LÒNG
THÀNH TƯỞNG NIÊM QUÁN ÂM
Thích
Đồng Thành
Danh
từ Quán Thế Âm được dịch từ chữ Avaloki-tesvara trong Phạn
ngữ. Thuật ngữ Avalokitesvara được dùng phổ biến hơn hai
từ khác cũng chỉ cho Đức Quán Thế Âm là Avalokita và Avalokitasvara.
Các dịch giả Trung Hoa thường phiên dịch từ Avalokitesvara
thành nhiều nghĩa khác nhau, như là: Quán Thế Âm, Quán Thế
Tự Tại, Quán Tự Tại, Hiện Âm Thanh… và trong số này,
Quán Thế Âm là danh hiệu phổ biến nhất.
Tín
ngưỡng Quán Âm xuất hiện đầu tiên tại miền biên giới
Tây Bắc Ấn Độ với sự phổ biến trên phương diện học
thuật và hành trì của ba bộ kinh nổi tiếng là: Diệu Pháp
Liên Hoa kinh, Tịnh Độ kinh và Quán Vô Lượng Thọ kinh. Niềm
tin về Đức Quán Thế Âm càng trở nên sâu đậm và mạnh
mẽ trong trái tim người Phật tử Ấn Độ vào những kỷ
nguyên đầu của Tây lịch. Những hình thái điêu khắc đa
dạng cùng những thi kệ tán thán những công hạnh của Đức
Quán Thế Âm còn lưu lại cho đến ngày nay tại các thánh
tích Phật giáo ở Ấn Độ đã phần nào nói lên được vai
trò của tín ngưỡng này trong văn hóa Phật giáo bản địa.
Bên cạnh đó, những ghi chép của ngài Pháp Hiển và những
linh cảm nhiệm mầu mà Pháp sư Huyền Trang đã tự thân thể
nghiệm trong hành trình cầu pháp được ghi lại trong cuốn
Đại Đường Tây Vức ký đã cho thấy sự phổ biến của
tín ngưỡng này khi Phật giáo Đại thừa hưng thịnh tại
Ấn Độ.
Quán
Thế Âm cũng là vị Bồ tát được tôn thờ nhiều nhất tại
Trung Hoa. Việc tôn thờ này có lẽ được bắt đầu vào cuối
thế kỷ I AD. Nhờ vào sự phiên dịch, in ấn, truyền bá của
kinh Pháp Hoa và những bộ kinh khác liên quan đến Đức Quán
Thế Âm kéo dài từ thế kỷ III đến thế kỷ VII, và từ
đó tín ngưỡng Quán Thế Âm đã được truyền bá sâu rộng
trong nhân gian. Từ cuối thế kỷ IV, một số nhà sư và tín
đồ Phật giáo đã để công trước tác, sưu tầm những mẩu
chuyện về sự linh diệu của Đức Quán Thế Âm mà họ đã
nghe hoặc đọc được. Một trong những bằng chứng cho thấy
sự phổ biến của tín ngưỡng này trong văn hóa Trung Hoa là
trong số 42.000 văn bản Phật học được tìm thấy tại động
Đôn Hoàng có đến 1.048 bản kinh Pháp Hoa và 200 bản Phổ
Môn như những bản kinh riêng biệt.
Trong
suốt thế kỷ IV đến thế kỷ VI, người Trung Hoa chứng kiến
một sự xáo trộn, biến thiên lớn trong xã hội. Những bộ
tộc được xem là thuộc vùng man di ở phía Bắc tràn xuống
và xâm lược Trung Nguyên. Họ nắm giữ quyền lực tại cái
nôi văn minh Trung Hoa và sau đó buộc những người trí thức
và nông dân di cư đến lưu vực sông Dương Tử để rồi
lập nên một kinh đô mới tại nơi ấy. Riêng những ai còn
bám trụ lại phía Bắc phải chịu sự cai trị của một chế
độ hà khắc. Thêm vào đó, những thiên tai như lũ lụt, dịch
bệnh, đói kém xảy ra khắp nơi, những cuộc nổi loạn chống
lại triều đình nổ ra, đất nước thì bị chia cắt bởi
những tập đoàn thống trị đối kháng nhau. Sự biến động
đó trầm trọng đến nỗi một số nhà văn đương thời hoảng
sợ và liên tưởng đến ngày tận thế của nhân loại. Chính
trong bối cảnh như thế, niềm tin về sự hộ trì của Đức
Quán Thế Âm đã được thắp sáng trong những trái tim đầy
dẫy những tuyệt vọng, hãi hùng, hướng cuộc đời họ đến
một chân trời xán lạn hơn, và như thế việc tôn thờ Đức
Quán Thế Âm đã nhanh chóng phổ biến trong mọi tầng lớp
của xã hội đương thời.
Vào
cuối đời Đường (618-907) và trải dài đền đời Tống
(960-1279), hầu hết hình tượng Đức Quán Thế Âm được
khắc họa trong dáng người nữ, một biểu tượng thâm thúy
nhất về tình thương trong cuộc sống. Đây có lẽ là giai
đoạn mà tín ngưỡng Quán Thế Âm được phổ biến và phát
triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc.
Đối với người Trung Hoa, Phổ Đà sơn là một trong những
thánh tích thiêng liêng vì nó được xem là trú xứ của Bồ
tát Quán Thế Âm. Rải rác trong Đại tạng kinh và trong các
hang động Phật giáo, có gần năm trăm mẩu chuyện nói về
sự vi diệu của Đức Quán Thế Âm. Một trong những mẩu
chuyện ấy như sau:
Vào
thời nhà Tấn có một nhà sư tên là Trúc Pháp Nghĩa trú tại
núi Bảo Sơn thuộc vùng Thỉ Ninh. Sư đã vân du khắp nơi
và học được giáo nghĩa của nhiều bộ kinh nổi tiếng,
đặc biệt là kinh Pháp Hoa, môn đồ theo học với Sư có đến
hàng trăm người. Vào năm 372, Sư đột nhiên ngã bệnh, nghe
tim mình đau nhức lạ lùng. Sau một thời gian chữa trị bằng
nhiều cách khác nhau, thấy bệnh tình không thuyên giảm, Sư
bèn dốc lòng thành tâm quy ngưỡng và trì niệm danh hiệu
Bồ tát Quán Thế Âm. Vài ngày sau đó, trong một giấc mộng,
Sư thấy có một vị Tăng đến trị bệnh cho mình. Để trị
bệnh cho Sư, vị Tăng kia đã mổ ruột và bao tử của Sư.
Sư thấy trong đó có nhiều vật bất tịnh. Sau khi dọn sạch
những cấu uế trong ruột và bao tử của Sư, vị Tăng ấy
bảo: "Bệnh của ông đã dứt." Lúc tỉnh dậy, Sư thấy mình
đã được bình phục, vết mổ cũng đã lành lặn từ khi
nào. Khi ấy, Sư bỗng nhớ đến lời kinh Phổ Môn: Người
đáng dùng thân Tỳ kheo, Sa môn để hóa độ thời Bồ tát
Quán Thế Âm liền hiện thân ấy mà thuyết pháp giáo hóa.
Trong
tiếng Nhật, những danh từ Kwannon, Kannon, Kanzeon hay Kanjizai
được dùng để chỉ cho Bồ tát Quán Thế Âm. Tín ngưỡng
Quán Thế Âm có lẽ đã được truyền đến Nhật ngay sau
khi Phật giáo du nhập vào đảo quốc này. Pho tượng Quán
Âm tại chùa Pháp Long, nơi Thánh Đức Thái tử thường chiêm
bái đã được tạc theo lệnh của chính Thái tử. Một số
sử gia cho rằng tín ngưỡng này xuất hiện ở Nhật vào thời
hoàng thái hậu Sui Ko (593-628), khoảng bốn mươi năm sau khi
Phật giáo được truyền đến Nhật. Vào năm 686, triều đình
Nhật đã cho tạc một trăm pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm,
thỉnh chư Tăng tụng hai trăm biến kinh Phổ Môn để kỳ an
cho Hoàng đế Temmu. Sang thế kỷ VIII, tín ngưỡng Quán Thế
Âm đã nhanh chóng được truyền khắp xã hội Nhật và hầu
hết người dân đều tôn thờ Ngài, ngoại trừ tín đồ Thần
đạo. Năm 728 Shomitenno, triều đình đã cho tạc 177 pho tượng
Quán Âm và cho in 177 bản kinh Phổ Môn để cầu nguyện cho
hoàng thái tử đang bị trọng bệnh. Đến năm 740, theo lệnh
của triều đình, mỗi tỉnh trong nước đều phải tạc một
pho tượng Quán Âm để cầu quốc thái dân an. Một trong những
bức tượng Quán Âm nổi tiếng thời bấy giờ là tượng
Đức Quán Thế Âm thập nhất diện được khắc từ một
loại gỗ quý tại tỉnh Omi. Trong số ba mươi hai loại hình
Đức Quán Thế Âm trong những tư thế khác nhau trong văn hóa
Nhật, các hình tượng Bạch Y Quán Âm, Quán Âm Tống Tử,
Quán Âm Thập Nhất Diện, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn là
những mẫu tượng phổ biến nhất. Nếu Phổ Đà Sơn là thánh
tích của Đức Quán Thế Âm ở Trung Hoa thì Fudaraku là trú
xứ của Ngài tại Nhật Bản. Có thể nói mục đích của
việc tạo tượng, thờ tự đức Quán Thế Âm, việc in ấn
và trì tụng kinh Phổ Môn là để gây tạo phước lành, nhất
là để cầu nguyện cho những ai đang gặp phải những tai
ương hiểm nạn và cầu nguyện cho sự thanh bình của quốc
gia. Tín ngưỡng như thế không chỉ giới hạn trong các tu
viện Tịnh Độ tông, mà hầu như các thiền sư và thiền
viện đều quy ngưỡng. Ta có thể hiểu được điều này
qua một giai thoại về ngài Đạo Nguyên như sau:
Năm
23 tuổi, Đạo Nguyên lên đường sang Trung Hoa mong tìm được
những giải đáp thỏa đáng cho những nghi vấn trong tâm mình.
Bốn năm sau đó, khi đã lãnh hội được diệu nghĩa của
dòng thiền Tào Động, ngài lên tàu về lại cố hương. Khi
thuyền đang lênh đênh giữa trùng dương, một cơn bão lớn
nổi lên, mọi hành khách và thủy thủ đều lo sợ những
cơn sóng dữ sẽ nhấn chìm cả thuyền, mọi cặp mắt đều
đổ dồn vào nhà sư như cầu cứu. Liền khi ấy, ngài Đạo
Nguyên liền tĩnh tọa và trì tụng phẩm Phổ Môn trong kinh
Pháp Hoa, một lát sau ngài bỗng thấy Đức Quán Thế Âm hóa
hiện trên những cơn sóng dữ, Ngài tiếp tục trì niệm và
lạ lùng thay, liền sau đó biển lại dịu yên như trước.
Lúc ấy, ngài Đạo Nguyên vội khắc lên mạn thuyền hình
Đức Quán Thế Âm mà ngài đã thấy. Khi thuyền cập bến
tại Kyushu, một vị Tăng địa phương bèn thỉnh bức họa
đó về chùa để thờ phụng.
Niềm
tin về Đức Quán Thế Âm cũng được phổ biến trong nhiều
quốc gia Phật giáo khác như Tây Tạng, Sri Lanka. Người Tây
Tạng gọi Ngài là Chenrezigs, nữ thần Từ Dung. Tín ngưỡng
này xuất hiện ở Tây Tạng vào cuối thế kỷ VI AD khi vua
Srong Tsansgam Po và sau đó là Đức Dalai Lama được xem là hóa
thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Cuốn Mam bkha-hbum, một tác
phẩm lịch sử Tây Tạng có diễn tả rằng Đức Quán Thế
Âm được sinh ra từ ánh sáng màu trắng trong ánh hào quang
tỏa ra từ mắt phải của Đức Phật A Di Đà trong khi đang
nhập định. Người Tây Tạng tin rằng Ngài là vị hộ trì
cho dân tộc và Phật giáo Tây Tạng cho đến khi Đức Di Lặc
thành Phật tại cõi Ta bà. Lời chú Ngọc báu trong hoa sen (Án-ma-ni-bát-di-hồng)
là câu chú mà người Tây Tạng vẫn trì niệm hàng ngày. Điện
Potala, nơi cư trú của Đức Dalai Lama cũng là danh từ được
phiên âm từ chữ Potalaka, trú xứ của Đức Quán Thế Âm
mà kinh Hoa Nghiêm đã đề cập.
Sự
phổ biến của tín ngưỡng Quán Thế Âm trong các quốc gia
Đông Á đã cho thấy giá trị của bức thông điệp cứu khổ
cũng như công hạnh của vị Bồ-tát này đã cảm hóa được
vô lượng tâm hồn đang khát khao một niềm an lạc thật sự
trước những đổi thay của cuộc sống.
Có
thể nói phẩm tính siêu việt nhất của đức Quán Thế Âm
là hạnh từ bi, một suối nguồn tình thương vô tận tỏa
khắp đến mọi loài hữu tình. Tất nhiên tình thương đó
không phải là năng lực khát ái mù quáng, một trong mười
hai mắc xích của vòng luân hồi, mà là niềm mong ước cho
chúng sanh được vơi đi những khổ đau và được sống trong
an lành, hạnh phúc. Trong Phật giáo Nguyên thủy, từ và bi
là hai tâm vô lượng để hướng tâm hồn hành giả đến
trạng thái cao thượng nhất. Đó cũng là những phẩm chất
cao đẹp trong nếp sống thuần thiện và đạo đức của mỗi
người. Đại Trí Độ luận đã giải thích ý nghĩa của hai
thuật ngữ này như sau: "Từ là tâm niệm thương yêu chúng
sanh, luôn mong cầu việc an ổn, lợi lạc để nhiêu ích loài
hữu tình. Bi là lòng lân mẫn đối với những chúng sanh đang
chịu vô lượng khổ đau về thể xác lẫn tinh thần trong
năm nẻo luân hồi." Quyển thứ 27 của bộ luận này cũng
giải thích rằng hạnh từ bi của chư Phật và Bồ-tát được
gọi là đại từ và đại bi thuộc mười tám pháp bất cộng
của Phật quả, còn hạnh từ bi của hàng Thanh Văn và Bích
Chi Phật được gọi là tiểu từ và tiểu bi thuộc bốn tâm
vô lượng. Điểm khác biệt ở đây là hàng Thanh Văn và Bích
Chi với lòng từ bi luôn mong muốn chúng sanh thoát khổ, được
vui, nhưng chưa đủ khả năng để thực hiện việc ấy, trong
khi đó cũng với ước vọng ấy chư Phật và Bồ-tát còn
giúp chúng sanh thoát mọi khổ đau và an trú vào niềm vui chân
thật. Chư Phật và các bậc Bồ-tát cùng thi thiết nhiều
phương tiện độ sanh thâm diệu, nhưng chư Bồ-tát chưa thành
tựu được Phật nhãn nên diệu dụng không thể sánh với
Chư Phật. Bồ-tát Quán Thế Âm vốn là vị cổ Phật, vì
thương tưởng chúng sanh nên thị hiện là Bồ-tát. Tuy hành
Bồ-tát hạnh nhưng Ngài luôn an trú vào tâm đại từ bi của
chư Phật mà thi thiết vô số phương tiện độ sanh.
Hạnh
từ bi của đức Quán Thế Âm được diễn tả trong kinh Pháp
Hoa và kinh Quán Vô Lượng Thọ như là một nguồn năng lượng
chói sáng, siêu việt những đối đãi để lắng nghe và hóa
giải những dư âm thống thiết của dòng đời. Dù cảnh giới
của Ngài chính là cõi Ta bà nhưng tùy theo tâm nguyện của
hành giả mà Ngài có thể tiếp dẫn những chúng sanh nào muốn
sanh về cõi Tây Phương.
Có
nhiều người thường hay ôm ấp những nỗi ray rứt thầm
kín trong lòng và cũng chẳng buồn chia sẻ, thổ lộ cùng ai.
Nỗi đau vì bệnh tật của thể xác là thường tình, nhưng
nỗi đau của tâm hồn mới đáng lo hơn vì nó bào mòn nghị
lực và niềm tin, đưa con người vào hố sâu của tuyệt vọng
và bất lực. Một chúng sanh với nhục nhãn và tri kiến thế
tục xem những ai rơi vào cảnh ngộ đó thì chẳng khác chi
lạc vào một con đường cùng không lối thoát, nhưng với
tri kiến siêu thế và tuệ nhãn của mình, Bồ-tát Quán Thế
Âm nhận ra rằng trong đống tro tàn nguội lạnh của sự tuyệt
vọng kia vẫn còn le lói những tia sáng của những hòn than
tự tánh vẫn hằng âm ỉ lâu nay. Lúc ấy, Người như một
bà mẹ hiền bình dị, nhẫn nại và bao dung mở rộng vòng
tay, ôm ấp và sưởi ấm những tâm hồn cô quạnh ấy, để
rồi khơi dậy niềm tin và sức sống vẫn hằng tiềm ẩn
trong họ.
Kinh
Pháp Hoa còn nói rằng những ai cầu bình an giữa muôn trùng
sóng dữ, cầu sự an ổn giữa muôn ngàn binh đao, cầu sự
thanh cao giữa vô vàn dục lạc… với tâm niệm thành kính
đều có thể cảm ứng được với đức Quán Thế Âm. Tâm
niệm thành kính đó chính là tâm hướng thượng, nhiếp phục
các căn, an trú trong chánh niệm thuần thiện. Cũng ví như
một tấm gương trong cõi trần, nếu là tấm gương sáng nó
mới có khả năng soi bóng của vạn vật xung quanh, như mặt
hồ yên tịnh trong suốt mới in được ánh trăng rằm sáng
soi giữa thâu đêm cô tịch. Sự hội ngộ hay cảm ứng ấy
không đơn thuần chỉ là sự gặp gỡ bình thường giữa hai
cá thể mà đó là sự hòa điệu của diệu dụng thánh thiện
trong thể tánh vô biên.
Một
trong những danh hiệu khá phổ biến của đức Quán Thế Âm
là Quán Tự Tại. Cách dịch này của ngài Huyền Tráng rất
sát nghĩa với chữ Avalokitesvara trong khi chữ Quán Thế Âm
(theo cách dịch của Ngài Cưu ma La Thập) lại gần với chữ
Avalokitasvara trong Phạn ngữ. Theo ý nghĩa thông thường, chữ
"tự tại" ở đây có nghĩa là tự do, an nhiên, không còn chướng
ngại, chỉ cho người đã giải thoát mọi triền phược xung
quanh. Trên một phương diện khác, chữ "tự tại" này còn
có nghĩa là sự hiện hữu (tại) của tự thân (tự). Như
vậy "tự tại" ở đây không phải chỉ cho sự an nhiên của
một thế giới xa xôi nào khác mà là chỉ cho sự hiện hữu
của chính mình. Trong ý nghĩa đó, Quán Tự Tại có nghĩa là
quán chiếu, xem xét sự hiện hữu của chính mình. Điều này
được thể hiện qua lời đầu tiên trong Tâm kinh Bát nhã:
"Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách."
Bằng sự quán chiếu về bản chất của tự ngã cũng như
sự hoạt hiện, vận hành của nó, Bồ-tát đã nhận ra được
tính không (Sunyata) tối hậu đằng sau sự giả hợp của năm
uẩn, của danh và sắc và đó chính là sự trực nhận thực
tại với trí tuệ viên mãn. Với trí tuệ đó, Bồ-tát không
thấy sự tách biệt giữa mình với chúng sanh, không một pháp
nào có thể tồn tại độc lập, và qua đó Bồ-tát thấu
hiểu được những tâm tư chân thành của mọi chúng sanh.
Bằng sự quán chiếu tự ngã, sự trực ngộ tánh không của
các pháp, với phương tiện từ bi và trí tuệ thâm sâu ấy,
Bồ-tát đã tự thân và dẫn dắt chúng sanh vượt qua những
khổ đau, tai ách trong dòng đời. Đây chính là năng lực tự
tại trong tâm vô quái ngại của đức Quán Thế Âm.
Những
lo âu, sợ hãi, đau khổ của con người bình thường thường
phát sinh từ những nhận thức sai lầm về tự ngã của mình.
Ý niệm về một bản ngã trường cửu thường đưa lối cho
người ta tìm đến hạnh phúc của cá nhân mà quên đi vòng
tay yêu thương của đồng loại. Hạnh nguyện của đức Quán
Thế Âm không chỉ là cứu độ chúng sanh ra khỏi những khổ
đau hiểm nạn tạm thời mà qua đó Ngài còn giúp họ nhận
chân được những tâm niệm luyến ái, vô minh và chấp thủ
của bản ngã. Thiền sư Đạo Nguyên có một câu nói rất
nổi tiếng như sau: "Học đạo là học tự ngã, học tự ngã
là để quên đi cái tự ngã ấy…" Có quên đi tự ngã như
thế chúng ta mới có thể học theo hạnh lắng nghe, quán chiếu
của đức Quán Thế Âm, và lúc đó ta có thể lắng nghe âm
thanh vô thường từ tiếng thát đổ ào ạt, nghe bài học
vô ngã trong tiếng gió vi vu bên đồi thông, nghe bài học khổ
đau qua cảnh sanh, lão, bệnh, tử đang diễn ra trong từng sát
na ở xung quanh ta và trong chính ta.
Kinh
Lăng Nghiêm có nói đến pháp môn tu trì của đức Quán Thế
Âm là pháp môn Nhĩ căn viên thông, một pháp môn mà Ngài đã
học được với một vị cổ Phật trong nhiều đời trước.
Mục đích của pháp môn này là an trú trong tam muội để chuyển
dụng khả năng nghe những thinh trần bên ngoài và trở lại
nghe tự tánh của mình. Khi những hình tướng sanh diệt đã
biến mất thì tánh vắng lặng rỗng không hiển hiện, đến
lúc đó những đối đãi của năng sở, người nghe và âm
thanh cũng không còn hiện khởi. Chính trong trạng thái nhất
như ấy mà tâm hành giả trở nên linh hoạt, trên thì dung
thông với oai lực mười phương chư Phật, dưới thì thấu
cảm những mong cầu tha thiết của chúng sanh.
Thông
điệp mà đức Quán Thế Âm đã mang đến cho đời chính là
thông điệp thương yêu, nhẫn nại và sự tỉnh thức tự
nội để quay về với con người thật của chính mình. Nếu
cuộc đời không có những chúng sanh đau khổ, không còn những
tâm hồn chơ vơ thì có lẽ Bồ-tát cũng không dùng đến một
tay hay một mắt, huống chi là nghìn tay, nghìn mắt. Tâm từ
bi, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe, trái tim đồng cảm…không
chỉ có trong đức Quán Thế Âm mà nó còn tiềm ẩn trong con
tim của mỗi người. Nếu một người nào luôn thọ trì danh
hiệu hay qui ngưỡng về vị Bồ-tát từ bi ấy mà không biết
nuôi lớn những hạt giống thuần thiện đó thì ước nguyện
về sự giao cảm đó khó có thể thành tựu. Do vậy nếu hành
giả biết quay về với thế giới nội tâm, quán chiếu về
tự ngã để thành tựu tri kiến như thật về các pháp thì
lúc đó vị ấy sẽ hiểu được "vì sao Bồ-tát từ bi lại
dùng nhiều tay mắt" và vì sao "khắp thân là tay mắt" như
cuộc đối thoại giữa Vân Nham và Đạo Ngô ngày xưa vậy.
Tài
liệu tham khảo:
Bích
Nham Lục, T48n 2003
Chandra,
Lokesh. The Thousand-armed Avalokitesvara, New Delhi: Abhinav, 1988
Đại
Trí Độ Luận, Quyển 20, 27, 40,T25n1509
Eliade,
Mircea. The Encyclopedia of Religion, Vol. II, New York: Collier Macmillan
Publishers, 1987
Leighton,T.D.
Faces of Compassion, Boston: Wisdom Publications, 2003
Lopez,
Donald, Jr.Religion of China in Practice, New Jersey: Princeton University
Press, 1966
Malalasekera,M.P.Encyclopadia
of Buddhism, Vol. II, Ceylon: The Government Press, 1966
Visser,
M.W. Ancient Buddhism in Japan, Leiden: E.J. Brill, 1935
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 3-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân