VẤN
ĐỀ CÚNG LỄ
Thưa
quý thính giả,
Một
độc giả gửi thư cho chúng tôi hỏi về vấn đề cúng lễ
cho người quá vãng, chúng tôi xin đọc lên sau đây:
Kính
thưa quý vị trong ban biên tập Thư Viện Hoa Sen,
Ba
tôi mất tháng 10 này sẽ là một năm. Lúc đầu thì mẹ tôi
đem tro của ba tôi vào chùa ký gởi nhờ thầy tụng kinh.
Sau đó như ý nguyện của ba tôi, mẹ tôi đem tro về chôn
ba tôi gần mộ ông bà nội tôi. Thế là ở nhà tôi chỉ
có tấm hình của ba tôi, chỉ vậy thôi, không có thường
cúng kiếng gì cả.
Tôi
thấy ở Việt Nam, gia đình có người thân thì hay tụng kinh
cho người đã khuất. Tôi sắp về Việt Nam. Tôi
xin hỏi quý vị rằng tôi có nên nhờ thầy tụng kinh cho ba
tôi không? Tôi nghe nói, nếu mà mình nhờ thầy nào đắc
đạo cao hơn, thì linh hồn người chết sẽ có hy vọng được
siêu thoát. Tôi không biết điều đó có đúng không thưa
quý vị? Và tôi phải làm như thế nào để linh hồn
của ba tôi được siêu thoát? Xin quý vị chỉ dẫn cho,
tôi xin thành tâm cảm ơn quý vị.
Thưa
quý thính giả,
Về
nghi thức cúng kiếng, cầu nguyện cho người qua đời thì
tôn giáo nào cũng có. Không những thế, ngay cả từ thời
kỳ mông muội, chưa có tôn giáo, cũng đã có những sự cầu
nguyện các đấng mà họ nghĩ là linh thiêng, nhiều quyền
phép nào đó, để che chở, cứu vớt người thân đã chết
của họ. Họ làm vậy vì trước những tai họa xảy đến,
con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, nên nảy
sinh nỗi sợ hãi mênh mông đối với bóng tối, sấm chớp,
núi cao, sông sâu, dịch bệnh, vân vân, họ tưởng tượng
ra nhiều loại thần, nhiều loại ma, và khi người thân chết
đi, họ thương xót, thấy là từ nay không còn giúp đỡ, bảo
vệ được người thân nữa, họ bèn nghĩ tới các Thánh Thần,
đến những nhân vật được tưởng tượng ra từ biết bao
nhiêu đời trước mà cho đến nay thì đã được tô đậm
thành những hình ảnh huyền bí, đầy quyền năng nơi cõi
u linh nào đó chưa ai biết tới, nhưng là nơi mà thân nhân
họ có lẽ đang bơ vơ lạc lõng trong đó.
Từ
niềm thương xót người thân mà nay mình đã đành chịu bất
lực, họ cầu cứu đến các đấng được gọi là khuất
mày khuất mặt đầy bí mật, các đấng đã được những
kẻ lợi dụng hình ảnh linh thiêng để hù dọa thân nhân
người đã chết, khiến cho họ phải biện lễ hậu hĩnh đến
xin xỏ Thần Thánh này.
Ðạo
Phật khi tới các vùng đất mới, thường uyển chuyển hội
nhập, gọi là tùy duyên phương tiện, dùng bình của địa
phương đựng nước Cam Lồ của nhà Phật, cho nên bên cạnh
những nguyên tắc sống Từ Bi Hỉ Xả, tham thiền, nhập định,
hành trì tu tập trong khuôn khổ của đạo Giác Ngộ, vẫn
tham dự các nghi lễ vốn có từ ngàn xưa của địa phương,
chỉ chuyển hóa từ từ. Cho nên, trên con đường Bắc truyền,
một số hình thức lễ nghi của những vùng mà đạo Phật
đi qua vẫn cùng với đạo Phật chung vai sát cánh ôn hòa.
Một
số quốc gia trong trường hợp này vốn sẵn có những nền
đạo học rất uyên áo, sâu sắc, thí dụ Khổng giáo, Lão
giáo, vân vân. Cúng kiếng là một lễ nghi quan trọng
của Khổng giáo, coi như là một nguyên tắc sống của
con người. Cúng giỗ là một hình thức báo hiếu. Không có
con trai nối dõi tông đường để thờ cúng tổ tiên bị coi
như là tội đại bất hiếu. Trong niềm tin ấy, đạo Phật
muốn sống hài hòa với đời, tất nhiên là cũng tùy duyên
mà áp dụng các nghi thức cúng bái, miễn sao không trở nên
quá mê tín, vi phạm vào quy luật nhân quả là niềm tin cốt
tủy của Phật tử trong thế giới hiện tượng tương đối
mà thôi.
Vậy
thì thực ra, đạo Phật quan niệm thế nào về sự cúng
kiếng cho người chết?
Thưa
quý thính giả, muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta cần
tìm hiểu coi đạo Phật quan niệm thế nào về sự Sinh và
Tử, và theo đạo Phật thì có một linh hồn trường tồn
sống mãi mãi trong một cõi giới u linh nào đó để hằng
năm trở về nhà con cháu ăn một bữa cơm không. Để
trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin kính gửi tới quý thính
giả một bài pháp, lược trích trong cuốn Ðức Phật và
Phật Pháp do Hòa Thượng Narada biên soạn theo kinh sách
nhà Phật và do cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch:
"Theo
triết học Phật Giáo (Vi Diệu Pháp), ba hiện tượng có thể
xuất hiện cho con người thấy trong giai đoạn hấp hối là:
Nghiệp, Hiện Tượng Của Nghiệp, và Biểu Hiện Lâm Chung.
Nghiệp
là vài hành động tốt hay xấu trong đời sống hoặc ngay
trước phút lâm chung. Nếu người hấp hối đã phạm một
trong năm tội nặng là các tội giết cha, giết mẹ, giết
một vị A La Hán, làm tổn thương Ðức Phật và chia rẽ Tăng
chúng, hoặc người ấy có một thiện nghiệp lớn như đã
đắc một trong các tầng Thiền, thì sẽ chứng nghiệm Hiện
Tượng cùa Nghiệp trước khi chết. Những hành động thiện
hay bất thiện đặc biệt ấy có năng lực thật mạnh, chen
vào, áp đảo tất cả các hành động khác và biểu hiện
thật rõ rệt trước mắt người hấp hối.
Nếu
không có Nghiệp xấu hoặc tốt mạnh mẽ như vậy thì có
thể tiến trình tư tưởng cuối cùng của người ấy sẽ
tùy theo cái Nghiệp vừa tạo liền trước khi chết, gọi là
Cận Tử Nghiệp. Cận Tử Nghiệp là hành vi cuối cùng hoặc
hành vi nào mà luồng tư tưởng cuối cùng sực nhớ ra ngay
lúc lâm chung.
Nếu
không phải Cận Tử Nghiệp thì có thể là Thường Nghiệp
là những việc mà đương sự thường làm hằng ngày, hoặc
thưòng nhớ đến và ưa thích hơn hết. Trong trường hợp
này, nếu người hấp hối là một bác sĩ thì thấy đang săn
sóc bệnh nhân, một nhà tu thì thấy đang thuyết pháp, một
tên trộm thì thấy đang cạy cửa, khoét vách v.v...
Nếu
ba trường hợp trên không xảy ra thì Nghiệp Tích Trữ xuất
hiện. Nghiệp Tích Trữ gồm tất cả những trường hợp không
kể trong ba loại Nghiệp trên, mà là những hành động tốt
hoặc xấu thông thường.
Hiện
Tượng của Nghiệp là những biểu tượng xuất hiện trong
tâm thức của người hấp hối dưới hình thức sắc, thanh,
hương, vị, xúc hay pháp, tức là những hình sắc, âm thanh,
mùi, vị hay tư tưởng mạnh mẽ, quen thuộc trong nếp sinh
hoạt hằng ngày, thí dụ người đồ tể thì thấy con dao
hay con thú chết, bác sĩ thì thấy bệnh nhân, người mộ đạo
thì thấy các món lễ vật vân vân…
Biểu
Hiện Lâm Chung là vài dấu hiệu có liên quan đến cảnh giới
mà người hấp hối sắp được tái sanh vào mà do đó, mặt
người sắp lâm chung lộ vẻ vui sướng hoặc đau khổ. Khi
triệu chứng phát sinh, nếu là xấu thì ta có thể sửa chữa
kịp thời bằng cách giảng kinh hay nói pháp để tạo đối
tượng tốt đẹp trong tư tưởng người sắp chết. Những
Biểu Hiện Lâm Chung thường là lửa, rừng, vùng sơn cước,
bào thai người mẹ, thiên cung v.v...
Dầu
trong trường hợp bất đắc kỳ tử, tiến trình tư tưởng
của người sắp chết vẫn diễn tiến và đối tượng của
chập tư tưởng cuối cùng ấy là một trong ba hiện tượng:
Nghiệp, Hiện Tượng của Nghiệp và Biểu Hiện Lâm Chung .
Thí
dụ một người sắp lâm chung và sẽ tái sanh vào cảnh người
thì đối tượng của chập tư tưởng cuối cùng là một vài
nghiệp tốt.
Cái
chết thật sự đến lúc Tử Tâm tức luồng tâm thức cuối
cùng chấm dứt. Kể từ đó tâm và vật thực không còn tạo
năng lực vật chất nữa. Chỉ còn một loại năng lực vật
chất phát sanh do hơi nóng tiếp tục tồn tại đến khi cơ
thể vật chất tan rã.
Sự
diệt tắt của tâm trong kiếp vừa qua là cơ hội để cho
một tâm mới phát sanh trong kiếp sống kế. Tuy nhiên, không
có cái gì vĩnh cửu, nguyên vẹn đơn thuần, không biến đổi,
được chuyển từ quá khứ sang hiện tại. Cũng như bánh xe
lăn tròn trên đường, mỗi một lúc chỉ có một điểm của
bánh xe chạm với đường. Nói một cánh chính xác, chúng ta
chỉ sống trong từng chập tư tưởng. Ta chỉ sống trong hiện
tại và hiện tại nhất định phải trôi vào dĩ vãng.
Trong
tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, trong một
khoảnh khắc, mỗi chập tư tưởng đều trải qua sanh, trụ,
rồi diệt, và trong khi diệt, nó chuyển tất cả năng lực
và cảm giác đã ghi nhận cho chập tư tưởng kế. Vậy mỗi
chập tư tưởng mới gồm những năng lực tiềm tàng của
chập trước và thêm vào đó chút gì khác. Ðến lúc chết,
chập tư tưởng cuối cùng chấm dứt, để nhường chỗ cho
chập tư tưởng kế phát sanh trong kiếp sống mới. Vậy, cái
Thức mới gồm chứa tất cả những kinh nghiệm trong quá khứ,
vì tất cả những cảm giác trong quá khứ đều được ghi
nhận trong cái tâm biến đổi, và tất cả tiềm năng đều
được chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, mặc dầu phần
vật chất tan rã. Vì lẽ ấy, đôi khi có người còn nhớ
được kiếp quá khứ của mình. Nếu trí nhớ chỉ tùy thuộc
vào bộ não, tức nhiên không thể có người nhớ được tiền
kiếp.
"Chúng
sanh mới" là sự biển hiện của luồng nghiệp trong hiện
tại, không giống hệt, không phải là một, nhưng cũng không
hoàn toàn khác với chúng sanh trước kế đó.
"Những
thành phần (ngũ uẩn) tạo nên chúng sanh ấy không giống hệt,
không phải là một với thành phần (ngũ uẩn) đã tạo nên
chúng sanh trước. Tuy nhiên, cũng không phải hoàn toàn là khác
vì cả hai cùng nằm chung trong một luồng nghiệp, mặc dầu
biểu hiện dưới hình thức mới, trong thế gian mà ngũ quan
ta có thể thâu nhận, và ta cho là có một "chúng sanh mới."
Theo
Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống
tâm-vật-lý của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của
sinh lực, tức là đời sống tâm linh và vật lý, cùng với
hơi nóng và thức.
Chết
không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh,
mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng
sanh không bị tiêu diệt.
Cũng
như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có
thể thấy của luồng điện vô hình, chúng ta là biểu hiện
bề ngoài của luồng nghiệp vô hình. Bóng đèn có thể vỡ
và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại,
và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào
đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan rã của thể
xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt
của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên,
không có gì trường tồn bất biến, như một thực thể đơn
thuần, "chuyển" từ hiện tại sang tương lai.
Trong
trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại
vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là
một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy
phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương
xứng trong cảnh người.
Như
thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn
luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn.
Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp
như trong đời sống.
Hiện
tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất
cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian
được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng
nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái
sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật
giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người chết
tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi tìm được một nơi
thích hợp để đầu thai.
Trên
đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay còn
gọi là Nam Tông.
Về
phía Phật giáo Bắc Tông, hay còn gọi là Ðại Thừa,
thì quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau
khi chết đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này
quan niệm rằng những người có nghiệp cực thiện thì ngay
sau khi chết sẽ sanh vào các cõi Tịnh, thí dụ cõi Tây Phương
Tịnh Ðộ, Ðông Phương Tịnh Ðộ, vân vân, và những người
có nghiệp cực ác thì sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh
giới ác, như Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các
loài súc sinh. Trường hợp đó gọi là chết đây sinh kia.
Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết, người ta có thể
còn lưu tâm thức lại một thời gian trong trạng thái gọi
là Thân Trung Ấm, và mơ màng trong cảnh giới này từ
1 lần 7 ngày, cho tới 7 lần 7 ngày, là 49 ngày.
Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người đã qua đời
vẫn còn có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua.
Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự cầu
nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến
cho thần thức của họ hòa nhập được vào các cõi an lành.
Như
vậy thì cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam
Tông đều không nói đến những hình thức cúng kiếng cho
người đã chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể
giúp cho người mới chết qua những lời kinh tiếng kệ,
qua lòng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân,
hy vọng họ chuyển hóa các tâm niệm xấu mà thôi.
Tuy
nhiên, như trên đã nói, cúng giỗ thân nhân đã qua đời,
nhất là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đối với người Ðông
Phương, là một hình thức báo hiếu, trước là nói
lên lòng thành kính tưởng nhớ chư vị đã khuất, sau là
nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các
bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày
kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên lòng nhớ ơn các
anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy.
Về
việc cúng giỗ này, chúng ta có thể tổ chức tại nhà, hoặc
tại chùa. Nhưng nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ
trên chùa thì rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành
giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp
cho họ tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu
thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có
thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà
chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật
pháp rộng rãi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật
sự. Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, có nhiệm vụ
hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân.
Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương
tiện cho các Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ
sự trong sáng của đạo Phật.
Ban
Biên Tập
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 3-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân