Nếu
quy y
mà
không có quyền yêu nước thì quy y để làm gì!"
LTS:
Ngày 4-2-2005, tại hội trường Học viện Hành chính Quốc
gia TP.HCM, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có buổi nói chuyện
về đề tài: "Tương lai của đạo Bụt ở Âu, Úc và Mỹ
châu" cho hơn một ngàn cử tọa là các nhà nghiên cứu, các
chính khách và giới Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài thành
phố. Buổi nói chuyện do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân
văn TP.HCM tổ chức, bao gồm hai phần: phần thuyết trình và
phần chất vấn. PV GN xin ghi lại những câu hỏi của cử
tọa và các câu trả lời của Thiền sư về những "vấn nạn"
mang tính thời đại hôm nay. (Q. Kiến - H.Như ghi)
GS.TS
TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Xin
cho biết ý kiến của Thiền sư về tình hình bùng nổ dân
số và hiện trạng nạo phá thai của con người hiện nay?
-
Thiền sư THÍCH NHẤT HẠNH: Nếu chúng ta không kiểm soát
sinh nở thì chúng ta sẽ không giải quyết được rất nhiều
vấn đề, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo và chiến
tranh. Vì vậy, hạn chế và kiểm soát sinh nở là vấn đề
mà chúng ta phải làm.
Nạo
phá thai, vấn đề ở đây không phải là nên hay không nên.
Vì nếu để cho tình trạng xảy ra rồi mới đặt câu hỏi
thì khó khăn sẽ gấp trăm ngàn lần. Vì vậy, phương pháp
thực tập phòng ngừa quan trọng hơn phương pháp thực tập
đối trị. Khi làm điều gì, ta phải đo lường được hậu
quả. Ý thức có thể giúp cho mình biết được giá trị và
hậu quả của hành động. Khi chúng ta hành xử một cách không
chánh niệm, chúng ta có thể gây những khó khăn cho ta và cho
những người mà chúng ta thương. Nên trong giây phút hiện
tại, chúng ta phải chịu trách nhiệm 100%. Nếu không muốn
sinh nở thì đừng để cho cái thai hình thành. Có biết bao
nhiêu phương pháp để ngăn ngừa cho tình trạng đó không
xảy ra.
Sự
thực tập giới thứ ba là như vậy đó! Nếu chúng ta có chánh
niệm trong giây phút hiện tại, nếu chúng ta biết xử lý
giây phút hiện tại một cách sáng suốt thì làm gì có chuyện
chúng ta phải phá thai! Chuyện có thai sẽ không xảy ra, và
vì vậy sẽ không cần phải đặt vấn đề nên hay không nên
phá thai!
Trên
thế giới, người ta đã vận động cho phụ nữ có quyền
được phá thai. Một vị linh mục rất nổi tiếng, cha Berrigan,
cũng vận động xin chữ ký để người phụ nữ có quyền
đó. Bản kiến nghị đã được gởi cho tôi, nhưng tôi không
ký. Không phải vì tôi không yểm trợ, không thấy được
nỗi khổ, niềm đau của người phụ nữ, mà bởi tôi thấy
rằng đây chỉ là cách giải quyết trên ngọn. Mình làm thế
nào để người đàn ông cũng có trách nhiệm và người đàn
bà cũng có trách nhiệm. Vấn đề là phải tu tập chứ không
phải đòi hỏi quyền nên hay không nên phá thai.
Riêng
đối với những thuyền nhân bị hãm hiếp trên biển lại
là một vấn đề lớn. Hình ảnh ghê rợn của người hải
tặc sẽ in sâu vào trong lòng mình. Dù mình không phá thai thì
khi đứa con sinh ra, nó vẫn mang hình ảnh người cha mà mình
từng coi như kẻ thù. Vì vậy, giữa mình với đứa con, hạnh
phúc không có được hoàn toàn, nên một số người là bác
sĩ trị liệu hay các nhà tôn giáo đồng ý cho việc họ phá
thai. Tuy nhiên, đó không phải là cách duy nhất. Vì nếu mình
biết sử dụng phương pháp quán chiếu của đạo Bụt, thì
mình sẽ có thể đi xa hơn, có thể phát khởi tâm từ bi đối
với người hải tặc đã hãm hiếp mình.
Một
đêm, tôi nhận được tin một em bé mười hai tuổi bị hải
tặc làm nhục và em đã nhảy xuống biển sâu. Người cha
tới can thiệp cũng bị hải tặc giết chết. Hôm đó, khi
nghe bản tin như vậy, tôi đã có nhiều niềm đau trong trái
tim. Tôi đã thiền hành rất lâu trong rừng và quán chiếu:
nếu hai mươi năm trước tôi được sinh ra trên bờ biển
Thái Lan trong một gia đình ngư dân rất nghèo đói, cha tôi
không có học thức và mẹ tôi chưa bao giờ biết cách nuôi
con. Suốt cả một đời cha tôi nghèo khổ, đói khát, bị
áp bức, còn mẹ tôi thì không được giáo dục. Tôi lớn
lên như một đứa bé hoang. Một hôm, có người bạn nói với
tôi rằng những thuyền nhân đem theo rất nhiều vàng, mình
chỉ cần làm một chuyến thì có thể thoát khỏi thân phận
nghèo đói, áp bức qua bao nhiêu thế hệ. Tôi là người chưa
từng đi học, chưa từng được huấn luyện về từ bi nên
tôi nghe theo lời người bạn. Khi tôi ra biển làm hải tặc,
tôi thấy những người bạn hải tặc khác đang hãm hiếp
một đứa bé; tôi thấy rằng ở đây không có cảnh sát,
tôi lại chưa biết tình dục là gì. Nhân cơ hội đó, tôi
cũng hãm hiếp một đứa bé. Nếu anh có súng trên tay, anh
bắn tôi thì tôi chết thôi, nhưng cả cuộc đời tôi, chưa
có ai giúp tôi, chưa có ai giáo dục tôi. Những nhà chính trị,
những nhà kinh tế, những nhà văn hóa… chưa ai giúp tôi,
giúp cha tôi, mẹ tôi. Tôi là một cây hoang mọc lên trong gia
đình… Thiền quán như thế, tôi bắt đầu thấy tội nghiệp
người hải tặc kia. Trong trái tim tôi đã ứa ra giọt nước
từ bi. Và đêm đó, tôi đã tha thứ được cho người hải
tặc.
Vì
vậy, nếu mình là người thiền quán giỏi, mình thấy được
người hải tặc cũng là nạn nhân của sự nghèo đói, của
sự bóc lột, thiếu giáo dục, thì trong trái tim mình cũng
sẽ ứa ra giọt nước từ bi và mình sẽ tha thứ được cho
họ. Mình phát nguyện rằng nếu mình thấy được những đứa
bé cũng trong tình trạng đó, mình sẽ tìm cách giúp đỡ để
cho đứa bé không trở thành hải tặc trong tương lai. Khi có
được cái thấy, cái hiểu và cái thương như thế, thì sự
hận thù sẽ tan biến như tuyết dưới ánh sáng mặt trời.
Mình sẽ có khả năng giữ được cái thai và có thể thương
yêu nó với tất cả tấm lòng, mình cũng sẽ thương yêu cả
cha nó nữa - một người con trai bất hạnh chưa bao giờ được
hiểu, được thương. Điều đó phụ thuộc vào trình độ
tu tập của mình chứ không phải phụ thuộc vào chỉ có một
đường lối, một cách giải quyết mà thôi.
GS.TS
TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Ở châu
Âu, châu Úc, châu Mỹ có người nào là tín đồ của Phật
giáo hiện ở trong liên quân đánh Iraq? Nếu như Thiền sư
"chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện" thì Thiền sư
sẽ nguyện cho tình thế nào - cho Hồi giáo hay cho người Mỹ?
- Quý
vị biết rằng chúng ta có thể cầu nguyện bằng nhiều cách
- bằng lời nói, hành động hay bằng chính trái tim mình. Khi
Trung tâm Thương mại Quốc tế ở New York bị tấn công, niềm
sợ hãi và hận thù trong người dân Mỹ trào dâng rất lớn.
Lúc đó tôi đang ở California, tại tu viện Lộc Uyển, tôi
nghe được tin đó qua một người bạn. Theo nguyên tắc, ba
hôm sau tôi sẽ diễn thuyết tại nhà hát lớn ở thành phố
Berkeley, miền Bắc Cali về đề tài "Không sinh không diệt".
Nhưng khi nghe tin đó, tôi thấy rằng mình cần phải đổi
đề tài. Và đề tài mới của tôi là "Ôm lấy niềm đau,
ôm lấy cơn giận". Đại khái trong buổi diễn thuyết đó,
tôi đã nói rằng chúng ta là những người biết thực tập,
mỗi khi có cảm xúc trào dâng làm cho chúng ta thất điên bát
đảo, điều đầu tiên chúng ta phải làm là hãy ôm ấp cảm
thọ đó, làm cho nó êm dịu lại. Trong cơn buồn, cơn giận
mà chúng ta hành động thì sẽ gây ra những lầm lỡ mà chúng
ta sẽ hối tiếc sau này. Tôi đề cập việc người Mỹ thực
tập phép lắng nghe và ái ngữ. Tại buổi nói chuyện hôm
đó không chỉ có những thiền sinh - mỗi khi tôi nói chuyện
tại Berkeley, bài giảng của tôi được truyền đi trên hàng
trăm đài truyền thanh ở toàn cõi Hoa Kỳ. Tôi có nói như
thế này: Chúng ta hãy lắng lòng trở xuống, hãy tập thở,
hãy ngồi yên để tâm tư lắng đọng trong vài ngày rồi chúng
ta hãy đặt câu hỏi là tại sao họ đã làm thế, chúng ta
đã làm gì để họ phải hận thù chúng ta đến mức đó?
Chúng ta ai cũng có tri giác về chính mình và về người khác.
Tri giác đó có thể rất sai lầm. Người kia cũng có những
tri giác của chính họ và về mình - tri giác đó cũng có thể
sai lầm. Hành động trên những tri giác sai lầm chỉ có thể
gây thêm đổ vỡ và gây khổ đau cho nhau. Thành ra tôi đề
nghị quý vị hãy lắng lòng lại trước rồi sau đó sẽ sử
dụng ái ngữ nói như thế này: Này các vị, ở bên kia tại
sao quý vị có thể tấn công chúng tôi như thế; chúng tôi
đã làm những lầm lỗi gì, đã gây những nỗi khổ đau nào
cho quý vị; chúng tôi đã cố tình tiêu diệt nền tôn giáo
hay nền văn hóa của quý vị hay không? Thật sự thì chúng
tôi không có những ý niệm đó. Có thể chúng tôi đã nói
điều gì, làm điều gì gây cho quý vị ấn tượng là chúng
tôi muốn tiêu diệt quý vị, muốn đàn áp quý vị, muốn
quý vị không có quyền sống trên trái đất này, thì chúng
tôi muốn lắng nghe quý vị. Quý vị đã nghĩ rằng chúng tôi
làm những điều gì sai, đã nói gì sai, đã gây ra những khổ
đau nào khiến cho quý vị tấn công chúng tôi? Buổi nói chuyện
đó chỉ hoàn toàn có tính cách tâm linh, đạo đức chứ không
có tính chính trị nào hết. Toàn nước Mỹ đều phải lắng
nghe, chưa nên hành động. Trong quá trình lắng nghe, nếu chúng
ta khám phá ra những vụng về của mình thì chúng ta xin lỗi.
Nhưng chúng ta thấy họ có những tri giác sai lầm về họ
và về mình thì chúng ta sẽ tìm cách để cung cấp những
dữ kiện, tài liệu, dần giúp cho họ điều chỉnh lại nhận
thức của họ đối với họ cũng như đối với mình. Từ
đó chúng ta sẽ có cơ hội điều chỉnh, hàn gắn, bù đắp
để cho những hiểu lầm kia không còn nữa, tạo nên mối
truyền thông, tạo nên tình huynh đệ.
Có
một điều ngẫu nhiên là quyển sách Anger (Cơn giận) của
tôi cũng xuất bản cách đó ba ngày. Vì vậy, ngày hôm đó
tại New York, tôi đã được mời và trực tiếp trả lời
cho 45 đài truyền thanh, truyền hình về tác phẩm Anger bán
rất chạy tại Mỹ và một triệu cuốn cũng được bán hết
tại Hàn Quốc. Sau đó chúng tôi về New York, diễn thuyết
tại nhà thờ River Side Drive, chúng tôi cũng đã diễn thuyết
cho dân New York - những người đã trực tiếp hứng chịu nỗi
đau của cuộc tấn công… Hôm đó, hàng ngàn người đến
nhà thờ và không có chỗ đã phải ra về. Các thầy và các
sư cô theo tôi đã xin với tôi rằng không biết chúng ta có
nên nói như vậy hay không? Trong khi người Mỹ sôi sục hận
thù mà mình kêu gọi họ sự trầm tĩnh, sự lắng nghe và
tình huynh đệ thì có thể có những người quá khích sẽ
đem súng mà bắn mình như họ đã từng bắn những người
can đảm dám nói ra sự thật về tình người, về lòng nhân
đạo, về sự thương yêu và tha thứ. Những đệ tử xuất
gia và tại gia của tôi hôm đó đã lo lắng thật sự. Nhưng
tôi nói rằng: Này các con, thầy đã thấy được sự thật.
Thầy đã thấy rõ ràng rằng đây là con đường có thể giúp
cho chúng ta tránh được một cuộc thế chiến. Sự xung đột
này có thể sẽ dẫn đến cuộc thế chiến mới và sự tàn
sát sẽ khốc liệt vô cùng và trong thế chiến này, tôn giáo
sẽ tham dự, trong đó có Hồi giáo và Cơ Đốc giáo. Vì vậy,
nếu thầy không lên tiếng thì thầy không làm tròn bổn phận
của thầy. Nếu thầy muốn sống nhát gan, không dám đứng
ra nói lên tiếng nói của trái tim thì thầy không còn xứng
đáng là thầy của các con nữa. Thà rằng thầy chết mà thầy
vẫn còn là thầy của các con còn hơn là thầy tham sống sợ
chết mà không dám ra nói sự thật, thì tuy rằng thân xác
này của thầy vẫn còn mà thầy đã không còn xứng đáng
là thầy của các con rồi. Các đệ tử xuất gia và tại gia
của tôi đêm đó đã khóc. Nhưng cũng nhờ long thần hộ pháp
mà hôm đó đã không có điều gì đáng tiếc xảy ra…
Quý
vị cũng chú ý cho điểm này: trong tôn giáo và trong chính
trị, hai lĩnh vực khác nhau, nhưng chúng ta thấy sự có mặt
của đạo đức là cần thiết. Nếu tôn giáo không có đạo
đức thì đó là một sự phá sản lớn - mà nhiều khi tôn
giáo lại không có đạo đức. Trong chính trị cũng vậy, nếu
như không có đạo đức thì chính trị sẽ bị phá sản. Cho
nên sự có mặt của đạo đức trong chính trị là rất quan
trọng. Tôn giáo có thể có đạo đức, nhưng đạo đức không
hẳn là tôn giáo. Vì vậy, khi mình theo một đường hướng
cuồng tín, cố chấp, chỉ thấy rằng mình nắm được chân
lý, và tất cả các chủ thuyết, tôn giáo khác không nắm
được chân lý thì đó là tôn giáo mà không phải là đạo
đức. Thái độ cởi mở bao dung là bản chất của đạo đức.
Theo cái nhìn của tôi trên 60 năm tu học, thì không có cái
gì quý giá bằng tình huynh đệ, bằng tình người. Theo tôi,
không có tôn giáo, chủ thuyết nào cao hơn tình huynh đệ và
chúng ta không thể hy sinh tình huynh đệ, tình người nhân
danh cho tôn giáo hay chủ thuyết. Đó là niềm tin của tôi.
Tôi
biết gần đây Tướng Võ Nguyên Giáp ngày nào cũng ngồi thiền.
Và ngồi thiền đó không hẳn là tôn giáo. Nó là đạo đức,
là nhu yếu để đem lại sự bình an, sự vững chãi cho một
con người. Tôi biết rằng cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã tới quy y tại chùa Đậu. Khi nghe tin đó, tôi không lấy
làm ngạc nhiên gì hết, tại vì cha ông của chúng ta đã từng
làm như vậy. Vua Lý Thái Tổ từ nhỏ đã thực tập Thiền.
Vua Trần Thái Tông năm 20 tuổi sức học về Phật pháp đã
uyên thâm; vua làm chính trị, có khi phải cầm quân đi đánh
giặc, mà vua vẫn thực tập ngồi thiền 6 lần trong một ngày.
Những thời đại đó vua quan và dân rất đoàn kết, khắng
khít với nhau. Thái độ cởi mở, bao dung thấy rất rõ trong
văn hóa Lý - Trần. Tôi muốn rằng các nhà chính trị của
chúng ta trong hiện tại đừng đợi đến lúc lớn tuổi mới
đem vào cuộc sống của mình một chiều hướng tâm linh. Cha
ông của chúng ta đã từng làm như vậy. Các vua Lý, vua Trần
đều thực tập theo con đường tâm linh của tổ tiên. Khi
chúng ta còn trẻ, khi chúng ta là thương gia, là nhà chính trị…
chúng ta có một nếp sống tâm linh trong đời sống hàng ngày
thì chúng ta sẽ an lạc nhiều hơn, chúng ta sẽ biết tháo
gỡ những khó khăn, những mâu thuẫn trong lòng; chúng ta có
thể thiết lập truyền thông với người thương của chúng
ta trong gia đình và chúng ta có thể phục vụ được cho đất
nước quê hương thay vì đợi cho đến già rồi mới thực
tập. Đó là điều tôi muốn nhắn nhủ đối với những vị
trong guồng máy kinh tế, chính trị của đất nước chúng
ta
Ni
sư TN. HUÊ LIÊN: Thiền sư vừa đề cập đến việc các
vua quan thời Lý - Trần đều áp dụng lời Phật dạy trong
việc quản lý và mang lại hạnh phúc, hòa bình cho nhân dân
thời bấy giờ. Vậy Thiền sư có nghĩ rằng các nhà lãnh
đạo Việt Nam hiện tại sẽ áp dụng lời Phật dạy trong
việc quản lý và phát triển đất nước Việt Nam hôm nay?
Nếu có, thì bằng cách nào?
- Trong
một chuyến đi hoằng pháp ở Ấn Độ, tôi có gặp Tổng
thống Ấn Độ Narayanan. Hồi đó ngài còn làm Phó Tổng thống
kiêm Chủ tịch Quốc hội. Sách của tôi đã được ấn hành
và ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ấn Độ đã mở một cuộc
họp báo để giới thiệu những quyển sách tôi in bằng tiếng
Hindi và tiếng Anh ở Ấn Độ. Khi tôi gặp ông Chủ tịch
Quốc hội Ấn Độ, tôi có nói đến phương pháp lắng nghe
và ái ngữ có thể sử dụng được trong Quốc hội. Vì trước
đó tôi nghe rằng nhiều khi không khí trong Quốc hội quá nóng
bỏng và người này la hét người kia, có khi có người đứng
dậy cầm ghế định phang người khác. Tôi nghĩ rằng điều
đó có tính cách bạo động. Tôi đề nghị với ông Chủ
tịch Quốc hội một vài phương pháp, trong đó có phương
pháp quán niệm trước mỗi buổi họp Quốc hội. Lời quán
niệm chỉ ngắn thôi: Xin các bạn đồng liêu, chúng ta được
dân chúng, quốc dân bầu lên và ngồi trong tòa nhà này để
chúng ta có thể tổng hợp lại tất cả những kinh nghiệm,
trí tuệ của chúng ta để làm ra những đạo luật đáp ứng
lại được với những nhu yếu của toàn dân. Vì vậy chúng
ta hãy thực tập lắng nghe nhau, đừng có thành kiến. Lắng
nghe để thấy được những kinh nghiệm, những tuệ giác của
người khác, đừng để cho những thành kiến có sẵn của
mình bị ngăn ngừa. Khi chúng ta có thể lắng nghe được với
nhau, thì chúng ta có thể tổng hợp được và có thể đi
đến những tuệ giác chung, có thể đưa đến những đạo
luật rất hay và phù hợp được với đất nước. Vì vậy,
trong phiên họp này của Quốc hội, xin tất cả mọi người
lắng nghe và sử dụng ái ngữ. Chúng ta có thể nói tất cả
kinh nghiệm, những tuệ giác của chúng ta ra cho tất cá các
bạn đồng nghiệp, nhưng chúng ta không nên sử dụng ngôn
từ lên án, buộc tội, chửi mắng. Như vậy, chúng ta có thể
đóng góp được phần tối đa của chúng ta cho đất nước,
quê hương và dân tộc. Ông Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ
thấy rằng phương pháp đó rất hay, mình chỉ cần 2 phút
đọc lên là có thể nhắc cho mọi người biết sứ mạng
của mỗi dân biểu trong Quốc hội. Tôi còn đề nghị thêm
một điều nữa là cần có thêm một cái chuông chánh niệm.
Mỗi khi có một thuyết trình viên nổi nóng, sử dụng ngôn
từ làm cho không khí hội trường sôi động, không có truyền
thông nữa, thì chủ tọa của buổi họp đánh lên một tiếng
chuông, tất cả mọi người phải ngưng nói, ngưng nghe và
trở về với hơi thở để làm lắng dịu lại những cảm
xúc lớn. Ông Chủ tịch đã chấp nhận hết những điều
đó và cảm ơn tôi đã đóng góp phần đó cho ông. Mười
ngày sau, khi tôi đang hướng dẫn một khóa tu thì có một
thiền sinh đưa lên tờ báo có đưa tin Chủ tịch Quốc hội
Ấn Độ vừa lập ra một Ủy ban Đạo đức ở trong Quốc
hội để lo về mặt đạo đức trong sinh hoạt Quốc hội,
tôi rất là mừng. Gặp ông Chủ tịch Quốc hội chỉ một
giờ đồng hồ mà có thể đóng góp được rất nhiều
.
Tại
Quốc hội Hoa Kỳ, tôi đã từng diễn thuyết về phương pháp
lắng nghe và ái ngữ. Tôi cũng đã nói đến cuộc chiến tranh
Iraq, nếu chúng ta không cẩn thận, nếu chúng ta bộp chộp
thì quý vị sẽ bị kẹt vào trong Iraq, giống như quý vị
đã từng bị kẹt vào ở Việt Nam. Sau đó tôi đã hướng
dẫn một khóa tu chánh niệm cho một số vị dân biểu Hoa
Kỳ. Nói như thế không có nghĩa là tôi thuyết phục họ đi
theo đạo Phật. Phần lớn họ đều có gốc rễ Thiên Chúa
giáo, nhưng họ đều công nhận rằng trong đạo Phật có những
phương pháp thực tập giúp họ lắng xuống, giúp cho họ thấy
rõ ràng hơn. Vì vậy bây giờ ở trong trụ sở Quốc hội
Hoa Kỳ, có những vị dân biểu Quốc hội đi từ văn phòng
của mình tới chỗ bỏ phiếu bằng phương pháp thiền hành
từng bước chân thảnh thơi: đã về, đã tới, bây giờ,
ở đây. Như vậy không có nghĩa mình phải theo Phật, phải
quy y mới có thể thực tập những pháp môn Phật giáo. Đời
Lý, đời Trần, các vua, các quan, các vị viên chức trong chính
quyền có rất nhiều vị quy y. Bây giờ chúng ta không nhất
thiết phải quy y, nhưng chúng ta có thể thực tập theo phương
pháp đạo Phật. Sự thực tập để làm lắng dịu thân tâm,
để đem lại sự vững chãi, thảnh thơi trong cuộc sống hàng
ngày, để nuôi dưỡng tình thương và sự hiểu biết trong
ta, sẽ giúp ta trở nên một nhà thương gia, một nhà chính
trị, một nhà giáo dục… có tầm vóc lớn hơn và có thể
phục vụ được cho đất nước lớn hơn. Mục đích của
chúng tôi không phải là kêu gọi quý vị theo đạo Phật.
Mục đích của của chúng tôi là để chứng tỏ rằng trong
đạo Phật có cái phần không tôn giáo mà bất cứ ai trong
chúng ta cũng có thể học hỏi, tiếp nhận và áp dụng vào
trong cuộc sống hàng ngày, đem lại rất nhiều hạnh phúc
cho mình, cho gia đình và đất nước. Tổ tiên của chúng ta
thành công thì tại sao chúng ta lại không thành công?
Tại
Tòa Đại sứ của Việt Nam bên Paris, tôi thấy ông Nguyễn
Đình Bin rất có cảm tình với đạo Phật; còn ông Phó Đại
sứ và phu nhân của ông cũng rất thèm về Làng Mai. Các nhân
viên Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp ai cũng ao ước được
về Làng Mai nhưng lại… không ai dám về. Tại sao vậy? Đó
là câu hỏi chúng tôi muốn đặt ra cho quý vị. Chúng ta là
Thủ tướng, chúng ta là Bộ trưởng, là Tổng Giám đốc,…
chúng ta có những trách vụ rất quan trọng trong Đảng và
trong chính quyền, nhưng tại sao chúng ta lại không có quyền
đi chùa? Chúng ta đi chùa sẽ có một hình ảnh không đẹp
hay sao? Hình ảnh của Tướng Võ Nguyên Giáp ngồi thiền rất
đẹp, gây niềm tin cho rất nhiều người, trong đó có người
trẻ. Các vị nguyên thủ quốc gia các nước Anh, Pháp, Mỹ…
đều có sinh hoạt tâm linh và tôn giáo của họ, vì sao chúng
ta lại sợ hãi? Vì vậy, tôi kính mời quý vị suy tư về
vấn đề này.
Thế
nào trong mỗi quý vị cũng đều có một chiều hướng tâm
linh trong đời sống hàng ngày, nếu không thì cuộc sống của
chúng ta sẽ nghèo nàn. Vì vậy, khi gặp ông Bộ trưởng Bộ
Tôn giáo Trung Quốc, tôi đã tặng ông một bức bút pháp viết
ba chữ: The spiritual dimension, tức "chiều hướng tâm linh".
Bất cứ ở trong một ngành nào của sinh hoạt xã hội, chúng
ta cũng đều phải có nếp sống tâm linh. Chính nếp sống
tâm linh giúp cho chúng ta có sự vững chãi, thảnh thơi, nuôi
dưỡng được những hạnh phúc và tháo gỡ được những
khó khăn, giúp cho chúng ta truyền thông dễ dàng hơn với những
người trong gia đình, trong cơ quan, trong cùng một chính quyền,
hay một tổ chức chính trị. Chúng ta có quyền sống đời
sống tâm linh của mình mà không phải sợ hãi.
Câu
hỏi của một Phật tử (do Ban Tổ chức đọc): Sắp
đến có thể con sẽ được thầy làm lễ quy y, nhưng con không
biết rằng sau khi quy y, chúng con còn có quyền được yêu
nước, yêu Đảng nữa hay không?
Nếu
mà… nếu mà quy y mà không có quyền yêu nước, yêu Đảng
nữa thì quy y làm cái gì! (ngừng một lát để lắng những
tiếng vỗ tay). Sau khi mình quy y rồi đó, thì mình sẽ yêu
nước hay hơn, mình sẽ yêu Đảng hay hơn nữa!
GS.
HOÀNG NHƯ MAI: Buổi nói chuyện của thầy Thích Nhất Hạnh
đã đề cập đến những vấn đề hết sức căn bản trong
mối quan hệ giữa con người với con người. Thầy nói những
vấn đề rất lớn nhưng rất giản dị, những vấn đề mà
ai cũng có thể nghĩ ra, nhưng khái quát thế nào, trình bày
thế nào để đem đến lợi ích cho người nghe lại là một
vấn đề khác. Cách thức diễn đạt của thầy vừa sâu sắc,
vừa giản dị. Sâu sắc để các nhà khoa học, trí thức có
thể nhận ra, liên hệ rộng ra đến nhiều vấn đề, và giản
dị để mọi người đều có thể hiểu. Theo tôi, đây là
một buổi thuyết trình rất thành công.
Vấn
đề lắng nghe nhau thực chất là một vấn đề rất khoa học.
Biết lắng nghe nhau có thể giải quyết được nhiều vấn
đề. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi nghĩ mình đôi khi chưa
lắng nghe học sinh, sinh viên của mình, họ muốn gì, đang
suy nghĩ gì... và thậm chí chuyện trong gia đình cũng vậy,
do vợ chồng không chịu lắng nghe nhau nên mới xảy ra chuyện
lục đục trong nhà. Tại sao mình không chịu lắng nghe nhau
mà cứ mãi đối chọi với nhau?
Sự
kiện về nước của thầy Nhất Hạnh là một sự kiện lớn.
Sự kiện lớn bao giờ cũng có những luồng dư luận khác
nhau. Thầy Nhất Hạnh về thăm quê hương vào dịp cuối năm
âm lịch. Đối với truyền thống dân tộc, đây là một điều
rất hay. Theo suy nghĩ của tôi, người ta sống với nhau không
thể không có mâu thuẫn. Nhưng một khi năm cũ qua đi, năm
mới sắp đến, người ta thường bỏ qua những chuyện không
tốt trong năm cũ. Đó là truyền thống của người Việt.
Một cử chỉ lựa chọn thời điểm nhưng chứa đựng nhiều
ý nghĩa. Có người đã hỏi cảm tưởng của tôi về buổi
thuyết trình và thầy Nhất Hạnh, tôi bảo: chỉ cần nhìn
lên lễ đài, bạn có thể nhận thấy nhiều tu sĩ Phật giáo
với nhiều màu da khác nhau. Đó là một hình tượng rất đẹp,
ngay sau thầy Nhất Hạnh đã có một biểu tượng của đoàn
kết, hòa hợp.
Trong
buổi thuyết trình, tôi rất thích câu trả lời cuối cùng
của thầy: nếu không yêu nước thì quy y làm gì! Tôi rất
tâm đắc về câu trả lời đó!
GS.TS
TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN: Theo tôi, buổi trò chuyện của
Thiền sư Thích Nhất Hạnh hôm nay là một thành công lớn.
Trong gần hai tiếng đồng hồ, Thiền sư đã trình bày nhiều
vấn đề và cũng có rất nhiều vấn đề còn có thể trao
đổi với nhau. Giá như Trung tâm KHXHNV tại TP.HCM cũng như
Trung ương mà tổ chức thêm những cuộc gặp gỡ như thế
này hẳn là một điều rất tốt - chúng ta sẽ trao đổi trên
tinh thần hiểu biết và thông cảm lẫn nhau. Những câu trả
lời của Thiền sư về những vấn nạn mang tính thời đại,
những vấn đề mấu chốt của hiện đại hóa Phật giáo
mà tôi đã đặt ra, theo tôi, là rất đáng lưu ý. Câu trả
lời cuối cùng của Thiền sư về mối quan hệ giữa yêu nước...
và yêu đạo tuy vui nhưng lại thể hiện quan điểm của Thiền
sư đối với đất nước hiện nay là rất rõ ràng và rất
đúng. Điều đó chứng tỏ Thiền sư đã có sự chuẩn bị
đầy đủ và tâm niệm từ lâu cho chuyến trở về lần này.
Chuyến
về thăm quê hương của Thiền sư Nhất Hạnh và đoàn Tăng
thân Làng Mai đã góp phần lớn cho sự gần gũi và hiểu biết
lẫn nhau. Thiền sư ra nước ngoài rất lâu nhưng vẫn theo
dõi tình hình ở Việt Nam và thái độ của Việt Nam đối
với thế giới rất kỹ. Từ đó, Thiền sư đã có được
những câu trả lời bao hàm một nội dung lớn về những vấn
đề mang tính thời đại như bùng nổ dân số và tình trạng
nạo phá thai mà một số tôn giáo lớn khác trên thế giới
đôi lúc cũng tỏ ra lúng túng; cùng một số vấn đề nhạy
cảm và tế nhị khác của thế giới hiện tại... Vì vậy,
việc Thiền sư trở về nước và có những buổi trò chuyện
như thế này là rất bổ ích, ít nhất là cho giới Tăng Ni,
Phật tử, đồng thời cũng có sự đóng góp tốt cho văn hóa
mà trước hết là cho văn hóa Phật giáo.
Ảnh
trên: Ban tổ chức tặng quà lưu niệm cho Thiền Sư Nhất Hạnh
Ảnh
dưới: GSTS Trần Trọng Đăng Đàn chất vấn Thiền Sư
(Ảnh
Võ Văn Tường)
Q.
Kiến - H. Như
(Báo
Giác Ngộ)
Xem
Tiếp về Chuyến Trở Về Việt Nam hoằng pháp của HT. Thích
Nhật Hạnh
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân