PHẬT PHÁP
TRUYỆN NGẮN
THƠ – VĂN
ĐỜI SỐNG 
TIN TỨC PHẬT GIÁO

SỐ 505 THÁNG 05 NĂM 2005 MỪNG PHẬT ĐẢN SANH
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
LỄ LẠY CHA MẸ

HỎI: 

Người xuất gia thọ giới nhà Phật khi cha mẹ quá vãng có lễ lạy không? Có ăn đồ cúng không? Chúng tôi nghe người nói được nhưng có người bảo không nên chưa được rõ. Xin cho biết nguyên nhân và hoan hỷ giải thích.

ĐÁP

Người xuất gia là bậc đã phát nguyện cát ái từ thân, xả ly những luyến ái gia đình thân tộc, tiếp nhận Thánh giới, tu tập Thánh đạo, cầu giải thoát và nguyện độ chúng sinh. Trong ba ý nghĩa cao quý của xuất gia (xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia) thì xuất thế tục gia, thoát ly khỏi căn nhà thế tục và các mối quan hệ tình cảm gia đình, dòng tộc là bước đầu tiên. Đây là bước ngoặt quan trọng làm cơ sở cho đời sống phạm hạnh, nỗ lực đoạn trừ tham ái đồng thời là nền tảng cho Thánh quả. 

Cát ái ly gia đối với người xuất gia phải được thực thi triệt để, trọn vẹn vì tham ái là điều chướng ngại có tính chất thâm căn, cội nguồn của sanh tử. Vì thế, trước lúc  phát nguyện tiếp nhận Thánh giới (10 giới Sa di hoặc Sa di ni), người xuất gia hướng về phương Bắc, chí thành lễ tạ tứ ân (ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân thí chủ), sau đó hướng về Tam bảo thọ nhận giới pháp xuất thế, quy mạng trọn đời. Từ đây trở về sau, người xuất gia sống đời xuất thế, nỗ lực tu tập để thành tựu giải thoát làm đạo sư của trời người đồng thời không còn liên hệ và bị ràng buộc bởi các quan hệ thế thường.
Đối với cha mẹ, công sanh thành dưỡng dục của song thân, người xuất gia xem trọng như núi cao, biển cả. Tuy nhiên, sự đền đáp công ơn hiếu dưỡng trời biển đó, người xuất gia không thực thi như người thế tục mà thực hiện bằng cách dùng đạo hạnh để cảm hóa cha mẹ hướng thiện, quy kính Tam bảo đồng thời phát huy đạo lực để tiếp dẫn, cầu nguyện cho cha mẹ siêu thoát. Vì thế, khi dự phần vào Tăng bảo, bước lên địa vị xuất thế gian, người xuất gia dẫu vẫn kính trọng và báo ơn cha mẹ nhưng không lễ lạy nữa.

Mặt khác, tuy có con là người xuất gia nhưng trong Chánh pháp thì cha mẹ vẫn thuộc hàng đệ tử tại gia, phải kính lễ Tam bảo, nương theo Tam bảo để tu học. Hàng Phật tử tại gia thường xuyên kính lễ Tam bảo mỗi ngày để vun bồi phước đức của mình. Do vậy, bậc cha mẹ có con xuất gia thì phải xem con mình là một vị Tăng, hành xử phải theo Pháp như chư vị Tăng khác. Một vị Tăng, ngoài kính lễ Tam bảo ra không lễ lạy bất cứ tôn vị nào khác, kể cả cha mẹ. Ngay cả việc thi lễ với những bậc quân vương, quốc chủ là pháp quy bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt của xã hội phong kiến vẫn dành cho chư Tăng một ngoại lệ, bất bái (Bất bái quân vương giả luận - Tuệ Viễn).

Người xuất gia vẫn tận hiếu với cha mẹ nhưng không lễ bái vì tuân thủ pháp tắc của Tăng bảo đồng thời việc lễ bái ấy sẽ tổn giảm phước đức của chính cha mẹ mình. Một vài vị xuất gia quan niệm rằng dù có làm gì trong xã hội đi nữa, mình cũng vẫn là con của cha mẹ nên thực hành lễ bái. Quan niệm này chỉ đúng với mọi người trong tương quan đời thường, thế tục nhưng đối với Chánh pháp thì rất thiển cận và sai lầm. Bởi khi thọ nhận sự kính lễ của một người mà giới đức và phạm hạnh to lớn hơn mình rất nhiều lần, tất nhiên phước đức của mình bị tổn giảm, nhất là khi thọ nhận kính lễ của vị Tăng thì phước đức của người tại gia càng bị tổn giảm hơn. Do vậy, để tôn trọng Chánh pháp và để tránh sự tổn phước cho cha mẹ, người xuất gia không lễ bái, dù song thân hiện còn hay đã khuất.

Đối với các phẩm vật đã dâng cúng quỷ thần và hương linh, theo pháp Phật, người xuất gia không thọ dụng. Kinh Tương Ưng Bộ I, khi Bà la môn Sundarika hỏi Phật nên cho ai những vật cúng còn lại này, Phật dạy: "Này Bà la môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh hay nhận chìm xuống nước nơi không có loài hữu tình". Vật phẩm đã dâng cúng quỷ thần, hương linh không phải là thực phẩm thanh tịnh theo thường pháp dành cho người xuất gia. Hàng Sa môn, Tỷ kheo chỉ được phép dùng các phẩm vật đã dâng cúng Tam bảo.

Ngoài ra, việc không ăn đồ cúng rất phù hợp với nguyên tắc vệ sinh, an toàn thực phẩm. Khi các phẩm vật đem ra cúng tế sẽ bị nắng mưa, nguội lạnh cùng với bụi bặm, tàn nhang và ruồi nhặng, nếu ăn vào sẽ có hại cho sức khỏe. Mặt khác, chư Tăng là những bậc giới đức, phạm hạnh cụ túc đã và đang hướng về địa vị Ứng cúng, La hán nên các phẩm vật mà quỷ thần và hương linh đã hưởng thọ xong; nếu đem cúng dường chư Tăng thì chính hương linh và quỷ thần ấy tổn phước vì thất kính. Bản thân chư Tăng cũng tự ý thức điều này, chỉ thọ dụng những thực phẩm cúng dường đúng pháp, không ăn các thực phẩm phi pháp "vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và các loài hữu tình".
 

HỎI:

Được biết, ngài A Nan sinh ra vào ngày Phật thành đạo và năm 25 tuổi mới xuất gia. Như vậy, Phật thành đạo trước hai mươi lăm năm thì ngài A Nan mới xuất gia. Nhưng trong các kinh lúc nào cũng có câu: "Như thị ngã văn (Như vầy tôi nghe) được xem là câu nói của ngài A Nan. Vậy, những bộ kinh mà Phật thuyết trước khi ngài A Nan xuất gia thì làm sao mà Ngài nghe được, để sau này trùng tuyên lại trong các cuộc kết tập kinh điển?

ĐÁP:

Chúng tôi hoàn toàn tán thán trước một "nghi vấn" rất hợp lý của sư cô! Khi đọc kinh điển Phật giáo, nếu như ai cũng biết đặt ra những suy tư, thắc mắc thì con đường hoàn thiện tri thức sẽ gần lại với mỗi người.

 Đúng như sư cô đã hiểu, ngài A Nan sanh vào năm mà Đức Thế Tôn vừa thành đạo, vào năm 25 tuỗi mới xuất gia. Trong cuộc đời của ngài A Nan, ngài đã có một sứ mạng đặc thù: đảm nhận vai trò hầu cận (thị giả) Đức Phật. 

Vì lẽ, trong suốt hai mươi lăm năm đầu, Đức Thế Tôn không có thị giả riêng. Khi thì ngài Nàgasamlà, khi thì ngài Nàgita… thay nhau đảm nhận công việc thị giả. Đến năm 56 tuổi, vì quán sát căn cơ của chúng sanh và cũng như để thuận lợi hơn trong công cuộc hoằng hóa tứ chúng nên Đức Thế Tôn muốn có một vị thị giả thường trực. Trong lúc ấy, các vị đại đệ tử như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Kiên, Kiều Trần Như… đưa ra nhiều ứng viên có khả năng đảm nhiệm công việc thị giả nhưng không được Phật chấp nhận. Cuối cùng, chư vị Tỳ kheo đề nghị ngài A Nan làm thị giả. Trước tình hình này, ngài A Nan nhận lời nhưng với một lời cầu thỉnh mang tính điều kiện. Đó là ngài sẽ đảm nhận trọng trách làm thị giả cho Đức Thế Tôn nếu như Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc liên quan đến A Nan.

 Bốn việc từ chối đó là: thứ nhất từ chối không cho A Nan y, đồ ăn, một phòng riêng và được mời ăn, vì nếu không từ chối thì ảnh hưởng của tứ chúng đối với ngài A Nan sẽ không tốt. Bốn việc chấp nhận: thứ nhất nếu A Nan được mời thọ trai thì Thế Tôn sẽ sẵn lòng đi dự. Thứ hai Thế Tôn sẵn lòng gặp những người ở xa đến và do A Nan giới thiệu. Thứ ba, Thế Tôn chấp nhận cho A Nan tiếp kiến nếu như A Nan gặp phải những sự phân vân, khó xử. Thứ tư, Thế Tôn sẽ giảng lại những bài kinh khi A Nan vắng mặt. (Theo, Tiểu bộ kinh III, Trưởng Lão Tăng Kệ, chương 17, phẩm Ba mươi kệ, phần Ananda, Nxb. TP.HCM, 2000, trang 456). Trong bốn điều chấp nhận mà ngài A Nan đã đưa ra, đáng chú ý nhất là điều cầu thỉnh sau cùng: Phật sẽ giảng lại những bài kinh mà A Nan chưa được nghe. Cũng tương tự như thế, trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Bắc bản), ngài Xá Lợi Phất đã khẳng định với tứ chúng rằng, ngài A Nan hầu Phật trên 20 năm, có tám điều không thể nghĩ bàn, điều thứ năm là cầu thỉnh Đức Phật thuyết cho Ngài nghe 12 bộ kinh - Ngũ giả, tự sự ngã lai trì ngã sở thuyết thập nhị bộ kinh (Đại Bát Niết Bàn kinh, quyển 40, Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, bản điện tử, tập 12, file mang số 0374-040).

Như vậy, căn cứ vào Tiểu Bộ kinh và Đại Bát Niết Bàn kinh đều đề cập đến một lời thỉnh cầu rất mực quan trọng: xin Đức Phật thuyết cho A Nan nghe những bài pháp mà A Nan không được dự trong pháp hội đó. Đây chính là một trong những lời thỉnh cầu quan trọng để rồi từ đây, ngài A Nan có đủ điều kiện nhân duyên để nghe lại toàn bộ các pháp thoại mà Đức Phật đã thuyết, không loại trừ những bài pháp mà Đức Phật đã thuyết trước lúc A Nan xuất gia. Mặt khác, cũng nên lưu ý rằng, với  tư chất thông tuệ, ngài A Nan có một khả năng ghi nhớ tất cả những lời giảng dạy của Phật. Điều này, Đức Phật đã khẳng định như sau: "Tỳ kheo bậc nhất trong chúng Thanh văn của Ta: biết thời, rõ vật, gặp việc không nghi, ghi nhớ không quên, nghe nhiều sâu rộng, kham nhẫn kính thờ người trên là Tỳ kheo A Nan," (Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Tăng Nhất A Hàm I, Viện NCPHVN ấn hành, 1997, tr 69). Do đó, dường như trong tất cả các kinh văn mà chúng ta thường trì tụng sau này đều được khởi đầu bằng sự khẳng định của A Nan: "Tôi nghe như vầy" và sự khẳng định đó hoàn toàn đầy đủ cơ sở vì  chính bản thân ngài  A Nan đã nghe.

 Suốt hai mươi lăm năm trời, bất kể thời gian, sự khắc nghiệt của thời tiết, điều kiện sức khỏe của bản thân mình; ngài A Nan đã bất chấp tất cả để thực hiện trọn vẹn sứ mạng thị giả hầu Phật. Ngoài công việc thường nhật hầu cận Đức Thế Tôn, ngài A Nan còn là một sứ giả truyền đạt thông tin cho tứ chúng, khởi phát nhân duyên để Phật cho phép nữ giới được xuất gia, giúp đỡ huynh đệ đồng tu trong lúc khó khăn, bệnh tật… và trên hết, công hạnh vĩ đại nhất của ngài A Nan là nhờ khả năng ghi nhớ vô song của mình mà pháp vị của Đức Thế Tôn vẫn còn lưu lộ và làm tươi nhuận nhân gian. 

(Nguồn: Giác Ngộ)
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
   (Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS