TUỔI
TRẺ VÀ MÙA XUÂN TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA ĐẠO PHẬT
Tịnh
Nghiêm-Nghiêm Xuân Cường
Trước
hết bài viết này nhằm mục đích chia sẻ với quý vị những
thao thức của chúng tôi, một người đã đến với Phật
pháp trong một thời gian tương đối ngắn. Bản thân
chúng
tôi
đã được lợi lạc từ lúc đến với đạo Phật nên ước
muốn đem cái mình thấy được trong cuộc sống hằng ngày
chia sẻ với mọi người dù đó là những điều rất thô
thiển. Chúng tôi cũng tự biết là kiến thức của mình
về đạo Phật hết sức là cạn cợt, chỉ mong lấy sự thành
tâm của mình mà bù lại đôi chút cho cái nông cạn ấy.
Cuộc
sống của chúng ta ngày càng bận rộn. Một trong những
mâu thuẫn căn bản của thời đại mới là càng đầy đủ
về phương diện vật chất, người ta lại càng nẩy ra những
nhu cầu mới và lúc nào cũng phải đầu tắt mặt tối để
thỏa mãn những nhu cầu đó. Một mâu thuẫn nữa là
càng có nhiều máy móc, người ta lại càng bận rộn hơn bao
giờ hết. Nhiều người trên đường đi làm phải
vừa lái xe vừa ăn sáng hoặc tô son, kẻ lông mày hay đọc
báo trên tay lái ...Nhìn chung quanh chúng ta thấy các thanh thiếu
niên cũng lao vào cuộc sống tiêu thụ như cha mẹ của họ.
Các em dù còn rất trẻ đã có chiều hướng trở thành những
người tiêu thụ thứ thiệt - một thứ super-consumer.
Là người có một đứa con gái nhỏ tôi rất băn khoăn về
chuyện này, đó là: làm thế nào để cho con em mình có một
cái nhìn chân thật về hạnh phúc, về những giá trị của
một đời sống đạo đức.
Đối
diện với áp lực của cuộc sống là một vấn đề chung
cho mỗi chúng ta. Từng ngày tới đem đến cho ta những
niềm vui hay thất vọng. Điều này càng rõ hơn ở những
người trong tuổi đang lớn. Ta có được nhiều bạn
ưa thích không? Ta có thành công trong việc học không? Ta sẽ
chọn ngành nghề gì khi lên đại học? Nếu bạn ta uống
rượu hay hút thuốc, ta sẽ phải làm gì? Đó là chưa
kể đến những đổ vỡ trong gia đình và ngoài xã hội (Wide
Awake: A Buddhist Guide for Teens, Diana Winston, Perigee Book, 2003).
Mỗi ngày đọc báo chúng ta thấy bao nhiêu là hiện tượng
tiêu cực mà gần đây nhất là việc một thiếu niên 16 tuổi
tại Minnesota lấy súng shotgun và súng lục vào trường trung
học của mình tàn sát một loạt 7 mạng người sau khi đã
hạ sát ông ngoại và người bạn gái của ông mình.
Trước đó không lâu có chuyện một bé gái 9 tuổi dùng dao
đâm chết em trai 7 tuổi của mình sau khi hai chị em cãi nhau
về một cái hamburger. Hiển nhiên đây chỉ là những
dấu hiệu bề mặt của một xã hội mà trong đó các giá
trị đạo đức và văn hóa đã bị bỏ quên.
Ai
cũng biết con người không chỉ được nuôi dưỡng bằng các
thức ăn vật chất (đoạn thực) mà tâm trí chúng ta còn được
bồi dưỡng (hoặc hủy hoại) bằng các thức ăn tinh thần
(xúc thực, thức thực). Không cần nhìn xa xôi hơn là
các chương trình TV, các phim ảnh cũng như các tạp chí phổ
thông (Teens, Sports Illustrated, Cosmopolitan...) chúng ta thấy rõ
ràng là vì nhu cầu bán hàng, nhu cầu cần tạo dựng lên những
ảo tưởng về sự bức thiết phải có một món hàng
nào đó (cái mà người quảng cáo gọi là perceived needs) khiến
người ta ngày càng sử dụng tính dục (sex appeal) để quảng
cáo hàng hóa. Mọi người càng ngày càng tiêu thụ nhiều
hơn và một xã hội tiêu thụ nhiều như vậy được xem như
đồng nghĩa với có nhiều văn minh và hạnh phúc hơn.
Sự
thật có nhất thiết là như vậy không? Ngày nay chúng
ta có rất nhiều phương tiện truyền thông - nào là điện
thoại, điện thư, điện thoại cầm tay, fax ...Thế nhưng càng
văn minh người ta càng bận rộn đuổi theo những nhu cầu
giả tạo của mình, rồi phải đi làm thêm giờ để trả
nợ cho những nhu cầu đó còn đâu thì giờ để mà tạo nhịp
cầu thông cảm với người thân của mình. Thành ra phương
tiện thì nhiều mà xung đột gia đình vẫn leo thang và số
người ly dị ở xã hội Tây Phương ngày càng gia tăng.
Tỷ số ly dị ở Mỹ là 50%, ở Hòa Lan con số này lên đến
60%. Số người tự tử ở các xã hội Tây Phương cũng
không phải nhỏ. Mỗi ngày ở Mỹ có 85 người, ở Pháp
có khoảng 33 người tự tử. Các bênh tâm thần càng
ngày càng gia tăng và các thuốc an thần như Prozac, Zoloft ...các
thuốc trị lở loét bao tử (do căng thẳng thần kinh gây ra)
như Nexium, Protonix đều có số bán trên vài tỷ đô la cho
mỗi loại. Người bản xứ đã như vậy rồi thì chúng
ta, những người di dân lạc loài trong một nền văn hóa xa
lạ, xa rời cội nguồn yêu thương, xa rời truyền thống đại
gia đinh - sẽ còn gặp khó khăn hơn như thế nào? Kết
quả là tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại - trong đó có bản
thân chúng tôi -đã đánh mất chính mình trong cuộc sống bận
rộn ấy. Tại sao lại gọi là đánh mất mình? Tôi
xin được giải thích:
Tôi
đã đến với con đường của đạo giải thoát đưọc đúng
3 năm và đã được thật nhiều an lạc. Gần đây tôi
chợt nhớ lại là vào khoảng mùa xuân năm 1964, một cậu
bé 11 tuổi đã theo mẹ đi đến chùa và dự các buổi thuyết
pháp ở Viện Hóa Đạo của các Thầy Tâm Châu, Hộ Giác,
Giác Đức ...Mỗi tối trước khi đi ngủ cậu bé cũng đã
ngồi thiền. Cậu niệm hồng danh của các Chư Phật và
Bồ Tát: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà
Phật, Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, Nam Mô Quán Thế Âm
Bồ Tát, Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ...Vài tháng
sau đó là đến kỳ thi đệ thất, rồi vài năm sau là các
kỳ thi nối tiếp. Cậu bé bị giòng đời lôi cuốn theo
và quên hẳn cái gốc rễ tâm linh của mình để rồi đến
gần bốn mươi năm sau, trong cái đêm đen dầy đặc của xung
đột cá nhân cậu mới tìm lại được ánh đuốc tuệ của
đạo từ bi. Nói cho cùng thì các quyết định của người
ta đều ít nhiều gì bị ảnh hưởng của đám đông.
Ta làm như vậy vì người đi trước đã làm như vậy trong
các công việc, xử thế hằng ngày. Người ta nhập vào
giòng đời rồi bị cuốn theo cái giòng không bao giờ ngừng
nghỉ đó mà có bao giờ tự hỏi tại sao mình sinh ra
đời, cái gì (thật sự) làm mình sướng hay khổ?
Đọc
Mười Bốn Điều Răn Của Đức Phật có hai điều làm tôi
lúc đầu hơi thắc mắc. Đó là: Kẻ thù lớn nhất của
đời người là chính mình, và Sai lầm lớn nhất của đời
người là đánh mất chính mình. Hai điều này khi thoạt
nghe thì có vẻ thật nghịch lý vì ai lại chẳng yêu mình
nhất thì tại sao lại có thể là kẻ thù của chính mình
được; và người ta đánh mất tiền, mất đồ vật chứ
ai lại có thể đánh mất mình bao giờ! Tuy nhiên, nhìn
kỹ một chút thì ta sẽ thấy sự thật hiển nhiên của chúng.
Những người nghiện rượu hay thuốc lá chẳng hạn, nếu
thật sự là thương mình thì vì sao đã biết hai thứ này
là thuốc độc mà vẫn tự hại mình bằng cách tiêu thụ
những chất độc hại ấy? Những người đam mê bài
bạc cũng thế, biết đây là một thói quen làm mình táng gia
bại sản mà vẫn cứ lao vào. Khi những người nghiện
các thói quen này bước vào con đường của sự tàn hại vì
không còn sự tự chủ nữa nên họ chẳng đánh mất chính
mình là gì.
Bây
giờ chúng ta hãy trở lại chủ đề của bài viết: Tuổi
Trẻ Và Mùa Xuân Trên Con Đường Của Đạo Phật. Thường
thì người ta dùng mùa xuân như một biểu tượng của sự
an vui. nhưng Phật tử chúng ta đâu chỉ nhìn sự vật
qua hình tướng, như Thiền Sư Mãn Giác (1052-1096) đời nhà
Lý ở nước ta đã viết:
Xuân
khứ bách hoa lạc Xuân ruỗi trăm hoa rụng
Xuân
đáo bách hoa khai Xuân tới trăm hoa cười
Sự
trục nhãn tiền quá Trước mắt việc đi mãi
Lão
tùng đầu thượng lai Trên đầu già tới rồi
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai Đêm qua xuân trước một
cành mai
(bản dịch Ngô Tất Tố)
Mùa
xuân đâu chỉ có ở trong cánh hoa. Thấm nhuần lời Phật
dậy, chúng ta thấy mùa xuân là một ý niệm trong lòng.
Khi đã an trú trong Tam Bảo rồi, đó chính là niềm vui của
chúng ta, không cần phải phụ thuộc vào bốn mùa biến chuyển.
Ý niệm về tuổi cũng vậy, người ta thường do cái hình
tướng bên ngoài mà xét đoán, cho nên cố giữ cái dáng vẻ
trẻ trung của mình bằng y phục, trang sức, thậm chí bằng
cả xảo thuật của y học hiện đại như căng da mặt, hút
mỡ, tẩy răng… Nhưng tất nhiên đây là cách nhìn cạn
cợt vì khi đi kiếm tìm hạnh phúc ở cái không trường
cửu thì dù có cố gắng cách mấy người ta cũng không chống
lại được định luật của vô thường, chẳng khác
gì chàng Don Quixote của Cervantes suốt đời đuổi theo và đánh
nhau với nhũng cái cối xay gió. Đi kiếm hạnh phúc
ở trong cái hình tướng bên ngoài, ta sẽ mang tâm trạng như
một thi sĩ cận đại đã viết:
Tôi
có chờ đâu, có đợi đâu
Ai
đem xuân đến để tôi sầu
Với
tôi tất cả là vô nghĩa
Tất
cả không ngoài nghĩa khổ đau
So
sánh với cái nhìn của Thiền Sư Mãn Giác quả có khác một
trời một vực. Hạnh phúc và mùa xuân chỉ là một ý
niệm trong tâm, cho nên người đi tìm kiếm cái hạnh phúc
ấy ở những cảnh vật ngoại giới thì sẽ không bao giờ
được toại nguyện ví như một người khách đi đường xa,
nhìn thấy ánh đèn ở phía trước, định bụng là đến đó
sẽ có chỗ nghỉ đêm song khi đến nơi thì biết nó chỉ
là một ảo tưởng của thị giác. Cũng như vậy, con
người sống trong một xã hội mà các "nhu cầu" phần lớn
đều bị giật giây bởi quảng cáo thì không bao giờ hài
lòng được, hết cần mua cái này, rồi lại cần sắm cái
nọ, luôn luôn ở trong trạng thái cầu bất đắc, và cầu
bất đắc liên miên thì sẽ khổ liên miên.
Thành
ra, đây là một điều nghịch lý của cuộc sống hằng ngày:
càng đi tìm hạnh phúc ở phía tương lai, ở sự thỏa mãn
những nhu cầu vật chất giả tạo, người ta lại càng mong
muốn có nhiều hơn và lại càng bất mãn với cuộc sống
của mình. Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 có nói: "Nếu
ta biết kiềm chế được những động lực ích kỷ trong ta-
giận dữ chẳng hạn, và phát triển lòng tử tế và tâm từ
cho tha nhân thì rốt cuộc ta sẽ là người lợi lạc hơn là
nếu ta ích kỷ. Thành ra tôi vẫn hay nói với mọi người
là người ích kỷ khôn ngoan (the wise selfish person) phải
thực tập như thế. Kẻ ích kỷ một cách vô minh lúc
nào cũng nghĩ về mình và kết quả thường là tiêu cực.
Kẻ ích kỷ khôn ngoan hay nghĩ đến người khác và giúp người
bằng hết sức của mình và nhờ vậy chính họ cũng được
hưởng lợi lạc."
Cũng
vậy, Shantadeva, một nhà hiền triết Phật Giáo sống cách
đây trên mười hai thế kỷ, có viết:
All
the joy the world contains
Has
come through wishing happiness for others
All
the misery the world contains
Has
come through wanting pleasure for oneself
Is
there need for lengthy explanation
Childish
beings lookout for themselves,
While
Buddhas labor for the good of others
See
the difference that divides them.
tạm
dịch
Trầm
Luân
Có
gì đáng nói nữa đâu
Kẻ
vô minh muốn lợi mau về mình
Bậc
Bồ Tát giúp chúng sinh
Thoắt
trông đã thấy muôn phần khác xa
Nếu
mang hạnh phúc về ta
Mà
bao đau khổ tạo ra cho người
Tức
thì Phật tánh buông lơi
Có
vui chăng cũng một đời trầm luân.
Có
thể bạn sẽ cười tôi và nói: “Vô lý! Cho đi mà lại được
về nhiều là thế nào?“ Thú thật thì lúc đầu chính tôi
cũng đã không tin điều này vì thoạt nhìn thì đây quả là
điều thật nghịch lý. Tôi xin phép đưa ra một vài thí
dụ trong tăng thân mà tôi được biết.
Trường
hợp thứ nhất là một thiếu nữ trẻ. Vì một tai nạn,
cô bị mất hai chân từ đầu gối và phải gắn chân giả.
Tất nhiên là người bạn trẻ của chúng ta buồn vô cùng
và không thiết tha gì với cuộc sống. Trong một dịp
đi nghe pháp thoại do cố Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải thuyết
giảng, cô có dịp ở lại và tâm sự với Ni Sư: "Thưa
Ni Sư con buồn quá vì cặp chân của con là chân giả."
Bằng một giọng hồn nhiên, Ni Sư nhìn thắng vào mắt
người bạn trẻ, bảo rằng:"Ủa, chỉ có cặp chân của con
là giả sao? Cả thân hình của Ni Sư từ trên xuống dưới
là giả mà con không biết sao!" Và Ni Sư bật lên tiếng
cười khanh khách. Nghe xong lời dậy bảo vàng ngọc đó,
người bạn trẻ của chúng ta như chợt tỉnh. Cô lao
đầu vào những công việc giúp người khuyết tật. Ngày
nay, cô là một thành viên nồng cốt của Thư Viện Sách Nói
Thành Phố Hồ Chí Minh mà từ gần 6 năm nay đã gởi cả trăm
ngàn cuốn băng đọc sách giáo khoa cho người mù ở khắp
nơi trên đất nước Việt Nam.
Cô
cũng phát nguyện đọc toàn bộ tác phẩm của Ni Sư Trí Hải
vào băng, CD để phát cho các chùa trên toàn quốc Việt Nam,
và trong ngày tiểu tường đầu tiên của Ni Sư đã gởi 1000
cuốn băng đầu tiên đi khắp nơi. Quên đi cái đau
khổ của bản thân mình, người bạn trẻ này đã làm việc
không ngừng nghỉ để đem lại an vui cho người khác.
Hằng trăm, hằng ngàn người đã được lợi lạc nhờ những
hạnh nguyện của cô và đã gởi thơ cảm ơn và đó là phần
thưởng vô giá mà không của cải vật chất nào có thể so
sánh.
Một
người bạn khác của chúng tôi, anh KD, cách đây 6 năm đọc
báo và được biết về một nhà hảo tâm da đen. Nhà
hảo tâm này, một công nhân lái xe forklift của hãng xe Ford,
đã lập nên một quỹ học bổng trị giá gần một triệu
đô la, mỗi năm tài trợ cho mười mấy học sinh nghèo vào
đại học. Anh KD là người có phần hùn trong một công
việc doanh thương đang phát đạt; anh đã quyết định gọi
người hùn vốn xin rút lui và lấy phần hùn của mình ra .
Từ đó, anh về hưu và dùng số tiền của mình để làm công
tác từ thiện. Anh hợp tác vởi một số bạn là cựu
chiến binh Mỹ thành lập ra một tổ chức thiện nguyện.
Tổ chức này đã xây dựng được một bệnh xá tại tỉnh
Quảng Trị, một trưòng mẫu giáo, đào 200 giếng nước tại
vùng Cần Thơ và còn nhiều dự án khác mà chúng tôi không
nhớ hết để nêu ra ở đây. So sánh anh với một người
thương gia khác mà chúng tôi được biết thì sự khác biệt
như ngày và đêm. Anh KD lúc nào cũng có một nụ cười
bình an, tự tại, bước chân thảnh thơi. Một người
bạn chúng tôi được biết là chủ của mười mấy căn nhà
và vài cái building cho thuê, tiền bạc trong băng không thiếu.
Thế nhưng anh ăn không ngon, ngủ không yên về cả nghĩa đen
lẫn nghĩa bóng. Vì sao? Vì anh quá lo lắng nên bị
lở ruột không ngủ được. Mỗi ngày của anh có một
cái danh sách dài những việc phải làm, bương bả ngược
xuôi. Anh mua một cái xe cũ để chạy vì sợ người khác
biết là mình có nhiều tiền. Anh không gần gũi với
con cái vì không có thì giờ. Có lần anh nói với chúng
tôi: “Tôi mê tiền lắm, nếu đem nó theo đưọc qua bên kia
thế giới thì tôi cũng đem.” Như thế bạn có nghĩ
là anh đã tự đánh mất mình chăng? Hạnh phúc ở ngay
bên cạnh mà anh đâu thấy vì tiền đã trở thành cứu cánh
của đời anh mất rồi! Ít nhiều gì chúng ta cũng
mắc phải chứng bệnh như người thương gia này, hạnh phúc
ở ngay trong tâm ta chúng ta lại không biết mà ruổi rong đi
kiếm ở đâu đâu.
Trong
bài pháp thoại có tựa đề Truyện Kiều Qua cái Nhìn Thiền
Quán (xin nghe tại www.langmai.org), Thiền Sư Nhất Hạnh có nhắc
lại đoạn kể Thúy Kiều trốn nhà sang thăm Kim Trọng.
Chàng thư sinh đang ngủ mơ, nghe tiếng chân chợt tỉnh dậy
không biết mình có thật sự đang gặp người đẹp không.
Bâng khuâng đỉnh giáp non thần
Còn
ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng
Kiều
bèn trả lời:
Nàng
rằng khoảng vắng đêm trường
Vì
hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Bây
giờ rõ mặt đôi ta
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
"Đôi
ta" ở đây có thể là mình và vợ mình, cha mẹ mình hay con
mình, cũng có thể là mình và cảnh đẹp thiên nhiên.
Điều kiện hạnh phúc sẵn có song nếu ta sống không có chánh
niệm, không nhận ra nó thì mỗi phút sống của ta chỉ như
là giấc mơ và cả một cuộc đời ta chỉ là một chuỗi
dài những giấc mơ: giấc mơ làm giầu, giấc mơ mua xe mới,
giấc mơ sắm cái nhẫn kim cương 2 carat v.v..Thầy Nhất Hạnh
nhắc nhở chúng ta:"Sống như thế thì uổng quá đi!"
Chúng ta ít nhiều gì cũng đã sống trong mơ. Chúng ta
giới hạn tình thương của mình cho bản thân, cho gia đình
mặc kệ thiên hạ sống chết ra sao. Tôi cũng đã có
những tháng năm sống trong sầu khổ, làm những bài thơ, bài
nhạc đứt ruột, như đoạn thơ Giọt Sầu sau đây
Còn
đâu em ơi mùa thu tàn rồi
Mùa
đông sang đây tình anh vời vợi
Đường
về chiều nay giá buốt mưa rơi
Lặng
buồn nhìn theo bóng em dần khuất
Ngày
vui qua mau còn đây giọt sầu
Ngoài
hiên mưa khuya gợi nhớ tình đầu....
Nghe
hết sức là lâm ly bi thảm! Đến với đạo Phật rồi
tôi như người dân thành Kalama - đã đến để mà thực sự
thấy được là những điều Phật dậy khi đem ra ứng dụng
đã làm tiêu tan những sầu khổ mà bấy lâu nay tôi đã vướng
phải vì cái nhìn nông cạn của mình. Tôi nhận ra rằng tình
yêu, khi nó không bị giới hạn trong quan hệ tình yêu
nam nữ, có khả năng thật sự thăng hoa cuộc sống của ta.
Xin chia sẻ với quý vị bản nhạc sau đây
Khi
Ta Biết Yêu
Một
ngày mới đang lên
Em
có biết không?
Kìa
bầy chim tung tăng
Trong
ánh nắng hồng
Vạn
vật đang hân hoan
Mừng
đón gió mới
Đời
đẹp hơn bao nhiêu
Khi
ta biết yêu
Ngắm
cánh hoa cười
Tim
ta tha thiết
Hương
đời phơi phới
Khắp
chốn nắng vui
Một
ngày bình an
Hồn
vương ý thơ
Một
trời xanh bao la
Vang
vang tiếng ca
Đường
phía trước ta đi
Thênh
thang ngàn hoa
Một
ngày mới đang lên
Tình
dâng chất ngất
Đời
đẹp hơn bao nhiêu
Khi
ta biết yêu.
Nếu
trước đây tôi bị sầu khổ bao vây, nhìn chung quanh lúc nào
cũng thấy những hiện tượng tiêu cực đáng buồn chán, thì
nay tôi hiểu rằng tất cả đều do sự vô minh gây ra và không
bi quan về chúng nữa.
Cùng
một lúc với việc tôi đến với đạo Phật là việc một
ngưởi bạn rất thân thiết của chúng tôi là anh NP bắt đầu
những chuyến công tác về Việt Nam. Ngoài việc cộng
tác với một Viện Đại Học, sau khi xong công việc, anh còn
tìm những người địa phương để giúp đỡ nữa. Một
câu chuyện anh kể làm tôi nhớ mãi. Một buổi sáng sớm
đầu tháng 2-2003 tại khách sạn anh gặp hai cô thiếu nữ
trẻ khoảng đôi mươi trong áo cưới mầu đỏ và áo phù
dâu mầu hồng, anh vui vẻ hỏi:"Hai cháu đi đâu mà sớm thế?"
Nghe hỏi, cô bé mặc áo đỏ òa lên khóc. Cô kia dỗ
dành bạn: "Thôi mầy, đừng khóc nữa, nhòa son phấn
hết, xấu lắm!" Anh NP nhìn qua phòng bên cạnh: thì ra
đó là một đám cưới. Cô bé áo đỏ sắp lên xe hoa
về nhà chồng, một người Đài Loan gấp đôi tuổi cô.
Dường như trong cái giòng sống bình thường kia có những
những khổ đau ở trong mà chúng ta ít ai thấy nếu ta vẫn
còn phân biệt mình, người. Nếu cháu bé trong câu chuyện
này là con, cháu mình chắc chắn ta sẽ hết sức xót xa, còn
nếu nó là người dưng nước lã thì cháy nhà hàng xóm bình
chân như vại chăng? Nhìn kỹ hơn, vì "vạn vật tương
tức" nên cái đau khổ của người chắc chắn cũng liên hệ
đến ta, như Thiền Sư Nhất Hạnh đã viết gần đây: "Chúng
ta ai cũng có liên hệ với nhau (We're all related)." cái này có,
vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cho nên
Dường
như giữa cái thiên thu
Có
mong manh một sát na nhiệm mầu
Từ
trong giây phút ban đầu
Đã
thênh thang một nhịp cầu tương lai
Từ
bừng sáng thuở sơ khai
Đã
mênh mang vạn buổi mai huy hoàng
Bên
ta đời vẫn nhịp nhàng
Dù
trong vắng lặng dấu ngàn đớn đau
Trong
cái vắng lặng kia, nhìn sâu hơn một chút ta sẽ thấy bao
người đang khổ đau. Bạn cũng như tôi, chúng ta sợ
mất mát, sợ thua thiệt. Có người sẽ nói: "Trên đời
này có bao nhiêu triệu người đau khổ, làm sao tôi giúp hết
được. Vả lại tại sao lại là tôi mà không là ai khác,
tôi còn nghèo lắm, tôi phải giúp vợ con, gia đình tôi ..v..v..."
Tôi nhớ một bài thơ của thi sĩ Trần Tú Xương có hai câu
cuối thật sâu sắc: Thiên hạ vẫn còn đang ngủ cả, tội
gì mà thức một mình ta. Thi sĩ nói mỉa mai thế thôi,
chứ nếu ta đã tỉnh thức rồi thì đi trên con đường vui
đó sung sướng biết bao, tội gì mà ngủ tiếp để uổng
phí một đời như Thầy Nhất Hạnh đã nhắc chúng ta.
Ai trong chúng ta khi rời quê hương ra đi lại không ao ước
có ngày được đóng góp, giúp ích cho đồng bào ruột thịt.
Đóng góp này đâu cần phải to tát, lấp bể vá trời gì.
Và ai là đồng bào ruột thịt? Cô bé trong câu chuyện
ở trên đã đủ ruột thịt chưa hay phải là con cháu, họ
hàng của mình thì mới ruột thịt.
Một
câu chuyện khác thì có hậu hơn. Có lần đi bộ trước
cửa khuôn viên đại học, anh NP gặp một phụ nữ ngồi bán
trái mận (doi). Anh dừng lại, hỏi chị: "Thưa chị
bán thế này thì một ngày được bao nhiêu tiền ?" Chị bán
hàng trả lời: "Dạ thưa thày được chừng 5000 đồng Việt
Nam." Như vậy tức là chị và người chồng, một người
đi cày ruộng thuê, có một thu lợi khoảng 30-40 đô la một
tháng cho một gia đình 4 người. Khi được biết chị
H. cần một số vốn khoảng 250 đô la để mua một chiếc
xuồng có gắn máy đuôi tôm, chúng tôi đã quyên góp được
số tiền này giúp chị. Lá thư gần đây nhất-cách đây
vài tháng- chúng tôi nhận được từ chị H. cho biết gia đình
chị đã tạm no ấm. Chị mới lợp chiếc mái tranh và
ước mơ mới nhất là làm sao lo cho đứa con gái nay đang học
lớp 9 được vào đại học để trở thành cô giáo.
Phật
pháp cho anh em chúng tôi có cái nhìn bao quát hơn, không còn
chỉ thấy cái khổ của chính mình, thấy mình may mắn, thấy
sung sướng vô cùng khi chỉ một món tiền thật khiêm nhường
mà đã thay đổi vận mạng của một gia đình. Nhiều
người than phiền là chúng ta đang sống trong thời mạt pháp,
không còn các vị cao tăng, không còn thấy phép thần thông
..v..v...Tôi không cho là như vậy. Nội cái việc mỗi
sáng chúng ta thức dậy biết mình vẫn đang sống, thấy trời
xanh, nghe chim hót, vẫn còn được nghe pháp, vẫn còn làm ích
lợi cho mình, cho người, thì đó đã đủ là sự nhiệm mầu
rồi! Một kẻ phàm phu tục tử, vô minh như tôi, trước
đây đến chùa không dám vào mà bây giờ được đi trên con
đường của Phật pháp đó chưa là sự chuyển hóa lạ lùng
sao?
Trong
một buổi nói chuyện của Thiền Sư Nhất Hạnh tại Hà Nội,
cuối tháng 3 vừa qua, một thanh niên đã phát biểu: "Bạch
Sư Ông, đến hôm nay con đã đi dự ba buổi thuyết giảng
của Sư Ông, và được rất nhiều lợi lạc. Con thấy
những giáo lý của đạo Phật hết sức là thù thắng, giúp
người ta tháo gỡ được nhiều đau khổ trong cuộc sống.
Có điều con rất băn khoăn là khi nhìn vào thành phần người
tham dự pháp thoại thì thấy phần đông là người lớn tuổi
chứ người trẻ như chúng con rất là ít. Vậy thì Sư
Ông nghĩ chúng ta phải làm thế nào để đem người trẻ đến
với đạo Phật?"
Đây
là môt câu hỏi hết sức quan trọng mà cũng là một vấn
nạn chung cho tất cả các chùa ở khắp mọi nơi trên thế
giới, chứ không riêng gì ở Việt Nam. Người ta thường
có cái ngộ nhận là đạo Phật là đạo của người già,
đạo Phật bi quan, hay nói về cái khổ, đến với đạo Phật
sẽ phải sống khắc khổ ..v..v… Bản thân tôi cách đây
trên ba năm cũng là một trong những người đó. Câu trả
lời của Thiền Sư Nhất Hạnh là: những người trẻ cần
gặp nhau trong các cuộc pháp đàm để trao đổi về những
vấn đề làm mình bức xúc và đem những băn khoăn của mình
giải bầy với các chư tôn đức ở các chùa nơi địa phương
mình, và xin các ngài tổ chức những khóa tu hay có những
buổi pháp thoại về những đề tài thiết thực với tuổi
trẻ.
Trên
thực tế, khi đã đến gần với đạo Phật rồi thì ta thấy
đây quả đúng là đạo giải thoát với đúng nghĩa của nó
vì Phật pháp giúp ta ra khỏi những mê lầm mà từ trước
đến nay vẫn trói chặt mình trong cái đau khổ. Thiền
Sư Nhất Hạnh có viết một đoạn thật hay trong Đường Xưa
Mây Trắng (nxb Lá Bối, Walnut Creek, CA-USA, 1999):
Sa
Môn Gotama có cảm giác một cái nhà tù thường giam hãm con
người trong ngàn vạn kiếp vừa bị phá tung. Vô minh
là người chủ ngục. Vì sự u mê cho nên những vọng
động (hành) đã gợn lên trong tâm thức cũng như mây đen
đã giăng bủa trên bầu trời và che lấp cả trăng sao.
Từ những vọng động của tâm thức mà phát sinh ra sự phân
biệt tâm và vật, ta và người, có và không, còn và mất
(danh, sắc, lục nhập, xúc). Từ sự phân biệt ấy, phát
sinh ra sự tù túng (thọ, ái, thủ, hữu). Nhà tù đã
được xây dựng kiên cố. Trong khố đau sinh, lão,
bệnh, tử ) vô minh lại ngày càng sâu nặng, và bốn bức
tường của cái nhà tù ngày càng thêm vững chắc. Càng vùng
vẫy, con người càng thấy nhũng bức tường của nhà tù vững
chắc. Chỉ có một cách mà thôi: đó là nắm lấy người
chủ ngục và khám phá ra chân tướng nó. Người chủ
ngục ấy là vô minh. Phương pháp giải trừ vô minh là
con đường bát chánh đạo. Một khi tên chủ ngục không
còn nữa thì ngục tù sẽ bị phá tung và không bao giờ còn
được xây dựng trở lại.
Sa
Môn Gotama mỉm cười thì thầm:
"Này kẻ cai tù ơi, ta đã nhìn thấy ngươi. Từ bao nhiêu
kiếp rồi, ngươi đã thiết lập bao nhiêu phen những nhà tù
sinh tử. Bây giờ đây những bức tường đã bị phá
vỡ. Kèo cột đã bị đập nát. Ta đã nhìn rõ mặt
mũi của ngươi rồi. Từ nay trở đi, ngươi không còn
xây được một cái nhà tù nào nữa." (ĐXMT, trang 110-111)
Được
đi trên con đường của đạo, không bị những mê lầm của
ngã chấp trói chặt cho ta một cảm giác hết sức nhẹ nhàng.
Tất nhiên nhà tù kia, xây dựng đã bao đời, bao kiếp, không
dễ gì một vài tháng, vài năm mà phá hết, nhưng cái cảm
giác “thoát ngục” kia khiến lòng ta thật sảng khoái.
Xin chia sẻ với quý vị bài thơ sau:
Đóa
Hoa Bát Nhã
Ôi
ngục tối! Tràn lan bao ngục tối
Trói
hồn ta muôn ngàn lối bủa giăng
Ái
ngã, vô minh, tam độc, hận sân ...
Thân
lưu lạc bể trầm luân mê dối
Tôi
đã tới, như muôn người đã tới
Một
góc trời đầy nắng mới tâm linh
Chân
bước đi lòng rộn tiếng bình minh
Chim
vui hót, gió trong lành tươi mát
Trong
khoảnh khắc tim tôi bừng tiếng hát
Cất
cánh bay lên, ngun ngút trời cao
Tay
với xa, tôi níu lấy ngàn sao
Tâm
an lạc, mắt dạt dào ngấn lệ!
Tôi
bỗng thấy giòng đời trôi rất nhẹ
Nắng
tin yêu rạng rỡ khắp nẻo đường
Đạo
vàng bừng sáng ánh dương
Hoa
vô ưu ngát thơm hương đại từ.
Nhìn
lại ba năm qua, tôi chợt ý thức rằng những điều thiện
nho nhỏ mà mình đang làm, cũng như trăm ngàn người khác đang
làm, đã đem đến cho anh em chúng tôi những cái chuyển hóa
không nhỏ. Xa rồi là những ước mơ vô bổ. Nếu
trước đây tôi ao ước có một chiếc xe hơi đẹp hơn, sang
hơn cái xe tôi đang đi, thì bây giờ điều ấy không cần
thiết nữa. Những thứ máy móc, quần áo trong các cửa
tiệm bách hóa cũng chẳng làm chúng tôi hoa mắt thấy cần
phải có nữa.
Cách
đây không lâu, qua trang nhà www.sinhthuc.org tôi được nghe một
bài pháp thoại do Hòa Thượng Thích Tịnh Từ nói tại Tu Viện
Kim Sơn, California. Hòa Thượng nhắc nhở là có nhiều
bậc cha mẹ rất lo cho con mình, muốn cho nó bằng người nên
đến hè phải cho đi học thêm về nào là toán lý hóa, computer,
bơi lội, tennis, ballet, piano ...Vậy mà rất ít người nghĩ
đến việc bồi bổ cho con em mình về đời sống tâm linh.
Rồi Thầy đưa ra một thí dụ điển hình về một gia đình
mà trong đó những người con bị đối đầu với những nguy
cơ gia đình tan nát vi bất đồng tôn giáo. Cha mẹ đôi
bên cũng không giúp được vì họ chính là một phần của
vấn đề. Đạo Phật có những pháp môn rất mầu nhiệm
có thể giúp tháo gỡ những tình huống đau khổ ấy.
Trong trường hợp của gia đình này, cha mẹ không thể trao
truyền cho con cái di sản tâm linh đó vì chính họ cũng không
biết là mình có cái di sản ấy thì làm sao mà trao truyền.
Thật
vậy, chúng ta có một nền văn hóa Phật Giáo rất thâm sâu
và uyên áo. Văn hóa này đã quyện vào tinh thần Việt
Nam từ gần hai ngàn năm nay, đem đến nhiều trang sử hiển
hách của cha ông trong các triều đại Đinh Lê, Lý Trần. Nhà
thơ Trụ Vũ đã viết:
Việt
Nam và Phật Giáo
Phật
Giáo và Việt Nam
Ngàn
năm xương thịt nối liền
Tình
sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng
Cái
tình sông nghĩa biển ấy là một tuệ giác Phật Giáo hòa
nhập với sự khôn ngoan của ông cha làm thành một di sản
văn hóa thật quý giá mà mình không biết đến để mà trân
trọng, mà hấp thụ để rồi trao truyền cho con em mình như
một hành trang cho cuộc đời tương lai thì thật là tội nghiệp
cho mình, thật là đáng tiếc cho các cháu.
Ớ
đoạn trước tôi có nói đến những con số thống kê về
hiện trạng ly dị trong xã hội Tây Phương. Thật ra cộng
đồng Việt Nam cũng bị những đổ vỡ này gây đau khổ rất
nhiều. Những con số thường lạnh lùng song nếu nạn
nhân của căn bệnh xã hội này là người thân của chúng
ta thì tai hại của nó sẽ rõ hơn với ta. Cách đây vài
tháng tôi có dịp nói chuyện với một người bạn thân mà
đã gần ba năm ít liên lạc. Tôi hỏi thăm anh chị và
các cháu, và rất sững sờ khi nghe anh nói: "Tụi này không
còn ở chung nữa." Rồi anh kể về các con, đứa con trai
lớn nhất 27 tuổi đã đi làm, cô gái út 15 tuổi vừa học
xong lớp 9 ...Tôi ngậm ngùi nhớ lại hình ảnh gia đình đầm
ấm của anh chị khi chúng tôi đến thăm cách đây trên mười
năm. Hai người bạn của tôi gặp nhau trong trại tỵ
nạn, ở với nhau gần 25 năm, ngày trước thương yêu nhau
như vậy (không thương yêu thì sao có với nhau bốn đứa con?)
mà làm thế nào để cho bông hoa đẹp của tình yêu biến
thành đống rác của hận thù. Tôi hình dung ra những
đứa con của anh chị. Hẳn là các cháu đau xót lắm
khi bố mẹ không còn sống với nhau và bây giờ bố đã có
người mới. Đối với gia đình bạn tôi thì đã quá
trễ. Nhưng với những bạn trẻ đang sống trong hạnh
phúc lứa đôi, hoặc các con em của chúng ta thì đi trên con
đường của tỉnh thức, sống trong tam quy, ngũ giới, bát
chánh đạo là phương thức tốt đẹp nhất để tránh những
đổ vỡ trong tương lai. Là cha mẹ, chắc hẳn chúng ta
ai cũng muốn cho con mình thành đạt, có bằng cấp, địa vị
cao trong xã hội. Nhưng bằng cấp địa vị đâu bảo
đảm là ta sẽ có hạnh phúc. Nhiều cặp vợ chồng chúng
tôi biết cả hai người là giám đốc này nọ, có văn bằng
đeo đầy tường ấy thế mà đời sống gia đình tan nát vi
chẳng ai nhường ai. Hiển nhiên là bằng cấp, địa vị
chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ của hạnh phúc.
Nếu chúng ta quá quan tâm cho con em để chúng thành công trong
việc học mà lại xao lãng về mặt tâm linh, không giúp cho
chúng có một nơi nương tựa về mặt tinh thần, biết thế
nào là chân hạnh phúc thì ta đã làm hết bổn phận làm cha
mẹ của mình chưa?
Đầu
năm 2004, tôi có may mắn được đến dự một tuần trong khóa
An Cư Kiết Đông với Thiền Sư Nhất Hạnh và Tăng Đoàn Làng
Mai tại Tu Viện Lộc Uyển, Escondido, CA. Điều làm tôi
hết sức chú ý và thán phục là nết thanh thản trong từng
khuôn mặt, từng cử chỉ, nụ cười của Thiền Sư và tất
cả các chư tôn đức trong Tăng Đoàn. Ở Tu Viện trong
một tuần lễ ngắn ngủi tôi đã có những bước chân thảnh
thơi, những cuộc pháp đàm đầy lợi lạc với các bạn trong
tăng thân. An lành và bổ ích thay là những buổi thiền
tọa bắt đầu vào 6 giờ mỗi sáng, không khí yên lặng và
hùng tráng khi bên cạnh, trước mặt tôi là những khuôn
mặt trẻ trung, tươi mát của quý Thầy, quý Sư Cô, của các
bạn trong khóa tu. Đến giờ ăn trong chánh niệm, cả
một phòng ăn trên dưới ba trăm người mà không có một tiếng
nói, chỉ có tiếng muỗng niễng chạm nhau, và ngay cả những
tiếng đó cũng ngưng khi tiếng chuông đồng hồ điểm mỗi
15 phút để mọi người thực tập quán niệm về hơi thở.
Tôi đã thật sự hưởng được một cái Tết đầy hương
vị và văn hóa Việt Nam bên cạnh Thầy và Tăng Đoàn.
Gần ba tháng nay, tôi lại được cái may mắn sống trong
giòng pháp nhũ qua những buổi pháp thoại của Thầy Nhất
Hạnh mà tôi được theo dõi tại www.langmai.org Những
triết lý thâm sâu của đạo Phật như vô thường, vô ngã,
vô sanh, vô diệt, phi nhất, phi nhị… mà trước đây tôi
chỉ hiểu lờ mờ thì nay đã rõ hơn nhiều phần. Quan
trọng hơn hết, qua những pháp môn rất đơn giản mà sâu
sắc như Lắng Nghe và Hiểu và Thương, Thầy đã cho chúng
tôi thấy sức mạnh giải thoát của đạo Phật trong việc
tháo gỡ những khổ đau của đời sống hằng ngày trong gia
đình cũng như ngoài xã hội.
Nếu
không lắng nghe với chánh niệm ta sẽ tự đánh mất mình
trong công việc, trong cái vội vã của cuộc sống hằng ngày.
Đây là vấn đề chung của tất cả mọi người, cuộc sống
càng bận rộn, ta càng dễ đánh mất mình. Tôi chợt
nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn của Aesop về một con chó ngậm
cục xương đi ngang qua giòng sông và nhìn thấy cái bóng dưới
sông có cục xương to hơn. Chó ta bèn thả mồi bắt bóng
và mất miếng ăn ngon. Hầu hết chúng ta đều mắc phải
cái lỗi đơn giản này, quên đi cái hạnh phúc trong tay để
đuổi theo cái hạnh phúc mà ta nghĩ là mình sẽ có, cũng như
không gì về cho cuộc sống tâm linh mà chỉ bồi bổ cho cái
thân tứ đại giả hợp này. Những bài pháp thoại của
Thầy Nhất Hạnh cũng nhắc nhở cho tôi sự quan trọng của
tăng thân (đoàn thể cùng đi với nhau trên con đường vui)
trong việc cùng nhau tu tập. Nếu mình chỉ là một giọt
nước đơn lẻ thì sẽ rất dễ khô cằn, song nếu là một
giọt nước trong một giòng sông thì nhờ sức mạnh của đoàn
thể mình sẽ dễ vượt qua những cám dỗ, những ma chướng
trên đường tu tập. Xin chia sẻ với quý vị bài thơ
sau đây.
Nguyện
Đi Như Một Giòng Sông
Kính
tặng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và Tăng Thân Làng Mai
Nguyện
đi như một giòng sông
Tung
tăng như nước, mênh mông ngọn triều
Đời
chua ta vẫn ngọt ngào
Nguyện
đem tỉnh thức dạt dào tim ta
Mỗi
nhịp chân, một bài ca
Mỗi
lời nói một bông hoa rạng ngời
Mỗi
giây phút, một nụ cười
Mỗi
ngày làm đẹp cuộc đời chung quanh
Nguyện
lòng ta mãi bình an
Như
làn mây trắng ung dung nhẹ nhàng
Nguyện
làm tiếng hát cung đàn
Đem
lời từ ái đến cùng muôn sinh
Đời
dù khốn khó, bấp bênh
Người
dù nham hiểm, vô minh, tỵ hiềm
Hiểu
và Thương, nguyện một niềm
Lắng
nghe, lập hạnh Mẹ Hiền Quán Âm
Nguyện
đi như một giòng sông.
Những
việc xẩy ra hằng ngày khiến tôi kiểm điểm lại, thấy
mình chưa làm được những điều như mình đã tự nguyện.
Tôi vẫn chưa hòa nhã với tất cả mọi người, khi gặp điều
bất như ý tôi vẫn hay cau có, khó chịu. Tuần trước
tôi có dịp nói chuyện với một đạo hữu thân thiết.
Tôi hỏi anh có nghe bài pháp thoại nào mới không, anh thành
thật trả lời: "Tôi nay cũng đã lớn tuổi nên không dám
học điều gì mới mà chỉ ôn lại những cái mà mình đã
học, và mỗi ngày tự xét xem mình đã bớt tham sân si chưa,
cái ngã của mình đã nhỏ bớt chưa, và nếu làm được như
vậy thì ngày đó mình đã có tiến bộ." Nghe xong tôi
rất cám ơn anh và ghi lại những giòng sau đây để tự nhắc
nhở mình:
Lắng
Nghe
Lắng
nghe - tập hiểu và thương
Lắng
nghe - để thấy tầm thường trong ta
Mỗi
lời chưa được là hoa
Mỗi
ngày sống vẫn hững hờ trôi mau
Lắng
nghe - chợt thấy nhiệm mầu!
Trời
xanh đất rộng dạt dào niềm tin
Lắng
nghe - mình lại gặp mình
Tham,
sân, si ...vẫn rập rình! Sợ thay!
Hai
bước tiến, một bước lùi
Đứng
lên, ngã xuống… ai cười, ngại chi
Lắng
nghe - học hạnh từ bi
Nguyện
đem lạc phúc về cho muôn loài
Thế
Tôn ơi! Kính dâng Người
Đóa
sen tinh khiết rạng ngời ngàn năm.
Sống
trong chánh niệm từng phút giây, sống với ước nguyện tinh
tấn tu học, tự lợi, lợi tha, đó là con đường của người
Phật tử. Còn gì vui hơn là mỗi ngày nhìn lại mình
thấy đã tiến hơn được một chút, bớt tham sân si, báo
đền được tứ ân, thấy mình đã không uổng phí một ngày.
Cuộc sống như thế thảnh thơi và nhẹ nhàng xiết bao.
Xin ghi lại bài thơ sau đây thay cho lời kết luận
Như
Mây Trôi Đi
Buông
xả và thảnh thơi
An
bình không nghĩ ngợi
Tương
lai không chờ đợi
Tự
tại lòng an vui
Niết
bàn và tử sinh
Mây
ngàn trôi rất nhẹ
Hiền
hòa vô tư lự
Không
nhà về mông mênh.
Gió,
mây ...sẽ trôi về đâu?
Thân
ta ...sẽ tan vào đâu?
Trông
muôn hướng, đất trời là một
Bao
mộng huyễn là nước trôi qua cầu
Như làn mây nhẹ trôi
Muôn
đời không đứng lại
Không
âu lo thành bại
Không
một và không hai
Ta,
một lần tử sinh
Gió,
ngàn năm gió lộng
Trăm
năm như đại mộng
Đời
đời là hư không.
Kính
chúc quý vị luôn thân tâm an lạc.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 4-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân