PHẬT
GIÁO VÀ THỜI ĐẠI TÂN TIẾN
Thích
Quảng Bảo
Sự
xuất hiện của Phật giáo cách đây hơn 2.500 năm là một
cuộc cách mạng trong xã hội Ấn Độ cổ đại bởi vì đạo
Phật đã xóa bỏ những thể chế giai cấp truyền thống,
những tín ngưỡng lỗi thời và những quan điểm triết học
thịnh hành để hình thành nên một tín ngưỡng có thể được
gọi là tinh thần khoa học và lý trí. Kể từ đó trở đi
Phật giáo đã lan truyền khắp các nước Á Châu giống như
một cơn lũ và có ảnh hưởng rất nhiều đến truyền thống,
văn hóa, phong tục của người dân bản địa. Người ta thường
gọi tôn giáo này là một tôn giáo, một nền triết học,
một tín ngưỡng và một cách sống uốn nắn một nền văn
hóa mới và văn minh tân tiến. Một tinh thần tân sáng tạo
trong nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc hội họa và văn
học, trong thực tế toàn bộ cung bậc của những nổ lực
của con người trong mỗi quốc gia Á Châu là kết quả quyết
định nhất từ sự ảnh hưởng của Phật giáo.
Đạo
Phật ngày nay, cũng như những tôn giáo lớn khác trên thế
giới là một phần của sự thừa hưởng huy hoàng của nhân
loại, nhưng riêng bản chất của tôn giáo này chói lọi như
một nền triết lý, nền lý trí trong thế giới khoa học kỹ
thuật đương thời, một thế giới đầy dẫy stress và căng
thẳng, bạo lực và sự đe dọa của chiến tranh hạt nhân.
Phật
giáo thu hút được sự quan tâm của thời đại đương thời
trong khi những giá trị truyền thống đang được giới học
thức đương thời hoài nghi, chất vấn. Một con người thời
đại không chấp nhận những ý tưởng ước lệ, niềm tin
mù quáng, tín ngưỡng cứng nhắc, giáo điều bởi vì anh ta
bị đắm chìm, mải mê trong những ý tưởng khoa học đã
xóa tan đi nhiều huyền bí xa xưa cũ kỹ và vén bức màn những
huyền bí chưa được khám phá và biết đến về sự hiện
hữu của con người trên thế gian này. Sự tiến bộ của
khoa học và kỹ thuật trong suốt gần 200 năm qua đã mở ra
những lãnh vực mới của tư tưởng nhân loại. Học thuyết
tiến hóa của Darwin và sự phân tích khoa học về nguồn gốc
của con người, những khám phá của nhà phân tâm học Freud
về tâm của con người và những thế giới bí mật của tâm
và chủ nghĩa duy vật biện chứng và những quan điểm triết
học của Marx và Engels, học thuyết tương đối của vật
lý gia Einstein v.v... đã uốn nắn nên mẫu tư duy của con người
thời đại đến một mức độ đáng ngạc nhiên. Tất cả
những điều này để lại những quá trình xói mòn những
giá trị truyền thống của con người hiện đại không chấp
nhận quyền lực hoặc mệnh lệnh được đặt ra trong những
vấn đề không được tư duy, kiểm chứng. Ở đây, con người
này đòi hỏi một sự thực tiễn, khoa học.
Phật
giáo, một tôn giáo không tín điều, duy trì một sự thu hút
hấp dẫn đối với đầu óc của con người thời đại có
lẽ bởi vì phương pháp phân tích, xem xét sắc bén mang tính
học thức vượt xa những giáo điều mù quáng và ý niệm,
quan điểm ước lệ. Đức Phật muốn mọi người cố gắng
tìm hiểu kỹ lưỡng rồi sau đó mới chấp nhận. Ngài không
muốn tự cho mình là một Thiên xứ hoặc là yêu cầu mọi
người chấp nhận những lời dạy của Ngài như là tối thượng
không bàn luận và phán đoán xem xét. Sự phản ứng một cách
sắc bén đối với tín điều mù quáng trong thời đại của
Ngài được biểu hiện qua thái độ của Ngài khi trả lời
những vấn đề của ngoại đạo. Đức Phật chính là con
người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đưa ra những phương
cách nhằm giải thoát con người khỏi sự nô lệ của giáo
điều một sự chấp nhận bất kỳ một ý tưởng, học thuyết
nào mà không cần xem xét chất vấn. Trong bài kinh Kàlàmas,
Đức Phật dạy : “Chớ tin theo 1) Truyền thuyết 2) Truyền
thống (tín ngưỡng phong tục lâu đời) hoặc 3) Lời đồn
4) Uy quyền của kinh điển 5) Lý luận thuần túy (siêu hình
không có thực chứng) 6) Suy diễn 7) Xét đoán bề ngoài nông
cạn 8) Do thích thú một số quan điểm nào đó hoặc 9) Vì
quyền năng một cá nhân hoặc 10) Lòng tôn trọng một bậc
Đạo sư (Samôn)”. Ngài khuyên : “Hãy kiểm chứng, chất
vấn, và xem xét rồi sau đó mới chấp nhận hoặc bác bỏ”.
Hàng trăm năm sau kể từ đó, một tinh thần kiểm chứng,
xem xét cho sự giải thoát tâm khỏi những giáo điều như
thế được biểu hiện trong phong trào Phục hưng lâu dài tại
Châu Âu, đóng lại bức màn trình diễn của thời kỳ trung
cổ đen tối. Đức Phật muốn sự tự do xem xét của con người
phải được giác ngộ tỉnh thức hơn là bị trói buộc vào
những niềm tin mù quáng. Ngài không muốn rằng chính Ngài
được định nghĩa như một đấng Thượng đế, hoặc bị
coi thường như địa vị của một vị thần hoặc là được
sùng bái nhưng Ngài chỉ muốn những lời dạy phải được
tu tập và thực hành nếu chúng có thể được chấp nhận
trong sự nhận xét thuộc về lý trí. Tuy nhiên, về sau hình
ảnh của Đức Phật được phát triển rộng rãi sau khi Ngài
diệt độ. Nhu cầu tiếp nối của nhân loại, cuộc xung đột
giữa giá trị và quan điểm trong các nhóm tôn giáo tranh cãi
lẫn nhau tại Ấn Độ cổ đại và những lý do khác khiến
cho sự hiện hữu của Ngài là tượng trưng cho tinh thần từ
bi lý trí được lan tỏa khắp muôn phương và do đó sự cầu
nguyện Ngài không phải là một sự cầu nguyện sùng bái một
thần tượng hoặc để cầu xin Ngài ban ơn mà là để gợi
lên tinh thần chân lý.
Đức
Phật dạy rằng Ngài không trình bày những gì mới mẻ cả
nhưng Ngài chỉ lý giải, khám phá chân lý như nó đã hiện
hữu trong dòng đời bất tận. Tuy nhiên, không đơn giản như
những gì người ta suy nghĩ bởi vì để khám phá ra sự thật,
chân lý một cách rõ ràng hiển nhiên vượt xa sự ngụy trang,
cái vỏ mỏng manh bên ngoài là một trách nhiệm thử thách
nhất và đầy nổ lực nhất mà các tư tưởng gia và triết
học gia phải đương đầu không biết bao nhiêu lần trong lịch
sử nhân loại. Tứ Thánh Đế (The Four Noble Truths) và Bát Chánh
Đạo (The Noble Eightfold Path) không phải là những câu châm
ngôn mà là những nơi nương tựa của chân lý chỉ dẫn con
đường đưa đến sự giải thoát, chấm dứt vòng sanh tử
khổ đau và tự chứng đắc giác ngộ. Không có một yếu
tố huyền bí hoặc một sự chấp nhận không được xem xét,
thẩm vấn, mà ở đây con người phải sống và thực hành
Bát Chánh đạo như là sự hướng dẫn cho sự thăng tiến
về giới, định, tuệ. Đức Phật đưa ra triết lý của Ngài
dựa trên phương pháp phân tích sâu sắc về mối tương quan
nhân – quả – Paticca Samuppada hay Lý Duyên Sinh (The Law of Dependent
Arising). Tất cả các hiện tượng phải có một nguyên nhân,
và mỗi nguyên nhân phải có một kết quả và mối tương
quan nhân quả này phân tích mạng lưới phức tạp hoặc mối
tương tác giữa các sự kiện và hành động. Thuyết nhân
quả của đạo Phật có thể được kết nối, liện hệ với
học thuyết chuyển động của Newton, lực và phản lực bằng
nhau, ngược chiều nhau và tương tác lẫn nhau.
Khi
đề cập đến phương pháp phân tích và lý trí, Đức Phật
đặt thành vấn đề về những hệ thống giáo điều hoặc
niềm tin vào hiện tượng siêu nhiên đang hiện hành để xoa
dịu con người bớt những khổ đau. Ngài nhấn mạnh rằng
mỗi người là một kiến trúc sư cho chính mình, phải làm
ngọn đèn cho chính mình và phải nổ lực cho sự giải thoát
của chính mình. Ngài bác bỏ, chống đối ý tưởng cho rằng
có một linh hồn trường tồn bất biến, và dạy rằng : “Thế
gian là vô thường như một dòng chảy”. Heraclitus, một triết
gia Hy Lạp cổ đại cũng trực nhận như trên : “Anh không
thể đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước, bởi vì
dòng nước cứ trôi chảy mãi” (No man can enter into the same
river twice) và chính Khổng Tử cũng than : “Trôi chảy mãi
thế này ư, ngày đêm không dừng nghĩ” (Thệ giả như tư
phù, bất xả trú dạ). Ý tưởng của Đức Phật được tượng
trưng trong những ngôn từ có tính chất thơ ca này. Theo Ngài,
tự ngã (self) của một cá nhân hủy diệt trong từng sát na
và tiếp tục cho một chuỗi những sự thay đổi kế tiếp
và nghiệp hoạt động như là một lực đẩy về phía trước.
Cái “tôi” (“I”) trong một tự ngã chủ quan không phải
là một thực tế cố định hợp nhất, mà là thay đổi trong
từng giây mặc dù nó không biểu hiện ra bên ngoài cho chúng
ta thấy.
Đức
Phật nhấn mạnh nghiệp (Kamma - pali hoặc Karma – phan) hay
hành động như là nhân tố quyết định nhân cách của con
người, sanh nghiệp hay nghiệp tương lai có thể quyết định
con người trong tương lai như thế nào và loại chính nghiệp
như đã trình bày trong Bát Chánh Đạo có thể giải thoát
anh ta khỏi khổ đau và có một năng lực vô cùng mạnh trong
việc chuyển đổi số phận của anh ta. Nghiệp trong Phật
giáo là một thuyết tương phản với thuyết định mệnh,
số phận. Nó bổ nhiệm chúng ta không nên đổ lỗi sự thành
công hay thất bại của chúng ta cho bất kỳ một lực lượng
siêu nhiên nào bên ngoài mà chính là cho hành động của chính
chúng ta. Trong kinh pháp cú Đức Phật dạy : “Không nơi nào
thiên giới, hoặc ở giữa biển Đông, hoặc nơi đâu trên
mặt đất, có thể có một cái hồ nước nơi mà con người
có thể rửa hết những hậu quả của những ác nghiệp đã
tạo”. Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa
tự nghiệp. Từ quan điểm này, Đức Phật khám phá ra cảnh
giới tâm và Ngài mô tả nó như là chủ của tất cả các
tư tưởng và hành động.
Trong
lối phân tích về tâm và tâm lý, Ngài nghiên cứu càng ngày
càng sâu về cảnh giới bí mật của tâm, mà theo Ngài hình
thành nên động lực hướng dẫn trong mọi sự biểu hiện
bề ngoài của hành động con người. Bộ Abhidhamma (Thắng
Pháp Tập Yếu Luận) nói về tính phong phú và thâm sâu trong
lối phân tích tâm.
Sự
biểu hiện đầu tiên của một thể chế dân chủ trong lịch
sử thế giới là Giáo hội Tăng Già – Sangha một trật tự
Tăng đoàn do Đức Phật thành lập, được tiến hóa để
hướng dẫn Tăng đoàn trong tinh thần theo những nguyên tắc
dân chủ. Tăng đoàn có được quyền tự do cao hơn bất kỳ
cá nhân nào và rõ ràng rằng Đức Phật không bầu báng
người thừa kế, nhưng Ngài để cho Tăng đoàn tự quyết
định ai sẽ là người đứng đầu Tăng đoàn sau khi Ngài
diệt độ. Sự nhấn mạnh của Ngài trong sự tự nương tựa
chính mình và những nổ lực không mệt mỏi của con người
cho quả vị giác ngộ được phản chiếu một cách rõ ràng
trong bức thông điệp cuối cùng của Ngài. Khi Bậc vĩ nhân
sắp sửa tịch diệt, vị đệ tử thân cận nhất của Ngài
Ananda hỏi Ngài những gì sẽ xảy ra đối với chư vị đệ
tử Ngài sau khi Ngài nhập diệt.
“Hãy
làm ngọn đèn cho chính mình, làm nơi nương tựa cho chính
mình, nổ lực phấn đấu cho sự giải thoát của chính mình”,
Đức Phật dạy : “Đây là những lời vĩ đại nhất đã
từng được nói ra trong lịch sử nhân loại, tóm tắt sự
tin tưởng vào khả năng vô hạn của một hành giả trên con
đường đi đến sự giải thoát, giác ngộ”.
Xã
hội đương thời nhìn nhận lại nền triết lý vô hạn của
Ngài bao hàm lòng từ bi đối với tất cả chúng hữu tình,
Ngũ giới, Tứ vô lượng tâm : Từ, bi, hỉ, xả ... một cách
khâm phục và trân trọng hơn bao giờ hết bởi lẽ những
vấn đề của thời đại như chứng stress, sự trầm cảm,
sự đe dọa của chiến tranh đầu đạn hạt nhân ... chỉ
có thể giải quyết bằng cách áp dụng những nguyên tắc
trên của Đức Phật đã nói ra cách đây hơn 25 thế kỷ.
Và vì vậy thời đại tân tiến tìm thấy những giá trị
hiển nhiên trong Phật giáo và thông điệp của Ngài. Tóm lại,
Đức Phật là một người có trí tuệ vô cùng siêu việt
không phải một vị thần, vị thánh nào do người đời tưởng
tượng ra. Những lời dạy của Ngài được chép trong những
bộ kinh khá đầy, người ta mang ra học cả đời không hết.
Ngày nay khoa học tiến bộ khá cao. Người ta mang những lời
dạy của Ngài ra vùng ánh sáng khoa học để phân tích, cố
tìm xem có điều gì sai không, nhưng không sao tìm thấy. Nhà
Bác học lừng danh thế giới Albert Einstein tuyên bố rằng
:
“Nếu
có một tôn giáo nào đương đầu được với những nhu cầu
của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo
không cần xét lại những quan điểm của mình để cập nhật
hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không
cần từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật
giáo bao gồm cả khoa học và đi trước khoa học”
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân