PHẬT
TỬ TIN TƯỞNG GÌ?
Khantipàlo
- Thích Chơn Thiện dịch
Đây
là câu hỏi mà nhiều người gần đây khi đối mặt với
những lời dạy của Đức Phật thường đặt ra, và sau khi
đã quyết nghi, nhiều người tự nguyện tuyên bố mình là
đệ tử Đức Phật.
Tín
ngưỡng trong Phật giáo
Trước
hết cần phải hiểu ý nghĩa của từ tín ngưỡng (belief)
trong Phật pháp, tín ngưỡng bao hàm lòng tin (faith) hay đức
tin và cả hai từ này đối với tín đồ Thiên Chúa giáo đề
u mang ý nghĩa “tín điều” (creed) (gồm hết những gì gọi
là tín ngưỡng) và giáo điều (dogmas–những diễn đạt của
nhà thờ áp đặt lên mọi tín đồ thực thụ). Trong Phật
pháp không có tín điều và giáo điều. Người Phật tử tự
do đặt nghi vấn mọi điều Phật pháp. Quả vậy, Bậc Đạo
Sư¬ đã từng khích lệ họ làm nh¬ư thế. Không có gì ngăn
cấm người Phật tử đặt nhiều nghi vấn, không có lời
dạy nào bảo người Phật tử phải khép kín tâm trí mình
lại, và phải tin tưởng một cách mù quáng. Sở dĩ nh¬ư
vậy là vì lòng tin trong ý nghĩa của Phật giáo không mang
tính chất mù quáng mà bao gồm trí tuệ. Như¬ vậy, một người
được thu hút đến Phật pháp bởi vì anh ta có trí tuệ nào
đó để trực nhận một ít sự thật trong Phật pháp, trong
khi đó, do lòng tin, anh chấp nhận những sự thật của giáo
lý nh¬ư là những gì mà anh ta chư¬a xác chứng. Thực hành
Phật pháp, anh ta thấy rằng Phật pháp thực sự hữu hiệu,
thực tiễn và nh¬ư thế lòng tin của anh ta tăng trưởng lên.
Khi lòng tin tăng trưởng, anh có thể thực hành sâu xa hơn
và như thế anh chứng nghiệm nhiều hơn về sự thật. Do đó
lòng tin lại càng tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Nh¬ư vậy, thực
hành lòng tin và trí tuệ bổ túc cho nhau và làm cho nhau mạnh
mẽ lên. Trong trường hợp này, cũng như trong nhiều giáo lý
của đạo Phật, thật dễ hiểu tại sao Phật pháp được
biểu tượng bằng một bánh xe Pháp vì đây là biểu tượng
của một sự trưởng thành tích cực cho dẫn chứng trên.
Thực
hành và xác chứng lời Đức Phật dạy
Thực
hành và xác chứng lời Đức Phật dạy sẽ đưa đến kết
quả là người ta sẽ tự mình chứng nghiệm sự thật của
toàn bộ giáo lý Đức Phật trong chính cuộc đời này. Điều
này được thực hiện nhờ tinh cần thực hành. Đức Phật
đã báo đảm cho mọi người rằng họ có thể xác chứng
những lời dạy của Ngài khi Ngài tuyên bố rằng giáo lý
của Ngài là cái gì để “đến và thấy”, có nghĩa là
tìm hiểu cho chính mình thực hiện thử xem nó có hữu hiệu
không, điều ấy có thể thực hiện được, vì Đức Phật
không quan tâm đến lý luận (những thứ chỉ dẫn đư¬a con
người đi lạc hư¬ớng), mà quan tâm đến những phát hiện
và những lời dạy về con đường thực tiễn của tiến bộ
tâm thức, “con đường hướng nội" mà người trí tự xác
chứng cho mình.
Phật
pháp là phương pháp chứ không phải là học thuyết
Điểm
này đưa đến một sự phân biệt rất quan trọng khác giữa
giáo lý của Đức Phật và giáo lý của hết thảy các tôn
giáo khác. Các tôn giáo khác dạy những học thuyết, tín điều
và giáo lý không đ¬ưa ngay đến thực chứng (hay thực ra
không được giả thiết rằng sẽ được thực chứng) mà
phải được chấp nhận với lòng tin: Đức Phật dạy những
phương pháp người ta có thể áp
dụng
vào đời sống riêng của mỗi người và nhanh chóng thấy
được lợi ích của sự thực hành ở đây và bây giờ. Thực
vậy, toàn bộ giáo lý Phật giáo đã là một khối lượng
những phương pháp uyển chuyển thích hợp nhiều mặt cho từng
lúc, từng nơi khác nhau và quan trọng nhất là cho những căn
tánh khác nhau của con người. Ngoài việc định nghĩa đạo
Phật là những phương pháp hay những phương tiện thiện xảo,
thật chính xác khi nói rằng đạo Phật không có lời dạy
nào mà không:
a.
Xây dựng trên căn bản; hoặc
b.
Dẫn đến sự giác ngộ tối thượng như Đức Phật đã chứng
nghiệm.
“Xây
dựng trên căn bản" có nghĩa là phát khởi từ kinh nghiệm
chứng ngộ đã khiến Đức Gotama, vị ẩn sĩ khổ hạnh, trở
nên một Bậc Giác ngộ hay một Bậc Giác tỉnh (Đức Phật
ở đây là một tư¬ớc hiệu chứ không phải là một cái
tên). “Dẫn đến” nghĩa là tất cả các lời dạy của
Đức Phật đều nhằm mục đích là tất cả mọi người
thực hiện đều có thể đi đến chứng nghiệm cái đại
tuệ mà Đức Phật đã chứng đạt.
Ngôi
Tam bảo
Vậy
thì Phật tử đặt tin tưởng vào đâu? Họ tin vào ngôi Tam
bảo: Đức Phật, Pháp và Tăng (những đệ tử giác ngộ của
Đức Phật). Ở Thái Lan, khi đi đến một ngôi chùa Phật
để tụng đọc bằng tiếng Pa li cổ mà Đức Phật đã thuyết,
tụng đọc những đoạn văn xuôi, những câu kệ tôn kính
và tán thán ngôi Tam bảo, trong những dịp ấy, Phật tử tự
hiến mình để đi theo, để hiểu và chứng nhập nội tâm
ý nghĩa về Phật, Pháp và Tăng già(1) (Đức Phật, những
lời dạy của Ngài và các đệ tử của Ngài). Phật tử là
người nương tựa nơi ngôi Tam bảo hay đến để nhận sự
hướng dẫn của ngôi Tam bảo vì họ đã tìm thấy ở trong
đó những dấu hiệu của chân lý vô úy và tối thượng.
Tôn
kính những Bậc Đạo Sư.
Chúng
ta cần đề cập đến sự tôn kính đối với các bậc thầy
về tinh thần, những vị tu sĩ hoặc c¬ư sĩ trong giới Phật
giáo. Những Bậc Đạo Sư¬ ấy là những “Thiện hữu”
cho chúng ta những lời khuyên quý giá, thường dựa vào những
chứng đắc mà quý vị ấy đã đạt được một cách khó
khăn, chỉ cho chúng ta con đường chân chính đ¬ưa đến giải
thoát. Hình thức cung kính những Bậc Đạo Sư¬ như thế (những
vị đối với những đệ tử trong hiện tại, tiêu biểu cho
Đức Phật) và những tranh tượng của chính Bậc Giác ngộ,
mà nếu thiếu đức tính khiêm cung ấy thì người ta chỉ
có rất ít hoặc không có tiến bộ tâm thức nào. Chúng ta
thấu hiểu rõ rằng, trong tâm lý học Phật giáo, chẳng nh¬ững
tâm ảnh hưởng vào thân, mà những hành động của thân cũng
ảnh hưởng vào tâm, cả hai thực sự phụ thuộc nhau. Từ
đó có sự cẩn trọng trong lễ lạy, sự thân thiết khi thực
hiện và thái độ niệm t¬ưởng cần phải kèm theo. Người
ta thường lễ lạy ba lạy liên tục tỏ lòng tôn kính Bậc
Giác ngộ, tôn kính Con đường đi đến Giác ngộ của Ngài
và tôn kính những vị nhờ hành trì theo Con đường ấy mà
đạt được Giải thoát, khỏi những ô nhiễm của tâm và
đạt được Trí tuệ gọi là Giác ngộ.
Việc
thực hành Phật pháp có hiệu quả, đặc biệt về những
phần Thiền định và Trí tuệ, điều này, tùy thuộc rất
nhiều vào việc ta có được một người hướng dẫn mà chắc
chắn có kinh nghiệm nhiều hơn chúng ta hay không. Mặc dù có
một vài loại thiền định của Phật giáo mà việc thực
hiện không cần có thầy chỉ dẫn, nhưng thông thường thì
sự có mặt của thầy vẫn đem lại cho chúng ta nhiều lợi
lạc hơn, nếu đây là một vị thiện xảo. Những vị thầy
ấy rất đáng kính vì nếu có đủ cả kiến thức và trí
tuệ thì các vị thầy ấy giúp ích rất nhiều cho những ai
học và thực hành giáo pháp.
Những
lễ dâng trong một ngôi chùa
Trong
vấn đề tôn kính, hắn cũng cần phải biết ý nghĩa của
nhiều những lễ dâng lên Đức Phật, vì Phật giáo thực
sự không chứa đựng cái gì vô nghĩa cả, nếu có sự thực
hành vô nghĩa nào thì thực ra đó không phải là giáo lý của
Đức Phật.
Có
ba lễ dâng thông dụng: h¬ương, hoa, và đèn, cho chúng ta dịp
thực hiện một ít thiền quán riêng lẻ trong khi chúng ta dâng
lễ. Khi thắp nến hay đèn, chúng ta tác niệm: “Ôi mong sao
con được giác ngộ”. Những cây hương được thắp từ
ánh lửa nến (hay đèn) ấy (thường là 3 cây hương) với
tác niệm “để thành tựu sự giác ngộ ấy”, trong khi mùi
hương dịu tỏa khắp m¬ời phương, xin nguyện cho mùi hương
đức hạnh của con rải đến khắp cả chúng sinh. Khi dâng
hoa với hai bàn tay chắp lại, ta suy nghĩ: “Cuộc đời này
thì ngắn ngủi, cho dù những bông hoa này, ngày hôm nay tươi
đẹp ngày mai sẽ úa tàn và vẩn mùi. Cái mà con gọi đây
là thân xác thì cũng như thế mà thôi”. Hiểu được điều
ấy trong cuộc sống trôi chảy và vô thường này, người
Phật tử nỗ lực duy trì và nâng cao tiêu chuẩn giới đức
của mình và bước thêm một bước hướng về Giác ngộ.
Thỉnh
thoảng Phật tử cũng dâng cúng thực phẩm và nước uống
lên hình tượng của Bậc Đạo S¬ư, dĩ nhiên họ không nghĩ
rằng Ngài sẽ dùng, mà chính họ, bằng thái độ sùng đạo,
họ chỉ dùng thực phẩm khi nào một ít của phần thực phẩm
tốt nhất được dâng cúng Đức Phật trước tiên. Đức
Phật là tối thượng của loài người, Ngài xứng đáng với
những dâng cúng tốt nhất, phần hơn nữa, việc tu tập của
người Phật tử gồm trong sự chia sẻ những thứ tốt lành
cho người khác.
Ba
lễ vật thông thường đôi khi còn được nối kết trực
tiếp với ngôi Tam bảo: những bông hoa, đặc biệt là hoa
sen, là những biểu tượng về Đức Phật. Vì hoa sen mọc
lên từ bùn mà không uế nhiễm. Ngay cả một giọt nước
cũng không đọng lại trên lá sen. Tương tự như thế, Đức
Phật là Bậc Đạo S¬ư sống giữa thế giới rối rắm của
nhục dục mà Ngài vượt lên khỏi nhục dục. Ngài ở trong
thế giới này nhưng ngay cả một ham muốn nhỏ nhặt nhất
cũng không ảnh hưởng đến tâm trí Ngài. Đây là biểu tượng
của hoa sen. Những bông hoa đẹp khác nhắc nhờ tín đồ về
những đức tính sáng người và tốt đẹp của Đức Phật.
Ánh sáng được cúng dường trong trường hợp này là biểu
tượng cho Giáo pháp luôn thắp sáng những vùng tối tăm của
tâm thức và đem giác ngộ thay thế vô minh. Tăng già (của
Bậc Giác ngộ) được biểu tượng bằng hương, bởi vì sự
thành tựu giới đức của các vị ấy tỏa rộng mọi hành
động của thân, khẩu, ý.
Sau
khi đã nói về ý nghĩa của lòng tôn kính của người Phật
tử, bây giờ chúng ta diễn tả rõ ý nghĩa của từng ngôi
báu. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh trước rằng ba ngôi báu
liên hệ nhau không thể tách rời ra được về mặt tu tập
và chứng đắc. Vậy nên không thể có Pháp bảo và Tăng bảo
nếu như không có một Đức Phật xuất hiện trước ở đời.
Sự tương tục của Pháp tùy thuộc vào Tăng, nhân tố truyền
bá Pháp. Tăng thì tương tục nếu vẫn còn có những vị tu
tập và chứng đắc Pháp. Không thể nói rõ rằng Phật bảo
tùy thuộc Pháp bảo như thế nào. Sở dĩ như thế là vì chư¬
Phật có xuất hiện ở đời hay không xuất hiện ở đời,
Pháp bảo vẫn là mãi mãi chân thật. Thông thường, Pháp bảo
được diễn tả là “phi thời gian”, không có một lúc nào
là lần đầu tiên Pháp trở nên thật (như trong trường hợp
các tôn giáo mắc phải) và cũng không có một lúc nào trong
tương lai Pháp không còn là thật nữa. Khi nào còn có đời
sống hữu tình thì Giáo pháp này hẳn cần thiết chứa đựng
sự thật liên quan đến kinh nghiệm về cuộc đời (và không
dính dáng tới những lý thuyết hay giáo điều).
Quả
thực rằng Pháp có thể có lúc bị tạm thời quên đi trong
những khoảng thời gian cách quãng giữa những chứng đắc,
nhưng ngay cả khi bị quên lãng, Pháp vẫn còn là thật và
chờ đợi được phát hiện. Người đã phát hiện ra tuệ
giác cổ x¬ưa, với tính viên mãn và sáng sủa của nó được
gọi là một vị Phật, một chứng đắc tâm linh vượt lên
tất cả mọi chứng đắc tâm linh. Nh¬ư vậy quá dễ hiểu
lời dạy của những hiền triết Phật giáo về sau này, những
người đã nhân cách hóa tinh hoa của Pháp như là sự
toàn hảo của trí tuệ mà gọi Pháp là Mẹ của ch¬ư Phật./.
Ghi
chú:
(1)
Trong Phật giáo, không có việc “thờ thần tượng”. Hình
tượng Đức Phật trong các ngôi chùa gợi cho các Phật tử
một số đức tính của Bậc Đạo S¬ư và Giáo pháp; hình
tượng ấy làm cho họ tư¬ởng niệm đến những đức tính
như thế, và do đó phát triển chúng trong chính họ. Hình tượng
Đức Phật cũng hỗ trợ rất nhiều trong thiền định và
có thể được sử dụng để làm an tịnh tâm vào lúc
chết.
Lại
nữa, không có sự cầu xin trong các tu viện Phật giáo. Người
ta không cầu xin một Bậc Đạo Sư¬ đã đạt cứu cánh Niết
bàn hơn 2.500 năm rồi; người ta kính ngưỡng và tôn quý Ngài.
Sự cầu xin phư¬ớc lạc cho người ta xa lạ đối với t¬ư
t¬ởng Phật giáo, tư¬ t¬ởng Phật giáo vẫn nhằm thực
hiện vô ngã.
(Văn
hóa Phật giáo, số 1, tháng 02-2005)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2005
Down
Load " Word Document" (WinZip File 258 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân