NGƯỜI
VỀ VỚI NHƯ
Nhật
Chiêu
Trên
lá sen hồ
Giọt
sương phiêu du
Không
đổi sắc
Đó
là thực tướng
Đó
là chân như
Giọt
sương trên lá sen hồ vẫn trong veo. Trong veo là như tính của
giọt sương. Giọt sương sẽ tan. Tan vào cái trong veo của
hư không Giọt sương đang về với Như.
Như
giọt sương, người có về với Như?...
Trên
con đường thật
Người
về với Như.
Ikkyu
Con
đư¬ờng nào cũng đông đúc người đi, vô số người đi.
Họ thường đi, ta thường đi. Thường đi nhưng không thường
về.
Có
quê hương chờ đợi mỗi bước ta về. Quê hương đâu, hỡi
bóng dương tà? Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Thôi Hiệu
nói thay chúng ta đó thôi, thác lời chúng ta, nhìn bóng chiều
mà hỏi: Quê hương đâu?
Dẫu
chư¬a về thì vẫn còn đó nỗi nhớ quê hương, cái mà Tố
Như gọi là “Thiên lý hương tâm” (Tình quê ngàn dặm nhớ).
Quê
hương là gì? Là hương tâm (tâm ở quê hương); là tâm hương
(quê hương ở tâm). Cũng thế thôi.
Hãy
gọi quê hương là Nh¬ư.
Một
quê hương có thể còn chìm trong bóng “nhật mộ” như Thôi
Hiệu hay trong bóng đêm dài nh¬ư Nguyễn Du:
Thiên
lý hương tâm dạ cộng trường.
(Tình
quê ngàn dặm nhớ, cộng đêm trường ch¬a tan)
Nhưng
quê hương đó vẫn nh¬ư Thiền sư¬ vĩ đại của Nhật Bản
thế kỷ XV là Ikkyu gọi quê hương đó, Như, theo ngôn ngữ
phù Tang là Sonomama.
Người
về với Như là về với Sonomama.
Ikkyu
(1394–1481) cũng là thi sĩ, người ca hát mải mê về Đạo,
đã sáng tác khoảng 150 bài Đạo ca (Dôka), một tiếng hát
thâm trầm mà phiêu diêu, vang vọng không ngừng giữa đôi
bờ sinh tử:
Tâm
sầu lắm ¬
Thôi
đi nhị kiến
Chẳng
còn ba, tư¬
Trên
con đư¬ờng thật
Người
về với Như.¬
(Nageku
nayo
makoto
no michi wa
SONOMAMA
ni
Futatsu
tomo nashi
Mittsu
tomo nashi).
“Người
về với Nh¬ư” của Ikkyu chính là cái “Vạn sự quy Như”
của Tuệ Trung Thư¬ợng sĩ, ngọn pháp đăng sáng ngời của
Thiền tông Việt Nam.
Tuệ
Trung (1230–1291) đã cùng với quê hương vượt qua ba cuộc
kháng chiến chống Nguyên Mông đời Trần với tâm thức quê
hương là chân như¬.
Vạn
sự quy Như không có nghĩa là ta không làm gì cả hay buông
xuôi. Chỉ khi ta sống với toàn bộ trái tim mình, với tận
cùng hơi thở thi mọi sự mới là như chúng là. Chỉ khi ấy
mới chạm tới cái “quy như”. Chỉ khi ấy ta mới là người
về trên con đường của Như¬, điều mà Ikkyu và Tuệ Trung
cùng hát tụng:
Phiền
não bồ đề nguyện bất nhị
Chân
Như vọng niệm tổng giai không.
.
. .
H¬ưu
vấn tử sinh ma dữ Phật
Chúng
tinh củng bắc, thủy triều đông.
(Vạn
sự quy Như – Tuệ Trung)
“Phiền
não và Bồ đề vốn có gì khác nhau đâu. Chân Như và vọng
niệm tất thảy cũng đều là Không. Đừng hỏi về tử với
sinh, hay ma cùng Phật. Các ngôi sao đều chầu hư¬ớng Bắc
và nước sông suối thì chảy về phương Đông”.
Cả
Ikkyu và Tuệ Trung đều phóng cái nhìn sâu xa vượt qua nhị
kiến vào tận thâm xứ của Nh¬ư, cái nhìn như muôn ánh sao
và muôn dòng nước, cái nhìn rực sáng trên con đường vạn
lý vô vân.
Để
biểu tượng cho Như¬, Ikkyu dùng hình ảnh “con đường thật”
(makoto no michi). Tuệ Trung thì “nước về biển đông” (thủy
triều đông)
Đến
giữa thế kỷ XIX, đại dương của Như bất ngờ xuất hiện
trong một bài thơ tự do của Walt Whitman ở châu Mỹ, một
hiền nhân của thơ ca:
Từ
đại dương cuồn cuộn đám đông, bất chợt một giọt nước
nhẹ nhàng êm ái đến, đến cùng tôi...
Chúng
ta gặp nhau rồi, đã nhìn nhau và yên vui, thế là đã ổn;,
Tình
tôi ơi, hãy thanh bình về với đại dương đi ...
Xin
em hiểu, tôi chào mừng không khí, đại dương và xứ sở
Lúc
mặt trời lặn mỗi ngày cũng vì em đó, tình ơi.
Whitman
(1865)
(Out
of the rolling ocean, the crowd, came a drop gently to me …
Now
we have met, we have look'd, we are safe;
Return
in peace to the ocean, my love…
Know
you, I salute the air, the ocean and the land
Every
day, at sundown, for your dear sake, my love).
Cho
dù đó là con đường thật, là thủy triều đông, là đại
dương thì Như cũng là cái gì đó để ta đi, để ta chảy,
để ta về.
Để
cho ta chính là cái ta là.
Ta
là ta. Chữ Phạn là Tathatà.
Theo
Taitetsu Unno thì Như có ý nghĩa Như sau: “Sono-mama là từ ngữ
tương đư¬ơng trong tiếng Nhật của chữ như¬ thị, như
vậy, như thế, tánh như vậy của sự vật, xuất phát từ
những chữ Sanskrit (Tathatà, Tattva, Dharmata). Nó cũng hiện thân
của chữ Trung Hoa tự nhiên. . . Nó hoàn toàn không thể được
hiểu theo lối suy nghĩ phân hai, quy ư¬ớc chỉ tạo thêm những
phân chia và mâu thuẫn, nát vụn đời sống, gọi là sinh tử.
Đấy là cái đối nghịch thật sự của đời sống vốn như
¬là “Sono-mama” (Sông lửa sông nước An C¬ư dịch).
Vượt
qua nhị kiến để không còn thấy sinh t¬ử, ma Phật. Chỉ
còn có Như, cái mà ta chạm phải trong thơ của Thiền s¬ư
Ikkyu, Thư¬ợng sĩ Tuệ Trung và Hiền nhân tóc trắng Whitman,
và Tố Như của đỉnh non Hồng…
Cái
Như đó là như tính của sự vật (the is-ness of a thing). Nói
theo Suzuki thì: “Thư¬ợng đế hiện hữu trong như ¬tính
của ngài, hoa nở trong như tỉnh của hoa, chim bay trong như
tính của chim–tất cả viên thành trong như tính của mình”
(God is in his way of is-ness, the flowers bloom in their way of is-ness,
the birds fly in their way of is-ness – they are all perfect in their
is-ness).
Chính
vì cái như tính đó mà trong “Phật tâm ca” (Bài ca Phật
và tâm), Tuệ Trung viết:
Xuân
lai tự thị xuân hoa tiếu
Thu
đáo vô phi thu thủy thâm.
Xuân
đến thì tự nhiên hoa xuân cư¬ời mỉm miệng, Thu về thì
đâu chẳng thấy nước thu sâu thẳm.
Nhưng
như tính không chỉ là hoa xuân nở, nước thu sâu. Nh¬ư tính
còn là sống giữa lòng đời thì hãy là đời – Cái đó
có thể gọi là “tùy nghi” – Tuệ Trung cho rằng:
Khỏa
quốc hân nhiên tiện thoát y
Lễ
phi vong giải tục tùy nghi
(Ở
xứ khỏa thân, cứ thoát y
Lễ
nào đâu bỏ, chỉ tùy nghi).
Hoa
nở, nước trôi, người khỏa thân… là sự sống như nó
là. Có thời gian cho hoa nở và hoa tàn. Có thời gian cho nước
trôi và nước đóng băng. Có thời gian cho người khỏa thân
và mặc áo. Cũng có không gian cho nước, cho hoa, cho người…
Như¬ng
trong bản thể, như như¬ không có không gian và thời gian.
Thế cho nên Tuệ Trung Thượng sĩ mới nói:
Thiền
phong vô hậu diệc vô tiền
Bản
thể Như nh¬ư chỉ tự nhiên.
(Màu
thiền không trư¬ớc không sau
Như
¬như ¬bản thể ra vào t¬ự nhiên).
Chỉ
là tự nhiên thôi. Như Phật là Phật, Tuệ Trung là Tuệ Trung.
Còn nhớ cuộc trò chuyện của Thái hậu và Th¬ượng sĩ:
–Anh
tu thiền mà ăn thịt thì làm sao thành Phật?
–Phật
là Phật, anh là anh. Anh đâu cần làm Phật, Phật đâu cần
làm
anh.
(–
A huynh đàm thiền thực nhục, an đắc Phật dã?
–Phật
tự Phật, huynh tự huynh. Huynh dã bất yếu tố Phật, Phật
dã bất yếu tố huynh).
Chỉ
là tự nhiên thôi. Cho nên Bồ tát nói như Bồ tát và Tuệ
Trung nói như Tuệ Trung:
Bồ
tát thuyết pháp, ngã thực thuyết
(Bồ
tát nói pháp, ta nói thực)
Nhưng
mà họ khác nhau sao?
Chẳng
phải là Bồ tát nói pháp như¬ thực và Tuệ Trung nói thực
như¬ pháp?
Chẳng
phải là, Tuệ Trung nói rằng pháp đơn sơ như thực và thực
thì lại u huyền như pháp?
Chẳng
phải là nhà thơ u huyền Đức Angelus Silesius (1624–1677) đã
viết:
Tôi
vĩ đại như Thư¬ợng đế
Còn
ngài thì nhỏ bé cũng như tôi. . .
(I
am as great as God
Anh
He is small like me...)
Chỉ
là tự nhiên mà Thượng đế là vĩ đại và nhỏ bé. Cũng
chỉ là tự nhiên mà tôi nhỏ bé và vĩ đại. Cho nên Bụt
là Tấm mà Tấm cũng là Bụt. Điều này có thể dễ dàng
nhìn thấy trong hàng loạt bài Đạo ca (Dôka) của Ikkyu:
Con
người bản nguyên
Trở
về nguyên quán
Ấy
là tự nhiên
Sao
còn tìm Phật
Làm
chi cho phiền ?
(Moto
no mi wa
moto
no tokoro e
kaeru
beshi
iranu
hotoke wo
tazune
ba shisu na)
Tìm
Phật ư ¬
Khắp
nơi ¬
Ôi
tâm hồn ấy
Mới
là ngu xuẩn
Tận
cùng xuẩn ngu.
(Hotoke
toe
hoka
ni motomuru
kokoro
koso
Mayoi
no na ka no
Mayoi
nai keru).
Suốt
đêm dài
Nếu
ta tìm kiếm
Con
đường Như Lai
Tìm
hoài sẽ gặp
Tâm
mình chứ ai.
(Yomosugara
hotoke
no michi wo
tazunereba
waga
kokoro ni zo
tazune
iri keru).
M¬ưa,
gió, tuyết sư¬ơng
Khác
nhau là thường
Thế
rồi rơi xuống
Qua
đồi qua lũng
Một
dòng nước tuôn.
(Ame
arare
yuki
va kôri to
hedatsuredo
otsureba
onaji
tanigawa
no mizu).
Đó
là cái mà Tuệ Trung Thư¬ợng Sĩ gọi là “Phàm Thánh bất
dị” (Phàm và Thánh không khác nhau) và hát về cái nhất
như đó như sau:
Ngã
nhân tự lộ diệc tự s¬ương
Phàm
thánh như lôi hựu như điện.
(Ta,
người như móc lại như ¬sư¬ơng
Phàm,
thánh như ¬sấm và như chớp).
Móc
đọng và sư ¬ơng rơi cho dù tên gọi khác nhau cũng đều
là hơi lạnh tự tìm lấy hình hài. Sấm và chớp cho dù tư¬ớng
hiện khác nhau nhưng vẫn là điện đang bùng nổ âm dương.
Lời
ca của Ikkyu và Tuệ Trung cũng mạnh như nước tuôn, nh¬ư
sấm chớp, đủ mạnh để ném cả thánh, phàm qua đôi bờ
sinh tử.
Ikkyu
(Nhất Hư¬u) có nghĩa là “Một thoáng nghỉ ngơi”, một
thoáng mà ông có thể tìm thấy bất kỳ lúc nào giữa phiền
não và bồ đề, phàm và thánh hữu lậu và vô lậu, vô minh
và giải thoát...
Từ
lối đi của Dục
Đến
con đường Vô dục
Một
thoáng nghỉ ngơi
Mư¬a
có rơi thì rơi
Và
gió lên mặc gió.
(Uroji
yori
muroji
e kaeru
hi
to yasumi
ame
furaba fure
kaze
fukaba fuke).
Trong
thoáng nghỉ ngơi đó, trái tim ông sáng ngời ánh trăng. Trái
tim và ánh trăng là một.
Trái
tim ơi.
Không
mây
Không
núi
Trăng
tìm bóng tối
Biết
tìm đâu nơi?
(Ima
wa hay
kokoro
ni kakaru
kumo
mo nashi
tsuki
no irubeki
yama
shi nakereba).
Nếu
như Ikkyu dùng ánh trăng chiếu diệu nguồn tâm thì Tuệ Trung
dùng tiếng vượn cô liêu nơi thâm xứ để thể hiện chiều
sâu của tâm:
Bất
yếu châu môn, bất yếu lâm
Đáo
đầu hà xứ bất an tâm
Nhân
gian tận kiến thiên sơn hiểu
Thùy
thính cô viên đề xứ thâm.
(Chẳng
đợi non xanh hoặc cửa vàng
Tâm
đâu cần xứ để bình an
Nhân
gian chỉ thấy ngàn non sáng
Ai
biết tầm sâu tiếng vư¬ợn vang).
Cõi
thơ của Tuệ Trung Th¬ượng Sĩ hơn một lần vang vọng tiếng
vư¬ợn kêu từ thâm xứ cô liêu nh¬ư thế. Trong một bài
thơ khác, Tuệ Trung từng viết:
Nhân
gian chỉ kiến thiên sơn tú
Thùy
thính viên đề thâm xứ thâm.
(Nhân
gian chỉ thấy ngàn non đẹp
Tiếng
vư¬ợn ai ngờ thâm xứ thâm).
Núi
lớn, núi sáng, núi đẹp... thì ai cũng thấy. Ai là người
từng nghe ra tiếng v¬ượn của tịch liêu hay tiếng vỗ của
một bàn tay?
Hay
có ai nhìn thấy cái nh¬ư tính, cái sono-mama của một giọt
sư¬ơng? Giọt s¬ương của Ikkyu:
Trên
lá sen hồ
Giọt
sư¬ơng phiêu du
Không
đổi sắc
Đó
là thực tư¬ớng
Đó
là chân như¬
(Hachisu-ba
no
nigori
ni somanu
tsuyu
no miwa
tada
sono ma ma ni
shinnyo
jissô).
Giọt
sư¬ơng trên lá sen hồ vẫn trong veo. Trong veo là như tính
của giọt sư¬ơng. Giọt s¬ương sẽ tan. Tan vào cái trong
veo của hư¬ không Giọt sương đang về với Nh¬ư.
Như
giọt sư¬ơng, người có về với Như? ./.
(Nguyệt
san Giác ngộ số 106, tháng 01-2005)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân