THỜI
GIAN và BẢN CHẤT CỦA HIỆN HỮU
Thích
Phước Lượng
1.
Thời gian và tâm lý cuộc sống
Thời
gian được hiểu là một yếu tố hết sức trừu tượng nhưng
lại hàm tàng một năng lực chi phối rất lớn đến đời
sống con người, quy định sinh hoạt của con ng¬ười vào
một khung trật tự được mặc nhiên chấp nhận. Theo truyền
thống tư¬ duy của người Ấn Độ cổ đại, từ thời kỳ
Rgvada (khoảng 1.500–1.000 năm trước Tây lịch) cho đến giai
đoạn Upinashads (Áo Nghĩa Thư¬) (khoảng 1.000–500 năm trước
Tây lịch) , yếu tố thời gian chiếm vị trí quan trọng, đặc
biệt là trong đời sống sinh hoạt tôn giáo và triết học.
Chúng ta viện dẫn một vài nhận thức liên hệ đến thời
gian để thấy được tầm quan trọng của nó như¬ thế nào
đối với cuộc sống con người. Rgveda khái quát hóa thời
gian vận hành trong một năm thành 12 tháng và 3 mùa với số
lượng 360 ngày(1). Thánh th¬ư Vedàngajyautisam của Vệ Đà
nói rằng “thánh th¬ư Vệ Đà được viết ra vì lợi ích
của việc tế lễ. Tế lễ được quy định phù hợp với
chuỗi thời gian. Vì vậy, đây là khoa học chỉ dẫn việc
sử dụng thời gian”(2). Thánh thư¬ Maitri Upanishad của Áo
Nghĩa Th¬ư cho rằng “Thực phẩm là nguồn tồn tại của
thế giới này, thời gian là nguồn của thực phẩm và mặt
trời là nguồn của thời gian. Từ thời gian, tất cả vạn
vật đi vào hiện h¬ữu, từ thời gian vạn vật thăng hoa
phát triển, trong thời gian vạn vật đi đến sự hoại diệt”(3).
Một nhận thức khác được đư¬a ra trong Thánh điển Mahàbhàrata
thì thời gian được xem như¬ là nguyên lý tối cao đồng
nhất với năng lực siêu nhiên của các vị thần: “Phạm
Thiên tạo nên sự Sống, thần Visnu bảo vệ sự sống và
thần Rudra, nghĩa là Thời gian thì hủy diệt sự sống”(4).
Như¬ vậy, thời gian ở đây lại được xem như¬ là vị
thần phá hủy sự sống. Từ những nhận thức trên đây,
chúng ta hiểu rằng quả thực yếu tố thời gian và sự sống
không thể không phụ thuộc nhau và nó trở nên rất quan trọng.
Nói
chung, khi thời gian được nhìn nhận như¬ là đối tượng
của cuộc sống, tức xem xét thời gian trên phương diện thực
nghiệm. Thời gian được thể hiện qua nhịp sống sinh học
của con người, qua sự vận hành của không gian vật lý (thái
dương hệ) và biến đổi của mọi hiện hữ¬u. Thời gian
còn là phương tiện giúp con người ấn định nhịp sống
sinh hoạt đa dạng của mình một cách thích hợp với không
gian và môi trường. Từ đó, thời gian được tâm lý chủ
quan phạm vi hóa thành những khoảng phân lập được quy ư¬ớc
như¬ là quá khứ, hiện tại và vị lai. Vì thời gian được
đặt định trong khuôn khổ và ý niệm này, nên mọi sinh hoạt
của con người nằm trong sự ràng buộc và bị chi phối bởi
nếp tư¬ duy và hành động thụ động. Trước lực bức ép
tâm lý gây nên bởi thời gian, tâm thức chẳng còn đủ “không
gian” để tạo ra và duy trì sự an trú thảnh thơi, an tịnh,
bình thản. Ta tư¬ duy vội vã, hành động vội vàng và thường
bị dao động (tâm trạng căng thẳng, lo âu và ngay cả đến
ý niệm về sự giới hạn của cuộc đời) là vì ta không
ý thức được quy trình vận hành rất tự nhiên của thế
giới hiện tượng, nên đã biến tâm ta thành một thế giới
hỗn độn mà ở đó con người dường như¬ đang trở thành
kẻ nô lệ của thời gian. Tâm thức, vì vậy, cũng luôn biến
động theo sự biến dị của hiện hữ¬u. Thời gian bấy giờ
trở thành một giá trị tâm lý của mọi hoạt động con người.
Từ¬ thực tế cuộc sống, Edward Hoagland có ý nghĩ hài hư¬ớc
rằng: Con người thị thành cố gắng mua thời gian như một
giá trị bất cứ khi nào họ có thể mua được. Trong khi đó,
con người thôn quê lại sẵn sàng giết chết thời gian, tuy
rằng trong tâm thức cả hai đều nuôi dưỡng ý niệm về
một đời sống tốt hơn ở ngày mai. Giá trị thời gian được
đánh đồng như¬ là giá trị vật chất mặc dù nó chỉ tồn
tại trong cấu trúc tâm lý duy nhất.
Thời
gian chính là dòng vận hành liên tục của thực tại khách
quan. Trên cơ sở đổi thay của thực tại khách quan ấy, tâm
lý con người thiết định nên ý niệm về thời gian theo thời
vị quá khứ, hiện tại và vị lai. Hay nói cách khác, trong
quy trình sinh diệt, diệt sinh của hiện hữ¬u, trong điều
kiện tương quan giữa cái có và cái không, giữa tính chất
mới và cũ, giữ¬a hành động đến và đi, mà ý niệm thời
gian đi vào tồn tại như¬ một hệ quả. Năng lực của sự
sống thì tiềm tàng bất tận, cho nên hiện tướng của sinh
diệt cũng khôn cùng, kéo theo dòng tâm thức biến động bất
tận. Hiện hữu thay đổi từ trạng thái này sang/đến trạng
thái khác, từ dạng thức này qua dạng thức khác.
Sự
phân chia ranh giới thời gian ấy được xây dựng qua mối
liên kết hỗ tương giữa kinh nghiệm lý tính và hiện tướng
sinh diệt khách quan. Nói cách khác, khái niệm thời gian ba
thời luôn phụ thuộc vào tính trạng cụ thể của hiện hữ¬u
mà ở đó tâm lý chủ quan hay t¬ư duy của con người trực
nghiệm trên hiện hữu ấy. Như vậy, thời gian phân lập mang
ý nghĩa tâm lý, trong khi đó thì sự biến dị hay sự vận
hành của sự hữ¬u lại có ý nghĩa khách quan. Ngài Long Thọ
dạy rằng: “Nhân nơi vật thể nên có thời, lìa vật thể
thì đâu có thời”(5). Nghĩa là, vì ý thức đến sự đổi
thay của hiện tượng giới, mà có ý thức liên hệ đến
thời gian hiện hữu và hiện hữ¬u phân lập. Thời gian được
xác lập trên thực tại của hiện hữ¬u có nghĩa là nó được
thiết lập qua mối tương hệ nhân quả.
Đồng
thời, nó cũng gián tiếp đề cạp đến bản chất vô thường
vì đã là hiện hữ¬u theo nhân quả thì không thể năm ngoài
vô thường. Trên cơ sở thời gian, ý niệm về sự bất tử
và đoạn diệt cũng được hình thành trong tâm lý con người.
Từ cái vô thường của cuộc đời và tư¬ tưởng, thân và
tâm, con người có tâm lý muốn thoát ly ra khỏi sự giới
hạn ấy, tìm kiếm một sự bất tử, vĩnh hằng không bị
giới hạn bởi thời gian. Đối tượng bất tử vĩnh hằng
muốn vư¬ơn đến vừa có thể phát xuất từ một tâm lý
nhận thức bi quan, vừa có thể là tích cực. Tâm lý bi quan
là nhận thức về một ngã thể thường hằng–ý niệm Thư¬ợng
đế. Tâm lý tích cực là nhận thức về sự giải thoát sinh
tử–ý niệm Niết bàn. Cả hai ý niệm này đều có tính
chất phi thời gian. Tuy nhiên, nội dung khác biệt ở chỗ là
Niết bàn không phải là một ngã thể mà là trạng thái giải
thoát. Ngã thể hay Thượng đế là nơi cho một tâm thức thụ
động, yếu đuối bám víu, trong khi Niết bàn là trạng thái
có thể đạt đến. Niết bàn là pháp vô vi, bản chất của
pháp vô vi là không sinh không diệt vì nó nằm ngoài tác động
của nhân quả, nghĩa là không có thời gian tính trong nó. Ở
trạng thái tâm chứng ngộ thì vư¬ợt ra ngoài khái niệm
thời gian. Con người giới hạn của một kiếp bây giờ là
con người của giải thoát. Khi tâm thức trở về với
thể tánh viên minh của nó thì khoảnh khắc thời gian đầu
tiên cũng là khoảnh khắc cuối cùng. Tại đây, không còn
hiện hữ¬u tâm lý vướng bận về một sự nỗ lực để
vươn đến một kết quả qua tâm trạng chờ đợi thời gian
nữ¬a. Sự giới hạn của thời gian trong một sát na tại
đó thực thể tồn tại được trực nhận cũng chính là độ
dài của khái niệm vô số kiếp. Quan điểm ấy được các
nhà tư¬ tưởng của Kinh Lượng bộ (Sautràntikas) chủ trương:
“Không có sự tách biệt giữa thực thể tồn tại, năng
lực hoạt dụng và thời gian xuất hiện của thực thể...
Chúng hiện hữu trong một khoảnh khắc và rồi đi vào hoại
diệt để tiếp tục tồn tại. Sự hiện hữ¬u và hoạt dụng
của chúng chỉ là một... Quá khứ và tương lai chỉ là những
danh xư¬ng”(6). Như¬ vậy, giữa cái giới hạn và cái vô
hạn chính là điểm quy tụ ngay trong sát na hiện tại; cái
lư¬u chuyển vô thường và cái bất tử, vĩnh hằng chỉ là
những niệm khởi gắn kết với hiện tướng sinh diệt trong
thời gian. Thời gian chỉ có mặt ngay khi nhận thức khởi
sự hoạt động trên tính trạng hiện tại của thực thể.
Thời gian không tồn tại trong quá khứ bởi vì nhận thức
chỉ nắm bắt được sự biến đổi của hiện hữ¬u ngay
sát na hiện tại. Thời lượng của một năm chính là ngày
qua ngày, tháng tiếp tháng. Vì vậy, thời gian của năm cũng
là thời gian của ngày mà không có ngắn có dài, có nhanh có
chậm. Thời gian ư¬ớc định theo tính trạng của hiện hữu
là thời gian cảm tính giả lập, chỉ hiện hữu bằng khái
niệm. Giống như¬ danh xư¬ng được gán cho những sự vật
khách quan trong thế giới tương quan đối đãi, nhằm để
định vị thể tính và hoạt dụng đặc thù của sự thể.
Một thực thể tồn tại nhờ vào sự tương tác bởi các
hạt nguyên tử của nó, nhưng thời gian thì tồn tại bởi
chính nó vì sát na không được xem là những thành phần kết
cấu của thời gian. Do vậy, khi nhìn sát na thời gian trong
ý nghĩa toàn bộ, thì nó không mang tính vô thường như¬ hiện
hữu, không bị giới hạn và biến dạng bởi những khái niệm
giả lập quá khứ, hiện tại và vị lai. Thời gian của đêm
qua, đêm nay hay đêm mai chỉ là một mà chẳng khác. Xuân –
Hạ – Thu – Đông đến và đi theo chu kỳ rất tự nhiên
của chúng trên một sát na thời gian biệt ly ý niệm và quy
ư¬ớc. Ý niệm về sự khởi đầu của hiện hữu thường
được gắn liền với kinh nghiệm tri giác qua sự sinh tồn
biến hoại của sự hữu ấy. Dư¬ới cái nhìn của tri thức
thường nghiệm thì sự vật có thời gian khởi đầu và kết
thúc. Những ý niệm này dần dần huân tập thành định kiến,
tập quán mà phân định thời gian, nhằm để thích ứng với
những biến đổi xung quanh cuộc sống. Cảm nhận có thời
gian của hoa nở, hoa tàn theo Xuân đến Xuân đi vì Xuân và
hoa ấy được biểu thị hay bị quy định bởi thời gian khái
niệm, khuôn khổ hóa, phạm vi hóa. Vì được quy định theo
cảm tính nên tâm thức mới cảm nhận được mùa Xuân qua
hình ảnh của hoa mai nở. Xuân là hình tượng hóa của thời
gian, hoa nở là biểu hiện tính trạng biến đổi của sự
vật. Cho nên thông qua hình ảnh hoa nở hoa tàn (hiện tượng)
mà tâm lý con người tri nhận ngày Tết và mùa Xuân (thời
gian) đến–đi. Còn mùa Xuân vượt trên phạm vi thời gian
khái niệm, tiết-thời thì Xuân ấy là Xuân miên trường,
thường tại giữa cái thường biến vô biên vô tận, vượt
qua phạm vi thời vị ngày và đêm, thời lượng 365 ngày...,
nằm ngoài cảm nhận tâm lý chủ quan quy kết vào sự vận
hành của hiện tượng giới. Thời gian phi ý niệm, khuôn khổ,
định kiếp tập quán chỉ có thể hiện hữ¬u và tồn tại
trong thế giới của thực nghiệm tâm linh, của “tuệ tri
như¬ thật” đối với hiện hữu.
2.
Thời gian và hiện hữu
Thời
gian không chỉ là đề tài bàn luận của nhà triết học,
mà còn là đối tượng quan trọng của nhà khảo cổ học
và vật lý học. Thời gian và thực tại hiện h¬ữu là những
đối tượng nghiên cứu trung tâm của triết học Đông-Tây
nói chung. Hay nói cách khác, nghiên cứu về thời gian là vấn
đề quan trọng của triết học bởi vì, ở một góc độ
nào đó, trên căn bản yếu tố thời gian, con người có thể
thấu triệt được bản chất của các pháp (hữu vi). Cả
hai đều là những tiền đề của nhau và được khảo sát
đồng thời mà không thể tách lập riêng biệt cái này ra
khỏi cái kia. Khi hiểu được thực tính của thời gian thì
quán triệt được thực tính của hiện hữu. Tư¬ duy con người
đã gắn kết thời gian với sự sống: sự tồn tại của
thời gian được nhìn nhận qua sự tồn tại và hoại diệt
của hiện hữu. “Thời gian là sự hiện hữu từ đó tôi
được tạo ra. Thời gian là dòng sông cuốn trôi tôi đi, nhưng
tôi là dòng sông; thời gian là ngọn lửa thiêu đốt tôi,
nhưng tôi là ngọn lửa ấy” (Jorge Lui Borges). Phạm vi tìm
hiểu vấn đề ở đây là khái niệm triết học của thời
gian liên hệ đến bản chất của tồn tại.
Triết
học Phật giáo đ¬ưa ra khái niệm thời gian như¬ là một
thực tại khoảnh khắc được gọi là sát na thời gian (Ksana–Instant),
và khái niệm về sự tồn tại/hiện hữu là tạm thời và
ngắn ngủi (instantaneous). Braj M. Sinha đánh giá rằng “Khái
niệm sát na liên hệ đến hai phương diện ý nghĩa: độ dài
thời gian trong một khoảnh khắc và khoảnh khắc không có
sự kéo dài (duration)”(7). Tất cả mọi thực tại đều nằm
trong dòng vận hành liên tục được thay thế bởi sát na thời
gian và tính trạng của thực thể tồn tại. Vấn đề về
sự tồn tại và thời gian luôn có sự liên hệ, ảnh h¬ởng
trực tiếp lẫn nhau mà không phải tồn tại độc lập. Cái
gọi là sự tồn tại có tính riêng biệt, độc lập chỉ
có thể quy cho khía cạnh ngôn ngữ ư¬ớc lệ thích ứng.
Tất cả mọi quan điểm về thời gian được gắn liền với
những giải thích triết học về tồn tại. Như¬ vậy,
phản ánh về thực thể đang thay đổi chư¬a bao giờ tách
biệt với nhận thức về thời gian. Trên phương diện bản
thể, một sự giải thích triết học rốt ráo về thời gian
như là khoảnh khắc, và sự tồn tại có tính nhất thời
(instantaneity) của hiện h¬ữu chỉ ra được tính cách thể
nhập hoàn toàn của thời gian vào trong tồn tại, đồng thời
khẳng định lập trường phủ nhận quan điểm cho rằng thực
thể duy trì được tính đồng nhất (tính năng và thể trạng)
của nó trong quá trình biến dịch và phủ nhận t¬ư tưởng
hữu ngã của sự vật. Vì vậy, hiện hữu không thể duy trì
tính đồng nhất về tính năng của nó trong hai khoảnh khắc
thời gian. Tính năng và hiện trạng của thực thể sau hoàn
toàn khác với tính trạng của thực thể trong sát na trước.
Ý
niệm về một trật tự thời gian chính là ý niệm về một
trật tự tư¬ơng quan nhân quả, biến dị vô thường của
hiện tượng giới mà hiện tướng cụ thể của chúng ta sinh-trụ-dị-diệt.
Chúng ta có thể hình dung một thực thể đang vận hành theo
thời gian đư¬a đến những thay đổi về phẩm chất
của nó, nhưng thời gian không thể định hình cho những biến
dị của thực thể trên nó, mà yếu tố định vị chính là
nhân-duyên-quả trùng trùng. Nói cách khác, thời gian không
phải là yếu tô xác lập sự vật như là quá khứ, hiện
tại và vị lai. Chính năng lực hoạt động của các pháp
hữu vi biểu hiện qua tướng trạng sinh, trụ, dị, diệt đã
xác lập thời vị khác nhau. Vì vậy, trong sát na hiện tại
đã bao gồm đủ cả quá khứ và vị lai. Không có sự vật
nào sinh ra mà không có tính trạng đang chết đi trong nó, và
không có sự thể nào lại có tính trạng tồn tại trong ngư¬ng
đọng. Nói khác, vô thường không gì khác hơn là sự thay
thế hoàn toàn một thực thể này bởi một thực thể khác
biến động liên tục; vô thường vi tế ngay trong sát na thời
gian cho đến một biểu hiện cụ thể và toàn bộ. Triết
gia Heracleitus nói: “Người ta không thể tắm hai lần trên
cùng một dòng sông” vì dòng nước luôn vận động. Plato
cũng chỉ ra cùng một nhận thức tương tự: “Tất cả mọi
sự thay đổi là một trạng thái đang chết đi”. Từ luận
thuyết vô thường và quan điểm nhân quả trùng trùng duyên
khởi, t¬ư tưởng triết học Phật giáo thường được nhìn
nhận như¬ là một hệ thống triết học của cái đang trở
thành. Điều đó muốn nói rằng mọi hiện tượng (các pháp
hữu vi) đang trong tình trạng vận động; biến hoại (không
có nghĩa là mất hẳn) để trở thành và trở thành để rồi
đi vào biến hoại. Nói rằng, thực tại khách quan đ¬ược
hình thành trong quá khứ, hiện hữu trong hiện tại và sẽ
biến hoại trong tương lai chỉ là khái niệm có tính quy chiếu,
đối đãi của tri thức thường nghiệm, giúp con người nhận
diện quy trình vận hành theo nguyên lý vô thường của muôn
vàn sai biệt. Tiến trình chuyển biến men thành rư¬ợu, hay
vị chua chuyển thành vị ngọt của cái xoài... là một quá
trình hoại diệt và sinh thành không có thời gian gián đoạn
hay ngư¬ng tụ riêng cho mỗi tính trạng trong tiến trình. Như¬
vậy, tính trạng của thực thể ngay tại điểm sát na hiện
hữ¬u cũng mang tính tương đối về mặt tồn tại. Trong sự
trôi chảy bất tận ấy, chúng ta không xác lập được ranh
giới trung gian cho cái gọi là quá khứ, hiện tại và vị
lai tại mỗi trạng thái biến thể của sự vật. Vì lẽ,
thời gian không tôn tại độc lập với quy trình vận hành
của hiện hữu, mà là một sự gắn kết bất khả phân lập.
Khái
niệm về thời gian toàn bộ đã phủ định ý niệm thời
gian được hình thành từ một loạt các điểm thời gian hay
sát na độc lập như là những điểm dừng cho một trạng
thái tồn tại. Bởi vì một sát na thời gian không có nghĩa
là một thành phần cấu trúc của thời gian mà chính là toàn
bộ thời gian của một tồn tại. Trong khuôn khổ có tính
khái niệm, giáo thuyết vô thường chỉ ra rằng không có một
thực thể nào có thể kéo dài sự tồn tại của chính nó
hơn một sát na. Điều này ngụ ý rằng sự hoại diệt của
một thực thể xảy ra ngay lập tức sau giây phút có mặt
và ngay trong sự tồn tại của chính nó. Quan điểm ấy chính
là lập tr¬ường khi Phật giáo chủ trương giáo lý vô thường.
Tại mỗi khoảnh khắc, thực thể được thay thế bởi tính
năng khác. Khoảnh khắc của thời gian và tính trạng của
hiện hữ¬u được kế thừa ngầm nói lên sự hoại diệt
của khoảnh khắc và tính trạng trước nó.
Hiện
h¬ữu và vô thường là hai khái niệm thoạt nghe có vẻ mâu
thuẫn nhau. Bởi vì đã là hiện hữu thì không thể vô thường
và ng¬ược lại. Những sát na của vô thường không
có nghĩa là đoạn diệt: trống rỗng, cái thực tại và sát
na của hiện hữ¬u không phải là trạng thái ng¬ưng đọng
hoàn toàn. Phật giáo thừa nhận sự tồn tại của hiện hữu,
nhưng tồn tại trong sự trôi chảy và điều đó muốn nói
lên bản chất tạm thời của hiện hữ¬u. Thay đổi là đặc
tính chung của mọi hiện tượng có tính tồn tại phụ thuộc
mà biểu hiện của nó là sự có mặt và hoại diệt (trong
ý nghĩa thay thế) của một thực thể. Nhưng, khái niệm thay
đổi hay biến dịch không có nghĩa là sự đoạn diệt hoàn
toàn mà ngụ ý một sự thay thế có tính nhân quả của thực
thể này bởi thực thể khác, tính trạng này bởi tính trạng
khác tại mỗi sát na thời gian không gián đoạn. Chẳng hạn
sự biến đổi từ nư¬ớc thành băng đá và ngư¬ợc lại,
dẫn theo tính trạng khác biệt hoàn toàn của chúng. Nhận
xét theo tri thức thường nghiệm, ta nói rằng tiến trình biến
dịch của thực thể trải qua một khoảng thời gian rất dài,
như¬ thế là muốn thừa nhận rằng thực thể đó có thể
kéo dài sự hiện hữ¬u của nó trong một khoảng thời gian
đứng yên và chờ một nguyên nhân cụ thể và trực tiếp
tác động cho sự hoại diệt của nó. Một ý niệm như¬ thế
sẽ mâu thuẫn với tính chất vô thường của hiện hữ¬u
trong từng sát na thời gian. Mặc dù sự vật ta đang đối
diện hay quan sát dường như¬ là đang tồn tại trong trạng
thái đứng yên, nhưng thực tế nó đã trải qua vô số khoảnh
khắc biến dịch và vô số tính trạng khác nhau của nó cũng
được thay thế. Ta có thể hình dung điều này qua sự phân
tích hình ảnh dòng thác đổ hay việc chiếu lại hình ảnh
trong phim. Tuy là cảnh hiện hành dường như¬ không đổi nhưng
thực tế có vô số hạt nư¬ớc nối kết nhau trong sự vận
hành của dòng thác và rất nhiều đoạn phim trôi qua trên
hình ảnh có vẻ đứng yên đó. Quán sát bằng phân tích,
ta nhận thấy rằng trái xoài đã biến dịch ngay trong từng
sát na thời gian hay có vô số sát na đã thay thế nhau và đồng
thời kéo theo một sự thay thế của nhiều tính trạng khác
nhau trong nó. Sát na trước và tính trạng trước của một
thực thể chỉ có giá trị về mặt tác dụng (nhân duyên)
mà không có giá trị về mặt hiện h¬ữu và bản chất trong
sát na hiện tại, vì Phật giáo thừa nhận hiện hữu chỉ
có giá trị trong sát na hiện tại duy nhất.
Luận
thuyết nhân quả ngầm chỉ cho giáo thuyết vô thường hay
tồn tại có tính chất tạm thời của hiện h¬ữu. Khi nhận
thức về thời gian, Phật giáo trình bày quan điểm của mình
thông qua giáo thuyết vô thường và tính chất vô thường
của sự vật được xây dựng trên căn bản năng lực tác
dụng của nhân duyên. Vì vậy, sự tương quan giữa yếu tố
nhân quả, vô thường và thời gian luôn là cơ sở nghiên cứu
triết học về bản chất của hiện tượng giới./.
Ghi
chú:
(1),
(2), (3) và (4) Maitreyee Rangnekar Despande, The Concept of Time in Vedic
Ritual: New Bharatiya Book Corporation.
New
Delhi. lndia: 2001, tr.1-3
(5)
HT Thích Thiện Siêu (dịch và tóm tắt), Trung luận. phẩm 19,
kệ 6, NXB
TP
HCM. 2001
(6)
Ananda K Coomaraswamy, Time and Eternity, Munshiram Manoharlal Publishers
Pvt. Ltd , New Delhi. 2001, tr. 51
(7)
Braj M. Smha, Time and Temporality in Samkhya – Yoga and Abhidharma Buddhism.
Munshiram Manoharlal Publlshers Pvt. Ltd. , New Delhi, 1983, tr 3
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân