thì
con sâu kinh dị mới hóa thành cánh bướm muôn mầu rực rỡ
giữa ngàn hoa.
Hầu
hết những câu chuyện dân gian đều nói đến sự thắt, mở
của ân oán, của việc lánh ác, làm lành, của việc gieo nhân
nào gặt quả nấy, không đời này thì đời sau. Chẳng phải
vô tình chuyện dân gian Á Đông xoay quanh những tình tiết
đó mà chính vì Đạo Phật thấm nhuần chúng ta. Không ai bảo
ai, chúng sanh chào đời đều cất tiếng khóc như nhau. Sao
thế? Khóc hay cười khi đó đều vô nghĩa, sao không trẻ thơ
nào cất tiếng cười vang mà đều là khóc òa, khóc thét?
Có phải vì nhận kiếp người đã là nhận một, trong tứ
khổ rồi không? Chư Phật thị hiện cõi ta-bà cũng chỉ vì
một nhân duyên duy nhất là Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri
kiến. Khai là mở ra, thị là chỉ cho thấy, ngộ là giải
cho hiểu được, nhập là bước vào, là một, với Phật tánh
sẵn có của mình. Chúng sanh nào Nhập được Phật tri kiến
mới mong “khi chào đời cất tiếng khóc, lúc lìa đời cười
mỉm nụ an nhiên”.
Nhưng
cuộc đời là một bãi chiến trường triền miên thống hận.
Chẳng phải ta chỉ thắng người mà còn phải thắng ta. Làm
sao để giảm bớt địa bàn ở bãi chiến trường đó? Chỉ
cần tỉnh thức đừng tạo nghiệp. Chẳng phải ghét bỏ nhau
mới là tạo nghiệp mà yêu thương cũng là nghiệp đấy! Giải
lụa mềm mà đủ sức trói chặt ta trong ảo tưởng, khiến
nợ nhau đời này khôn trả, đời sau còn tìm nhau vì tưởng
nhớ tiền thân!
Chiều
nay bỗng nhiều gió quá, chạnh thương những chùm hoa bưởi
mới đơm bông khiến tôi viết những giòng lẩn thẩn này.
Lẩn thẩn viết chưa đủ, tôi còn lẩn thẩn nghĩ rằng, nếu
tôi là cô thiếu nữ có bó hoa sen trên tay trong câu chuyện
tiền thân của Đức Phật thì tôi đã tặng hết cho anh chàng
lành thiện ngỏ lời mua lại 5 bông để có sen cúng dường
Đấng Giác Ngộ. Tặng hết, vô điều kiện may ra tránh được
vướng mắc tơ duyên kiếp sau! Nhưng duyên và nợ tuy vô hình
mà chằng chịt tinh vi khiến chúng sanh cứ quẩn quanh chìm
nổi mãi, người cho tuy không đòi mà người nhận vẫn mắc
nợ! Có nợ lại tìm nhau!
Làm
sao, trong đời này chúng ta sớm biết vay, trả nhau cho đủ,
đừng muộn màng như Trương Chi-Mỵ Nương mà để lại trường
hận ngàn đời cho nhân gian thương cảm:
“Duyên
năm xưa,
Ai
đã trả cho ai?
Cho
chén tan thành lời
Đem
xuống nơi tuyền đài
Để
thành ngọc đá bao giờ nguôi …..”
Diệu
Trân
Tháng
5, 2005
Mùa
Phật Đản lần thứ 2629
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân