PHẬT PHÁP
TRUYỆN NGẮN
THƠ - VĂN
ĐỜI SỐNG 
TIN TỨC PHẬT GIÁO

SỐ 503 THÁNG 03 NĂM 2005
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
Nếu quy y
mà không có quyền yêu nước thì quy y để làm gì!"

LTS: Ngày 4-2-2005, tại hội trường Học viện Hành chính Quốc gia TP.HCM, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có buổi nói chuyện về đề tài: "Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ châu" cho hơn một ngàn cử tọa là các nhà nghiên cứu, các chính khách và giới Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài thành phố. Buổi nói chuyện do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM tổ chức, bao gồm hai phần: phần thuyết trình và phần chất vấn. PV GN xin ghi lại những câu hỏi của cử tọa và các câu trả lời của Thiền sư về những "vấn nạn" mang tính thời đại hôm nay. (Q. Kiến - H.Như ghi)

 GS.TS TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Xin cho biết ý kiến của Thiền sư về tình hình bùng nổ dân số và hiện trạng nạo phá thai của con người hiện nay?

- Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH: Nếu chúng ta không kiểm soát sinh nở thì chúng ta sẽ không giải quyết được rất nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo và chiến tranh. Vì vậy, hạn chế và kiểm soát sinh nở là vấn đề mà chúng ta phải làm.

Nạo phá thai, vấn đề ở đây không phải là nên hay không nên. Vì nếu để cho tình trạng xảy ra rồi mới đặt câu hỏi thì khó khăn sẽ gấp trăm ngàn lần. Vì vậy, phương pháp thực tập phòng ngừa quan trọng hơn phương pháp thực tập đối trị. Khi làm điều gì, ta phải đo lường được hậu quả. Ý thức có thể giúp cho mình biết được giá trị và hậu quả của hành động. Khi chúng ta hành xử một cách không chánh niệm, chúng ta có thể gây những khó khăn cho ta và cho những người mà chúng ta thương. Nên trong giây phút hiện tại, chúng ta phải chịu trách nhiệm 100%. Nếu không muốn sinh nở thì đừng để cho cái thai hình thành. Có biết bao nhiêu phương pháp để ngăn ngừa cho tình trạng đó không xảy ra. 
Sự thực tập giới thứ ba là như vậy đó! Nếu chúng ta có chánh niệm trong giây phút hiện tại, nếu chúng ta biết xử lý giây phút hiện tại một cách sáng suốt thì làm gì có chuyện chúng ta phải phá thai! Chuyện có thai sẽ không xảy ra, và vì vậy sẽ không cần phải đặt vấn đề nên hay không nên phá thai!

Trên thế giới, người ta đã vận động cho phụ nữ có quyền được phá thai. Một vị linh mục rất nổi tiếng, cha Berrigan, cũng vận động xin chữ ký để người phụ nữ có quyền đó. Bản kiến nghị đã được gởi cho tôi, nhưng tôi không ký. Không phải vì tôi không yểm trợ, không thấy được nỗi khổ, niềm đau của người phụ nữ, mà bởi tôi thấy rằng đây chỉ là cách giải quyết trên ngọn. Mình làm thế nào để người đàn ông cũng có trách nhiệm và người đàn bà cũng có trách nhiệm. Vấn đề là phải tu tập chứ không phải đòi hỏi quyền nên hay không nên phá thai.

Riêng đối với những thuyền nhân bị hãm hiếp trên biển lại là một vấn đề lớn. Hình ảnh ghê rợn của người hải tặc sẽ in sâu vào trong lòng mình. Dù mình không phá thai thì khi đứa con sinh ra, nó vẫn mang hình ảnh người cha mà mình từng coi như kẻ thù. Vì vậy, giữa mình với đứa con, hạnh phúc không có được hoàn toàn, nên một số người là bác sĩ trị liệu hay các nhà tôn giáo đồng ý cho việc họ phá thai. Tuy nhiên, đó không phải là cách duy nhất. Vì nếu mình biết sử dụng phương pháp quán chiếu của đạo Bụt, thì mình sẽ có thể đi xa hơn, có thể phát khởi tâm từ bi đối với người hải tặc đã hãm hiếp mình. 

Một đêm, tôi nhận được tin một em bé mười hai tuổi bị hải tặc làm nhục và em đã nhảy xuống biển sâu. Người cha tới can thiệp cũng bị hải tặc giết chết. Hôm đó, khi nghe bản tin như vậy, tôi đã có nhiều niềm đau trong trái tim. Tôi đã thiền hành rất lâu trong rừng và quán chiếu: nếu hai mươi năm trước tôi được sinh ra trên bờ biển Thái Lan trong một gia đình ngư dân rất nghèo đói, cha tôi không có học thức và mẹ tôi chưa bao giờ biết cách nuôi con. Suốt cả một đời cha tôi nghèo khổ, đói khát, bị áp bức, còn mẹ tôi thì không được giáo dục. Tôi lớn lên như một đứa bé hoang. Một hôm, có người bạn nói với tôi rằng những thuyền nhân đem theo rất nhiều vàng, mình chỉ cần làm một chuyến thì có thể thoát khỏi thân phận nghèo đói, áp bức qua bao nhiêu thế hệ. Tôi là người chưa từng đi học, chưa từng được huấn luyện về từ bi nên tôi nghe theo lời người bạn. Khi tôi ra biển làm hải tặc, tôi thấy những người bạn hải tặc khác đang hãm hiếp một đứa bé; tôi thấy rằng ở đây không có cảnh sát, tôi lại chưa biết tình dục là gì. Nhân cơ hội đó, tôi cũng hãm hiếp một đứa bé. Nếu anh có súng trên tay, anh bắn tôi thì tôi chết thôi, nhưng cả cuộc đời tôi, chưa có ai giúp tôi, chưa có ai giáo dục tôi. Những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà văn hóa… chưa ai giúp tôi, giúp cha tôi, mẹ tôi. Tôi là một cây hoang mọc lên trong gia đình… Thiền quán như thế, tôi bắt đầu thấy tội nghiệp người hải tặc kia. Trong trái tim tôi đã ứa ra giọt nước từ bi. Và đêm đó, tôi đã tha thứ được cho người hải tặc. 

Vì vậy, nếu mình là người thiền quán giỏi, mình thấy được người hải tặc cũng là nạn nhân của sự nghèo đói, của sự bóc lột, thiếu giáo dục, thì trong trái tim mình cũng sẽ ứa ra giọt nước từ bi và mình sẽ tha thứ được cho họ. Mình phát nguyện rằng nếu mình thấy được những đứa bé cũng trong tình trạng đó, mình sẽ tìm cách giúp đỡ để cho đứa bé không trở thành hải tặc trong tương lai. Khi có được cái thấy, cái hiểu và cái thương như thế, thì sự hận thù sẽ tan biến như tuyết dưới ánh sáng mặt trời. Mình sẽ có khả năng giữ được cái thai và có thể thương yêu nó với tất cả tấm lòng, mình cũng sẽ thương yêu cả cha nó nữa - một người con trai bất hạnh chưa bao giờ được hiểu, được thương. Điều đó phụ thuộc vào trình độ tu tập của mình chứ không phải phụ thuộc vào chỉ có một đường lối, một cách giải quyết mà thôi.

GS.TS TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Ở châu Âu, châu Úc, châu Mỹ có người nào là tín đồ của Phật giáo hiện ở trong liên quân đánh Iraq? Nếu như Thiền sư "chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện" thì Thiền sư sẽ nguyện cho tình thế nào - cho Hồi giáo hay cho người Mỹ?

- Quý vị biết rằng chúng ta có thể cầu nguyện bằng nhiều cách - bằng lời nói, hành động hay bằng chính trái tim mình. Khi Trung tâm Thương mại Quốc tế ở New York bị tấn công, niềm sợ hãi và hận thù trong người dân Mỹ trào dâng rất lớn. Lúc đó tôi đang ở California, tại tu viện Lộc Uyển, tôi nghe được tin đó qua một người bạn. Theo nguyên tắc, ba hôm sau tôi sẽ diễn thuyết tại nhà hát lớn ở thành phố Berkeley, miền Bắc Cali về đề tài "Không sinh không diệt". Nhưng khi nghe tin đó, tôi thấy rằng mình cần phải đổi đề tài. Và đề tài mới của tôi là "Ôm lấy niềm đau, ôm lấy cơn giận". Đại khái trong buổi diễn thuyết đó, tôi đã nói rằng chúng ta là những người biết thực tập, mỗi khi có cảm xúc trào dâng làm cho chúng ta thất điên bát đảo, điều đầu tiên chúng ta phải làm là hãy ôm ấp cảm thọ đó, làm cho nó êm dịu lại. Trong cơn buồn, cơn giận mà chúng ta hành động thì sẽ gây ra những lầm lỡ mà chúng ta sẽ hối tiếc sau này. Tôi đề cập việc người Mỹ thực tập phép lắng nghe và ái ngữ. Tại buổi nói chuyện hôm đó không chỉ có những thiền sinh - mỗi khi tôi nói chuyện tại Berkeley, bài giảng của tôi được truyền đi trên hàng trăm đài truyền thanh ở toàn cõi Hoa Kỳ. Tôi có nói như thế này: Chúng ta hãy lắng lòng trở xuống, hãy tập thở, hãy ngồi yên để tâm tư lắng đọng trong vài ngày rồi chúng ta hãy đặt câu hỏi là tại sao họ đã làm thế, chúng ta đã làm gì để họ phải hận thù chúng ta đến mức đó? Chúng ta ai cũng có tri giác về chính mình và về người khác. Tri giác đó có thể rất sai lầm. Người kia cũng có những tri giác của chính họ và về mình - tri giác đó cũng có thể sai lầm. Hành động trên những tri giác sai lầm chỉ có thể gây thêm đổ vỡ và gây khổ đau cho nhau. Thành ra tôi đề nghị quý vị hãy lắng lòng lại trước rồi sau đó sẽ sử dụng ái ngữ nói như thế này: Này các vị, ở bên kia tại sao quý vị có thể tấn công chúng tôi như thế; chúng tôi đã làm những lầm lỗi gì, đã gây những nỗi khổ đau nào cho quý vị; chúng tôi đã cố tình tiêu diệt nền tôn giáo hay nền văn hóa của quý vị hay không? Thật sự thì chúng tôi không có những ý niệm đó. Có thể chúng tôi đã nói điều gì, làm điều gì gây cho quý vị ấn tượng là chúng tôi muốn tiêu diệt quý vị, muốn đàn áp quý vị, muốn quý vị không có quyền sống trên trái đất này, thì chúng tôi muốn lắng nghe quý vị. Quý vị đã nghĩ rằng chúng tôi làm những điều gì sai, đã nói gì sai, đã gây ra những khổ đau nào khiến cho quý vị tấn công chúng tôi? Buổi nói chuyện đó chỉ hoàn toàn có tính cách tâm linh, đạo đức chứ không có tính chính trị nào hết. Toàn nước Mỹ đều phải lắng nghe, chưa nên hành động. Trong quá trình lắng nghe, nếu chúng ta khám phá ra những vụng về của mình thì chúng ta xin lỗi. Nhưng chúng ta thấy họ có những tri giác sai lầm về họ và về mình thì chúng ta sẽ tìm cách để cung cấp những dữ kiện, tài liệu, dần giúp cho họ điều chỉnh lại nhận thức của họ đối với họ cũng như đối với mình. Từ đó chúng ta sẽ có cơ hội điều chỉnh, hàn gắn, bù đắp để cho những hiểu lầm kia không còn nữa, tạo nên mối truyền thông, tạo nên tình huynh đệ.

Có một điều ngẫu nhiên là quyển sách Anger (Cơn giận) của tôi cũng xuất bản cách đó ba ngày. Vì vậy, ngày hôm đó tại New York, tôi đã được mời và trực tiếp trả lời cho 45 đài truyền thanh, truyền hình về tác phẩm Anger bán rất chạy tại Mỹ và một triệu cuốn cũng được bán hết tại Hàn Quốc. Sau đó chúng tôi về New York, diễn thuyết tại nhà thờ River Side Drive, chúng tôi cũng đã diễn thuyết cho dân New York - những người đã trực tiếp hứng chịu nỗi đau của cuộc tấn công… Hôm đó, hàng ngàn người đến nhà thờ và không có chỗ đã phải ra về. Các thầy và các sư cô theo tôi đã xin với tôi rằng không biết chúng ta có nên nói như vậy hay không? Trong khi người Mỹ sôi sục hận thù mà mình kêu gọi họ sự trầm tĩnh, sự lắng nghe và tình huynh đệ thì có thể có những người quá khích sẽ đem súng mà bắn mình như họ đã từng bắn những người can đảm dám nói ra sự thật về tình người, về lòng nhân đạo, về sự thương yêu và tha thứ. Những đệ tử xuất gia và tại gia của tôi hôm đó đã lo lắng thật sự. Nhưng tôi nói rằng: Này các con, thầy đã thấy được sự thật. Thầy đã thấy rõ ràng rằng đây là con đường có thể giúp cho chúng ta tránh được một cuộc thế chiến. Sự xung đột này có thể sẽ dẫn đến cuộc thế chiến mới và sự tàn sát sẽ khốc liệt vô cùng và trong thế chiến này, tôn giáo sẽ tham dự, trong đó có Hồi giáo và Cơ Đốc giáo. Vì vậy, nếu thầy không lên tiếng thì thầy không làm tròn bổn phận của thầy. Nếu thầy muốn sống nhát gan, không dám đứng ra nói lên tiếng nói của trái tim thì thầy không còn xứng đáng là thầy của các con nữa. Thà rằng thầy chết mà thầy vẫn còn là thầy của các con còn hơn là thầy tham sống sợ chết mà không dám ra nói sự thật, thì tuy rằng thân xác này của thầy vẫn còn mà thầy đã không còn xứng đáng là thầy của các con rồi. Các đệ tử xuất gia và tại gia của tôi đêm đó đã khóc. Nhưng cũng nhờ long thần hộ pháp mà hôm đó đã không có điều gì đáng tiếc xảy ra…

Quý vị cũng chú ý cho điểm này: trong tôn giáo và trong chính trị, hai lĩnh vực khác nhau, nhưng chúng ta thấy sự có mặt của đạo đức là cần thiết. Nếu tôn giáo không có đạo đức thì đó là một sự phá sản lớn - mà nhiều khi tôn giáo lại không có đạo đức. Trong chính trị cũng vậy, nếu như không có đạo đức thì chính trị sẽ bị phá sản. Cho nên sự có mặt của đạo đức trong chính trị là rất quan trọng. Tôn giáo có thể có đạo đức, nhưng đạo đức không hẳn là tôn giáo. Vì vậy, khi mình theo một đường hướng cuồng tín, cố chấp, chỉ thấy rằng mình nắm được chân lý, và tất cả các chủ thuyết, tôn giáo khác không nắm được chân lý thì đó là tôn giáo mà không phải là đạo đức. Thái độ cởi mở bao dung là bản chất của đạo đức. Theo cái nhìn của tôi trên 60 năm tu học, thì không có cái gì quý giá bằng tình huynh đệ, bằng tình người. Theo tôi, không có tôn giáo, chủ thuyết nào cao hơn tình huynh đệ và chúng ta không thể hy sinh tình huynh đệ, tình người nhân danh cho tôn giáo hay chủ thuyết. Đó là niềm tin của tôi. 

Tôi biết gần đây Tướng Võ Nguyên Giáp ngày nào cũng ngồi thiền. Và ngồi thiền đó không hẳn là tôn giáo. Nó là đạo đức, là nhu yếu để đem lại sự bình an, sự vững chãi cho một con người. Tôi biết rằng cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tới quy y tại chùa Đậu. Khi nghe tin đó, tôi không lấy làm ngạc nhiên gì hết, tại vì cha ông của chúng ta đã từng làm như vậy. Vua Lý Thái Tổ từ nhỏ đã thực tập Thiền. Vua Trần Thái Tông năm 20 tuổi sức học về Phật pháp đã uyên thâm; vua làm chính trị, có khi phải cầm quân đi đánh giặc, mà vua vẫn thực tập ngồi thiền 6 lần trong một ngày. Những thời đại đó vua quan và dân rất đoàn kết, khắng khít với nhau. Thái độ cởi mở, bao dung thấy rất rõ trong văn hóa Lý - Trần. Tôi muốn rằng các nhà chính trị của chúng ta trong hiện tại đừng đợi đến lúc lớn tuổi mới đem vào cuộc sống của mình một chiều hướng tâm linh. Cha ông của chúng ta đã từng làm như vậy. Các vua Lý, vua Trần đều thực tập theo con đường tâm linh của tổ tiên. Khi chúng ta còn trẻ, khi chúng ta là thương gia, là nhà chính trị… chúng ta có một nếp sống tâm linh trong đời sống hàng ngày thì chúng ta sẽ an lạc nhiều hơn, chúng ta sẽ biết tháo gỡ những khó khăn, những mâu thuẫn trong lòng; chúng ta có thể thiết lập truyền thông với người thương của chúng ta trong gia đình và chúng ta có thể phục vụ được cho đất nước quê hương thay vì đợi cho đến già rồi mới thực tập. Đó là điều tôi muốn nhắn nhủ đối với những vị trong guồng máy kinh tế, chính trị của đất nước chúng ta

Ni sư TN. HUÊ LIÊN: Thiền sư vừa đề cập đến việc các vua quan thời Lý - Trần đều áp dụng lời Phật dạy trong việc quản lý và mang lại hạnh phúc, hòa bình cho nhân dân thời bấy giờ. Vậy Thiền sư có nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện tại sẽ áp dụng lời Phật dạy trong việc quản lý và phát triển đất nước Việt Nam hôm nay? Nếu có, thì bằng cách nào?

- Trong một chuyến đi hoằng pháp ở Ấn Độ, tôi có gặp Tổng thống Ấn Độ Narayanan. Hồi đó ngài còn làm Phó Tổng thống kiêm Chủ tịch Quốc hội. Sách của tôi đã được ấn hành và ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ấn Độ đã mở một cuộc họp báo để giới thiệu những quyển sách tôi in bằng tiếng Hindi và tiếng Anh ở Ấn Độ. Khi tôi gặp ông Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ, tôi có nói đến phương pháp lắng nghe và ái ngữ có thể sử dụng được trong Quốc hội. Vì trước đó tôi nghe rằng nhiều khi không khí trong Quốc hội quá nóng bỏng và người này la hét người kia, có khi có người đứng dậy cầm ghế định phang người khác. Tôi nghĩ rằng điều đó có tính cách bạo động. Tôi đề nghị với ông Chủ tịch Quốc hội một vài phương pháp, trong đó có phương pháp quán niệm trước mỗi buổi họp Quốc hội. Lời quán niệm chỉ ngắn thôi: Xin các bạn đồng liêu, chúng ta được dân chúng, quốc dân bầu lên và ngồi trong tòa nhà này để chúng ta có thể tổng hợp lại tất cả những kinh nghiệm, trí tuệ của chúng ta để làm ra những đạo luật đáp ứng lại được với những nhu yếu của toàn dân. Vì vậy chúng ta hãy thực tập lắng nghe nhau, đừng có thành kiến. Lắng nghe để thấy được những kinh nghiệm, những tuệ giác của người khác, đừng để cho những thành kiến có sẵn của mình bị ngăn ngừa. Khi chúng ta có thể lắng nghe được với nhau, thì chúng ta có thể tổng hợp được và có thể đi đến những tuệ giác chung, có thể đưa đến những đạo luật rất hay và phù hợp được với đất nước. Vì vậy, trong phiên họp này của Quốc hội, xin tất cả mọi người lắng nghe và sử dụng ái ngữ. Chúng ta có thể nói tất cả kinh nghiệm, những tuệ giác của chúng ta ra cho tất cá các bạn đồng nghiệp, nhưng chúng ta không nên sử dụng ngôn từ lên án, buộc tội, chửi mắng. Như vậy, chúng ta có thể đóng góp được phần tối đa của chúng ta cho đất nước, quê hương và dân tộc. Ông Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ thấy rằng phương pháp đó rất hay, mình chỉ cần 2 phút đọc lên là có thể nhắc cho mọi người biết sứ mạng của mỗi dân biểu trong Quốc hội. Tôi còn đề nghị thêm một điều nữa là cần có thêm một cái chuông chánh niệm. Mỗi khi có một thuyết trình viên nổi nóng, sử dụng ngôn từ làm cho không khí hội trường sôi động, không có truyền thông nữa, thì chủ tọa của buổi họp đánh lên một tiếng chuông, tất cả mọi người phải ngưng nói, ngưng nghe và trở về với hơi thở để làm lắng dịu lại những cảm xúc lớn. Ông Chủ tịch đã chấp nhận hết những điều đó và cảm ơn tôi đã đóng góp phần đó cho ông. Mười ngày sau, khi tôi đang hướng dẫn một khóa tu thì có một thiền sinh đưa lên tờ báo có đưa tin Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ vừa lập ra một Ủy ban Đạo đức ở trong Quốc hội để lo về mặt đạo đức trong sinh hoạt Quốc hội, tôi rất là mừng. Gặp ông Chủ tịch Quốc hội chỉ một giờ đồng hồ mà có thể đóng góp được rất nhiều
.
Tại Quốc hội Hoa Kỳ, tôi đã từng diễn thuyết về phương pháp lắng nghe và ái ngữ. Tôi cũng đã nói đến cuộc chiến tranh Iraq, nếu chúng ta không cẩn thận, nếu chúng ta bộp chộp thì quý vị sẽ bị kẹt vào trong Iraq, giống như quý vị đã từng bị kẹt vào ở Việt Nam. Sau đó tôi đã hướng dẫn một khóa tu chánh niệm cho một số vị dân biểu Hoa Kỳ. Nói như thế không có nghĩa là tôi thuyết phục họ đi theo đạo Phật. Phần lớn họ đều có gốc rễ Thiên Chúa giáo, nhưng họ đều công nhận rằng trong đạo Phật có những phương pháp thực tập giúp họ lắng xuống, giúp cho họ thấy rõ ràng hơn. Vì vậy bây giờ ở trong trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ, có những vị dân biểu Quốc hội đi từ văn phòng của mình tới chỗ bỏ phiếu bằng phương pháp thiền hành từng bước chân thảnh thơi: đã về, đã tới, bây giờ, ở đây. Như vậy không có nghĩa mình phải theo Phật, phải quy y mới có thể thực tập những pháp môn Phật giáo. Đời Lý, đời Trần, các vua, các quan, các vị viên chức trong chính quyền có rất nhiều vị quy y. Bây giờ chúng ta không nhất thiết phải quy y, nhưng chúng ta có thể thực tập theo phương pháp đạo Phật. Sự thực tập để làm lắng dịu thân tâm, để đem lại sự vững chãi, thảnh thơi trong cuộc sống hàng ngày, để nuôi dưỡng tình thương và sự hiểu biết trong ta, sẽ giúp ta trở nên một nhà thương gia, một nhà chính trị, một nhà giáo dục… có tầm vóc lớn hơn và có thể phục vụ được cho đất nước lớn hơn. Mục đích của chúng tôi không phải là kêu gọi quý vị theo đạo Phật. Mục đích của của chúng tôi là để chứng tỏ rằng trong đạo Phật có cái phần không tôn giáo mà bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể học hỏi, tiếp nhận và áp dụng vào trong cuộc sống hàng ngày, đem lại rất nhiều hạnh phúc cho mình, cho gia đình và đất nước. Tổ tiên của chúng ta thành công thì tại sao chúng ta lại không thành công?

Tại Tòa Đại sứ của Việt Nam bên Paris, tôi thấy ông Nguyễn Đình Bin rất có cảm tình với đạo Phật; còn ông Phó Đại sứ và phu nhân của ông cũng rất thèm về Làng Mai. Các nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp ai cũng ao ước được về Làng Mai nhưng lại… không ai dám về. Tại sao vậy? Đó là câu hỏi chúng tôi muốn đặt ra cho quý vị. Chúng ta là Thủ tướng, chúng ta là Bộ trưởng, là Tổng Giám đốc,… chúng ta có những trách vụ rất quan trọng trong Đảng và trong chính quyền, nhưng tại sao chúng ta lại không có quyền đi chùa? Chúng ta đi chùa sẽ có một hình ảnh không đẹp hay sao? Hình ảnh của Tướng Võ Nguyên Giáp ngồi thiền rất đẹp, gây niềm tin cho rất nhiều người, trong đó có người trẻ. Các vị nguyên thủ quốc gia các nước Anh, Pháp, Mỹ… đều có sinh hoạt tâm linh và tôn giáo của họ, vì sao chúng ta lại sợ hãi? Vì vậy, tôi kính mời quý vị suy tư về vấn đề này. 

Thế nào trong mỗi quý vị cũng đều có một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày, nếu không thì cuộc sống của chúng ta sẽ nghèo nàn. Vì vậy, khi gặp ông Bộ trưởng Bộ Tôn giáo Trung Quốc, tôi đã tặng ông một bức bút pháp viết ba chữ: The spiritual dimension, tức "chiều hướng tâm linh". Bất cứ ở trong một ngành nào của sinh hoạt xã hội, chúng ta cũng đều phải có nếp sống tâm linh. Chính nếp sống tâm linh giúp cho chúng ta có sự vững chãi, thảnh thơi, nuôi dưỡng được những hạnh phúc và tháo gỡ được những khó khăn, giúp cho chúng ta truyền thông dễ dàng hơn với những người trong gia đình, trong cơ quan, trong cùng một chính quyền, hay một tổ chức chính trị. Chúng ta có quyền sống đời sống tâm linh của mình mà không phải sợ hãi.

Câu hỏi của một Phật tử (do Ban Tổ chức đọc): Sắp đến có thể con sẽ được thầy làm lễ quy y, nhưng con không biết rằng sau khi quy y, chúng con còn có quyền được yêu nước, yêu Đảng nữa hay không?

 Nếu mà… nếu mà quy y mà không có quyền yêu nước, yêu Đảng nữa thì quy y làm cái gì! (ngừng một lát để lắng những tiếng vỗ tay). Sau khi mình quy y rồi đó, thì mình sẽ yêu nước hay hơn, mình sẽ yêu Đảng hay hơn nữa!

GS. HOÀNG NHƯ MAI: Buổi nói chuyện của thầy Thích Nhất Hạnh đã đề cập đến những vấn đề hết sức căn bản trong mối quan hệ giữa con người với con người. Thầy nói những vấn đề rất lớn nhưng rất giản dị, những vấn đề mà ai cũng có thể nghĩ ra, nhưng khái quát thế nào, trình bày thế nào để đem đến lợi ích cho người nghe lại là một vấn đề khác. Cách thức diễn đạt của thầy vừa sâu sắc, vừa giản dị. Sâu sắc để các nhà khoa học, trí thức có thể nhận ra, liên hệ rộng ra đến nhiều vấn đề, và giản dị để mọi người đều có thể hiểu. Theo tôi, đây là một buổi thuyết trình rất thành công.

Vấn đề lắng nghe nhau thực chất là một vấn đề rất khoa học. Biết lắng nghe nhau có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi nghĩ mình đôi khi chưa lắng nghe học sinh, sinh viên của mình, họ muốn gì, đang suy nghĩ gì... và thậm chí chuyện trong gia đình cũng vậy, do vợ chồng không chịu lắng nghe nhau nên mới xảy ra chuyện lục đục trong nhà. Tại sao mình không chịu lắng nghe nhau mà cứ mãi đối chọi với nhau?
Sự kiện về nước của thầy Nhất Hạnh là một sự kiện lớn. Sự kiện lớn bao giờ cũng có những luồng dư luận khác nhau. Thầy Nhất Hạnh về thăm quê hương vào dịp cuối năm âm lịch. Đối với truyền thống dân tộc, đây là một điều rất hay. Theo suy nghĩ của tôi, người ta sống với nhau không thể không có mâu thuẫn. Nhưng một khi năm cũ qua đi, năm mới sắp đến, người ta thường bỏ qua những chuyện không tốt trong năm cũ. Đó là truyền thống của người Việt. Một cử chỉ lựa chọn thời điểm nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa. Có người đã hỏi cảm tưởng của tôi về buổi thuyết trình và thầy Nhất Hạnh, tôi bảo: chỉ cần nhìn lên lễ đài, bạn có thể nhận thấy nhiều tu sĩ Phật giáo với nhiều màu da khác nhau. Đó là một hình tượng rất đẹp, ngay sau thầy Nhất Hạnh đã có một biểu tượng của đoàn kết, hòa hợp. 

Trong buổi thuyết trình, tôi rất thích câu trả lời cuối cùng của thầy: nếu không yêu nước thì quy y làm gì! Tôi rất tâm đắc về câu trả lời đó!

GS.TS TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Theo tôi, buổi trò chuyện của Thiền sư Thích Nhất Hạnh hôm nay là một thành công lớn. Trong gần hai tiếng đồng hồ, Thiền sư đã trình bày nhiều vấn đề và cũng có rất nhiều vấn đề còn có thể trao đổi với nhau. Giá như Trung tâm KHXHNV tại TP.HCM cũng như Trung ương mà tổ chức thêm những cuộc gặp gỡ như thế này hẳn là một điều rất tốt - chúng ta sẽ trao đổi trên tinh thần hiểu biết và thông cảm lẫn nhau. Những câu trả lời của Thiền sư về những vấn nạn mang tính thời đại, những vấn đề mấu chốt của hiện đại hóa Phật giáo mà tôi đã đặt ra, theo tôi, là rất đáng lưu ý. Câu trả lời cuối cùng của Thiền sư về mối quan hệ giữa yêu nước... và yêu đạo tuy vui nhưng lại thể hiện quan điểm của Thiền sư đối với đất nước hiện nay là rất rõ ràng và rất đúng. Điều đó chứng tỏ Thiền sư đã có sự chuẩn bị đầy đủ và tâm niệm từ lâu cho chuyến trở về lần này. 

 Chuyến về thăm quê hương của Thiền sư Nhất Hạnh và đoàn Tăng thân Làng Mai đã góp phần lớn cho sự gần gũi và hiểu biết lẫn nhau. Thiền sư ra nước ngoài rất lâu nhưng vẫn theo dõi tình hình ở Việt Nam và thái độ của Việt Nam đối với thế giới rất kỹ. Từ đó, Thiền sư đã có được những câu trả lời bao hàm một nội dung lớn về những vấn đề mang tính thời đại như bùng nổ dân số và tình trạng nạo phá thai mà một số tôn giáo lớn khác trên thế giới đôi lúc cũng tỏ ra lúng túng; cùng một số vấn đề nhạy cảm và tế nhị khác của thế giới hiện tại... Vì vậy, việc Thiền sư trở về nước và có những buổi trò chuyện như thế này là rất bổ ích, ít nhất là cho giới Tăng Ni, Phật tử, đồng thời cũng có sự đóng góp tốt cho văn hóa mà trước hết là cho văn hóa Phật giáo.

Ảnh trên: Ban tổ chức tặng quà lưu niệm cho Thiền Sư Nhất Hạnh
Ảnh dưới: GSTS Trần Trọng Đăng Đàn chất vấn Thiền Sư
(Ảnh Võ Văn Tường) 

Q. Kiến - H. Như 
(Báo Giác Ngộ)

Xem Tiếp về Chuyến Trở Về Việt Nam hoằng pháp của HT. Thích Nhật Hạnh
 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2005
Down Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
   (Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS