LỄ
LẠY CHA MẸ
HỎI:
Người
xuất gia thọ giới nhà Phật khi cha mẹ quá vãng có lễ lạy
không? Có ăn đồ cúng không? Chúng tôi nghe người nói được
nhưng có người bảo không nên chưa được rõ. Xin cho biết
nguyên nhân và hoan hỷ giải thích.
ĐÁP:
Người
xuất gia là bậc đã phát nguyện cát ái từ thân, xả ly những
luyến ái gia đình thân tộc, tiếp nhận Thánh giới, tu tập
Thánh đạo, cầu giải thoát và nguyện độ chúng sinh. Trong
ba ý nghĩa cao quý của xuất gia (xuất thế tục gia, xuất
phiền não gia và xuất tam giới gia) thì xuất thế tục gia,
thoát ly khỏi căn nhà thế tục và các mối quan hệ tình cảm
gia đình, dòng tộc là bước đầu tiên. Đây là bước ngoặt
quan trọng làm cơ sở cho đời sống phạm hạnh, nỗ lực
đoạn trừ tham ái đồng thời là nền tảng cho Thánh quả.
Cát
ái ly gia đối với người xuất gia phải được thực thi
triệt để, trọn vẹn vì tham ái là điều chướng ngại có
tính chất thâm căn, cội nguồn của sanh tử. Vì thế, trước
lúc phát nguyện tiếp nhận Thánh giới (10 giới Sa di
hoặc Sa di ni), người xuất gia hướng về phương Bắc, chí
thành lễ tạ tứ ân (ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc
gia và ân thí chủ), sau đó hướng về Tam bảo thọ nhận
giới pháp xuất thế, quy mạng trọn đời. Từ đây trở về
sau, người xuất gia sống đời xuất thế, nỗ lực tu tập
để thành tựu giải thoát làm đạo sư của trời người
đồng thời không còn liên hệ và bị ràng buộc bởi các
quan hệ thế thường.
Đối
với cha mẹ, công sanh thành dưỡng dục của song thân, người
xuất gia xem trọng như núi cao, biển cả. Tuy nhiên, sự đền
đáp công ơn hiếu dưỡng trời biển đó, người xuất gia
không thực thi như người thế tục mà thực hiện bằng cách
dùng đạo hạnh để cảm hóa cha mẹ hướng thiện, quy kính
Tam bảo đồng thời phát huy đạo lực để tiếp dẫn, cầu
nguyện cho cha mẹ siêu thoát. Vì thế, khi dự phần vào Tăng
bảo, bước lên địa vị xuất thế gian, người xuất gia
dẫu vẫn kính trọng và báo ơn cha mẹ nhưng không lễ lạy
nữa.
Mặt
khác, tuy có con là người xuất gia nhưng trong Chánh pháp thì
cha mẹ vẫn thuộc hàng đệ tử tại gia, phải kính lễ Tam
bảo, nương theo Tam bảo để tu học. Hàng Phật tử tại gia
thường xuyên kính lễ Tam bảo mỗi ngày để vun bồi phước
đức của mình. Do vậy, bậc cha mẹ có con xuất gia thì phải
xem con mình là một vị Tăng, hành xử phải theo Pháp như chư
vị Tăng khác. Một vị Tăng, ngoài kính lễ Tam bảo ra không
lễ lạy bất cứ tôn vị nào khác, kể cả cha mẹ. Ngay cả
việc thi lễ với những bậc quân vương, quốc chủ là pháp
quy bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt của xã hội phong kiến
vẫn dành cho chư Tăng một ngoại lệ, bất bái (Bất bái quân
vương giả luận - Tuệ Viễn).
Người
xuất gia vẫn tận hiếu với cha mẹ nhưng không lễ bái vì
tuân thủ pháp tắc của Tăng bảo đồng thời việc lễ bái
ấy sẽ tổn giảm phước đức của chính cha mẹ mình. Một
vài vị xuất gia quan niệm rằng dù có làm gì trong xã hội
đi nữa, mình cũng vẫn là con của cha mẹ nên thực hành lễ
bái. Quan niệm này chỉ đúng với mọi người trong tương
quan đời thường, thế tục nhưng đối với Chánh pháp thì
rất thiển cận và sai lầm. Bởi khi thọ nhận sự kính lễ
của một người mà giới đức và phạm hạnh to lớn hơn
mình rất nhiều lần, tất nhiên phước đức của mình bị
tổn giảm, nhất là khi thọ nhận kính lễ của vị Tăng thì
phước đức của người tại gia càng bị tổn giảm hơn.
Do vậy, để tôn trọng Chánh pháp và để tránh sự tổn phước
cho cha mẹ, người xuất gia không lễ bái, dù song thân hiện
còn hay đã khuất.
Đối
với các phẩm vật đã dâng cúng quỷ thần và hương linh,
theo pháp Phật, người xuất gia không thọ dụng. Kinh Tương
Ưng Bộ I, khi Bà la môn Sundarika hỏi Phật nên cho ai những
vật cúng còn lại này, Phật dạy: "Này Bà la môn, hãy quăng
vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh hay nhận
chìm xuống nước nơi không có loài hữu tình". Vật phẩm
đã dâng cúng quỷ thần, hương linh không phải là thực phẩm
thanh tịnh theo thường pháp dành cho người xuất gia. Hàng
Sa môn, Tỷ kheo chỉ được phép dùng các phẩm vật đã dâng
cúng Tam bảo.
Ngoài
ra, việc không ăn đồ cúng rất phù hợp với nguyên tắc
vệ sinh, an toàn thực phẩm. Khi các phẩm vật đem ra cúng
tế sẽ bị nắng mưa, nguội lạnh cùng với bụi bặm, tàn
nhang và ruồi nhặng, nếu ăn vào sẽ có hại cho sức khỏe.
Mặt khác, chư Tăng là những bậc giới đức, phạm hạnh
cụ túc đã và đang hướng về địa vị Ứng cúng, La hán
nên các phẩm vật mà quỷ thần và hương linh đã hưởng
thọ xong; nếu đem cúng dường chư Tăng thì chính hương linh
và quỷ thần ấy tổn phước vì thất kính. Bản thân chư
Tăng cũng tự ý thức điều này, chỉ thọ dụng những thực
phẩm cúng dường đúng pháp, không ăn các thực phẩm phi pháp
"vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và các loài
hữu tình".
HỎI:
Được
biết, ngài A Nan sinh ra vào ngày Phật thành đạo và năm 25
tuổi mới xuất gia. Như vậy, Phật thành đạo trước hai
mươi lăm năm thì ngài A Nan mới xuất gia. Nhưng trong các kinh
lúc nào cũng có câu: "Như thị ngã văn (Như vầy tôi nghe)
được xem là câu nói của ngài A Nan. Vậy, những bộ kinh
mà Phật thuyết trước khi ngài A Nan xuất gia thì làm sao mà
Ngài nghe được, để sau này trùng tuyên lại trong các cuộc
kết tập kinh điển?
ĐÁP:
Chúng
tôi hoàn toàn tán thán trước một "nghi vấn" rất hợp lý
của sư cô! Khi đọc kinh điển Phật giáo, nếu như ai cũng
biết đặt ra những suy tư, thắc mắc thì con đường hoàn
thiện tri thức sẽ gần lại với mỗi người.
Đúng
như sư cô đã hiểu, ngài A Nan sanh vào năm mà Đức Thế Tôn
vừa thành đạo, vào năm 25 tuỗi mới xuất gia. Trong cuộc
đời của ngài A Nan, ngài đã có một sứ mạng đặc thù:
đảm nhận vai trò hầu cận (thị giả) Đức Phật.
Vì
lẽ, trong suốt hai mươi lăm năm đầu, Đức Thế Tôn không
có thị giả riêng. Khi thì ngài Nàgasamlà, khi thì ngài Nàgita…
thay nhau đảm nhận công việc thị giả. Đến năm 56 tuổi,
vì quán sát căn cơ của chúng sanh và cũng như để thuận
lợi hơn trong công cuộc hoằng hóa tứ chúng nên Đức Thế
Tôn muốn có một vị thị giả thường trực. Trong lúc ấy,
các vị đại đệ tử như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Kiên,
Kiều Trần Như… đưa ra nhiều ứng viên có khả năng đảm
nhiệm công việc thị giả nhưng không được Phật chấp nhận.
Cuối cùng, chư vị Tỳ kheo đề nghị ngài A Nan làm thị giả.
Trước tình hình này, ngài A Nan nhận lời nhưng với một
lời cầu thỉnh mang tính điều kiện. Đó là ngài sẽ đảm
nhận trọng trách làm thị giả cho Đức Thế Tôn nếu như
Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc
liên quan đến A Nan.
Bốn
việc từ chối đó là: thứ nhất từ chối không cho A Nan
y, đồ ăn, một phòng riêng và được mời ăn, vì nếu không
từ chối thì ảnh hưởng của tứ chúng đối với ngài A
Nan sẽ không tốt. Bốn việc chấp nhận: thứ nhất nếu A
Nan được mời thọ trai thì Thế Tôn sẽ sẵn lòng đi dự.
Thứ hai Thế Tôn sẵn lòng gặp những người ở xa đến và
do A Nan giới thiệu. Thứ ba, Thế Tôn chấp nhận cho A Nan tiếp
kiến nếu như A Nan gặp phải những sự phân vân, khó xử.
Thứ tư, Thế Tôn sẽ giảng lại những bài kinh khi A Nan vắng
mặt. (Theo, Tiểu bộ kinh III, Trưởng Lão Tăng Kệ, chương
17, phẩm Ba mươi kệ, phần Ananda, Nxb. TP.HCM, 2000, trang 456).
Trong bốn điều chấp nhận mà ngài A Nan đã đưa ra, đáng
chú ý nhất là điều cầu thỉnh sau cùng: Phật sẽ giảng
lại những bài kinh mà A Nan chưa được nghe. Cũng tương tự
như thế, trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Bắc bản), ngài Xá
Lợi Phất đã khẳng định với tứ chúng rằng, ngài A Nan
hầu Phật trên 20 năm, có tám điều không thể nghĩ bàn, điều
thứ năm là cầu thỉnh Đức Phật thuyết cho Ngài nghe 12 bộ
kinh - Ngũ giả, tự sự ngã lai trì ngã sở thuyết thập nhị
bộ kinh (Đại Bát Niết Bàn kinh, quyển 40, Đại chánh tân
tu Đại tạng kinh, bản điện tử, tập 12, file mang số 0374-040).
Như
vậy, căn cứ vào Tiểu Bộ kinh và Đại Bát Niết Bàn kinh
đều đề cập đến một lời thỉnh cầu rất mực quan trọng:
xin Đức Phật thuyết cho A Nan nghe những bài pháp mà A Nan
không được dự trong pháp hội đó. Đây chính là một trong
những lời thỉnh cầu quan trọng để rồi từ đây, ngài
A Nan có đủ điều kiện nhân duyên để nghe lại toàn bộ
các pháp thoại mà Đức Phật đã thuyết, không loại trừ
những bài pháp mà Đức Phật đã thuyết trước lúc A Nan
xuất gia. Mặt khác, cũng nên lưu ý rằng, với tư chất
thông tuệ, ngài A Nan có một khả năng ghi nhớ tất cả những
lời giảng dạy của Phật. Điều này, Đức Phật đã khẳng
định như sau: "Tỳ kheo bậc nhất trong chúng Thanh văn của
Ta: biết thời, rõ vật, gặp việc không nghi, ghi nhớ không
quên, nghe nhiều sâu rộng, kham nhẫn kính thờ người trên
là Tỳ kheo A Nan," (Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Tăng Nhất
A Hàm I, Viện NCPHVN ấn hành, 1997, tr 69). Do đó, dường như
trong tất cả các kinh văn mà chúng ta thường trì tụng sau
này đều được khởi đầu bằng sự khẳng định của A
Nan: "Tôi nghe như vầy" và sự khẳng định đó hoàn toàn đầy
đủ cơ sở vì chính bản thân ngài A Nan đã nghe.
Suốt
hai mươi lăm năm trời, bất kể thời gian, sự khắc nghiệt
của thời tiết, điều kiện sức khỏe của bản thân mình;
ngài A Nan đã bất chấp tất cả để thực hiện trọn vẹn
sứ mạng thị giả hầu Phật. Ngoài công việc thường nhật
hầu cận Đức Thế Tôn, ngài A Nan còn là một sứ giả truyền
đạt thông tin cho tứ chúng, khởi phát nhân duyên để Phật
cho phép nữ giới được xuất gia, giúp đỡ huynh đệ đồng
tu trong lúc khó khăn, bệnh tật… và trên hết, công hạnh
vĩ đại nhất của ngài A Nan là nhờ khả năng ghi nhớ vô
song của mình mà pháp vị của Đức Thế Tôn vẫn còn lưu
lộ và làm tươi nhuận nhân gian.
(Nguồn:
Giác Ngộ)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân