PHẬT
GIÁO THẾ KỶ 21
Tham
luận của Hòa thượng Ching Hsin đọc trong Hội Nghị
Nghiên
Cứu Học Thuật Phật Giáo Quốc Tế lần thứ 8 năm 1996 tại
Ðài Loan
Thượng
Tọa Thích Viên Lý dịch
Lời
mở đầu: Lịch sử nhân loại, bắt đầu từ thời săn bắn
tiến đến thời đại tân tiến ngày nay, với biết bao nỗ
lực của các nhà kỹ sư chuyên nghiệp và các khoa học gia
đã góp phần nâng cao mức sống con người kể từ hơn 150
năm qua. Những phát minh khoa học cũng đồng thời nâng cao
kỹ thuật quân sự vì mọi quốc gia đã không ngừng tân tiến
hóa loại vũ khí quốc phòng của học. Và do vậy, nhân loại
đang trực diện với nhiều nguy cơ khốc liệt.
Các
phát minh khoa học cũng đồng lúc ấy mang đến rất nhiều
ô nhiễm và đang tàn phá môi sinh.
Sự
tàn phá môi sinh như vậy đã thật sự gây nguy hại cho sức
khỏe của hàng triệu người và đã đưa đến những sự
tranh đua dữ dội để sinh tồn, đã khiến cho xã hội văn
minh ngày nay mắc phải rất nhiều căn bệnh tâm lý. Những
vấn nạn như vậu, nếu không sớm được giải quyết sẽ
gia tăng con số trên bảng tử vong, gióng tiếng chuông cáo
phó cho toàn thể nhân loại và để lại cho con cháu chúng
ta không gì khác hơn là những thổ ngơi tàn hư hoại.
Không
giải quyết được những vấn nạn của thời đại cũng có
nghĩa là chúng ta sẽ phải đối phó với nhiều biến chứng
phức tạp - những vấn nạn mới lại chồng chất lên những
vấn nạn mới khác nữa. Và điều này sẽ mang đến một
hậu quả tượng hình của khổ đau và thảm họa. Trong kinh
Di Giáo, A Nan Luật Ðà Tôn Giải nói: "Ðức Phật thuyết giảng
Khổ Ðế là một chân lý khổ đau của đời sống không thể
tịnh lạc." Phát biểu này đã hoàn toàn chân xác. Hơn nữa,
kinh Pháp Hoa đã dạy: "Ba cõi không an, chẳng khác nào căn
nhà lửa đầy đăng cay khổ hoạn. Thật đáng kinh khiết."
Sự
kiện khoa học đã cải thiện nhiều vấn nạn không thể giải
quyết được trước kia bằng sức mạnh con người, đã khiến
nhiều kẻ ngưỡng vọng khoa vọng kỹ thuật như một đấng
Thượng Ðế toàn năng. Bởi vì các phát minh khoa học đã
nâng cao lạc thú vật chất, nên rất nhiều người đã mù
quán chạy theo lạc thú.
Chúng
ta đã đánh mất chính mình trong nền văn minh khoa học và
vật chất ấy.
Phật
nhãn quán sát thấy chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi như kẻ
bần cùng thiếu phước, bước vào đường hiểm sanh tử,
đắm chìm nơi năm món dục lạc và đầy dẫy khổ đâu cay
đắng. Như con trâu yêu mến chiếc đuôi của nó và dễ dãi
với tham đắm nên không còn thấy chi khác nữa."
Là
những đệ tử của Ðức Phật, chúng ta cần thừa tiếp tâm
đại từ bi của đấng từ phụ để gánh vác sứ mệnh hoằng
pháp lợi sanh. Những lời dậy sââu sắc vi diệu của ngài
sẽ hướng dẫn và chỉ đạo nhân loại bước vào ngưỡng
cửa thế kỷ thứ 21: một thế kỷ đuọc thấm nhuần phúc
lành thanh tịnh hầu giảm thiểu được các họa mang đến
bởi khoa học và kỹ thuật.
Khi
lấy đề tài "Dẫn đạo nhân loại trong Thế kỷ 21" làm chủ
đề cho cuộc hội nghị học thuật này, chúng ta cần phải
dự đoán thế giới trong thế kỷ 21 sẽ như thế nào, hình
thái xã hội lúc đó sẽ ảnh hưởng tư tưởng và quan điểm
của chúng ta ra sao? Tuy danh xưng "thế kỷ 21" không giống "thế
kỷ 20" nhưng sự tiến hóa của xã hội nhân loại luôn mang
tính chất liên tục. Quá trình tiến hóa vẫn luôn dựa trên
những nền tảng hiện hữu. Tương lai không thể tách chia
xa hẳn quá khứ và hiện tại được. Ðiều này đã cho phép
chúng ta dự đoán thế giới tương lai từ những sinh động
xã hội hiện thời. Những gì chúng ta mục kích trước mắt
là một tối thượng thoải mái về vật chất cho một số
người và nỗi niềm bi ai thống khổ cho nhiều người khác.
Và nguyên nhân của các khổ nạn thời đại trên đây rất
đáng cho chúng ta lưu tâm.
Thế
kỷ 21 là thời đại cách mạng điện toán: Quả thật hợp
thời trang để người ta nói rằng: "Không biết điện toán,
không làm sao tiến vào thế giới ngày mai." Ðiều này phản
ánh thế kỷ 21 là thời đại cách mạng viễn thông điện
toán. Kỹ thuật điện toán sẽ thống lãnh tương lai nhân
loại. máy điện toán từ cá nhân giao dịch với cá nhân;
vượt đến hình thức mạng lưới toàn cầu, được sử dụng
trong hầu hết mọi lãnh vực, phục vụ cho các cơ quan chính
phủ, giới xí nghiệp, gia đình v.v... để nâng cao hiệu năng
và trách vụ công việc.
Chùa
Quang Ðức (ở Ðài Loan) từ năm 1982 đã bắt đầu sử dụng
điện toán để giải quyết sổ sách cho công trình kiến thiết
xây cất, để quản lý sổ sách kế toán một cách chính xác
và tiện lợi hơn; đồng thời tiết kiệm được rất nhiều
nhân lực, khiến tôi cảm giác sâu xa rằng sự phát triển
điện toán đích thực đã tạo được phúc lợi cho nhân loại.
Ðiện
toán ngày nay không những phân biệt được chữ viết bằng
tay mà còn có thể phiên dịch nội dung thành nhiều ngôn ngữ
khác nhau.
Các
khoa học gia ngành điện toán đã lạc quan dự đoán rằng
trong tương lai máy điện toán sẽ trực tiếp nối thẳng vào
não bộ của con người và mọi suy nghĩ trong đầu sẽ được
máy này thay thế giải quyết hoàn toàn.
Sự
việc nếu đến như thế, có lẽ mộng tưởng sẽ trở thành
sự thật.
Năm
1946, Lục Quân Hoa Kỳ vì muốn tính đường cự li đại bác
bắn đi, đã ủy thác chế tạo bộ máy điện toán đầu tiên
trên thế giới. Chiếc máy ấy phải dùng 18 ngàn ống chân
không trọng lượng đến 30 tấn. Hiện nay chỉ cần một máy
điện toán bút ký có màn ảnh đơn giản và chỉ nhỏ bằng
một cuốn sách cũng có hiệu năng mạnh hơn rồi.Vả lại
máy điện toán bút ký càng ngày càng được thu nhỏ gọn
hơn, công năng gia tăng nhiều hơn. Phương thức sử dụng máy
điện toán ngày càng phổ cập đến nỗi các quốc gia tân
tiến không thể có đời sống sung mãn xa hoa nếu tách rời
máy điện toán vi tính. Mặt khác, vấn đề phạm pháp điện
toán (computer crime) lại trở thành một vấn nạn mới của
xã hội mà chưa từng xảy ra trong quá khứ.
Ngày
nay, chúng ta đã từng thấy hiệu năng chính xác của các loại
máy điện toán hướng dẫn phi đạn để bắn trúng mục tiêu
trong cuộc chiến vùng Vịnh giữa Hoa Kỳ và Iraq năm 1990. Do
vậy, máy điện toán có thể mang đến phúc lợi cho nhân loại
hay hủy diệt nhân sinh. Tuy nhiên, máy móc vẫn tùy thuộc vào
sự sai khiến của con ngưòi: sử dụng điện toán tạo phúc
lợi nhân loại là do lòng ngưòi; thao túng điện toán để
hủy diệt nhân loại cũng do lòng người. Do đó, để phòng
ngừa sự lạm dụng loại kỹ thuật tân tiến như vậy, trước
hết, ta cần bắt đầu chỉnh đốn tâm thức con người. Và
quan trọng hơn cả, là hãy áp dụng các lời dạy của Ðức
Phật để hướng dẫn con ngưòi tiến bước trên chánh đạo.
Dùng
cạnh Tranh Kinh Tế Thay Thế Ðấu Tranh Vũ Lực Trong quá khứ,
để chế ngự đối phương, các quốc gia đã dùng đến vũ
lực quân sự. Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai đã gây tử
thương cho hàng triệu sinh mạng nên những lãnh tụ của các
quốc gia Tây phương đã ý thức được rằng việc áp dụng
vũ khí xâm lược để giải quyết phân tranh giữa hai nước
là việc lưỡng bại câu thương, nhất là sau khi có càng nhiều
quốc gia chế tạo vũ khí hạt nhân, khiến cho các cường
quốc cũng không dám mạo hiểm phát động chiến tranh nguyên
tử. Vì phải tránh việc song phương cùng bị tận diệt, thế
là họ phải ngồi lại đàm phán với nhau thay vì chiến tranh.
Sau này, lại dùng sách lược cạnh tranh kinh tế thay cho đấu
tranh võ trang, mong rằng kinh tế phát triển sẽ nâng cao tiêu
chuẩn đời sống quốc dân, và dùng mãi lực kinh tế chinh
phục nước khác. Hiện nay có một số quốc gia tuy không bang
giao với nhau nhưng có giao lưu kinh tế mậu dịch, hoặc sau
khi đoạn giao vẫn tiếp tục duy trì giao thương. Trên bình
diện khác, điều đó chứng minh rằng cán cân kinh tế mậu
dịch nặng hơn mặt bàn chính trị.
Nhật
Bản trong Thế Chiến II do thiếu thốn vật chất, lực lượng
kinh tế yếu kém mà dẫn đến chiến bại.
Sau
khi phát giác không thể ỷ vào vũ lực và nhận thức lục
lượng kinh tế trọng yếu hơn, nên đã chuyển sanh tích cực
phát triển kinh tế.
Trải
qua mấy mươi năm cố gắng, hiện tại đã trở nên một cường
quốc về kinh tế. Sức mạnh của kinh tế của Nhật đã lan
khắp các nước trên thế giới, thậm chí ảnh hưởng đến
kinh tế toàn cầu.
Ðây
là một sự thật minh chứng về sách lược cạnh tranh kinh
tế thay vì đấu tranh vũ lực.
Loại
chạy đua kinh tế này đã ảnh hưởng làm cho những quốc
gia lạ c hậu phát triển từ mức chậm tiến lần lượt chuyển
biến thành các quốc gia trên đà phát triển. Có thể dự
đoán, thế giới tương lai sẽ là thời đại chiến kinh tế.
Chiến tranh kinh tế đối với sự xung kích nhân loại có lẽ
so với phương hại do chiến tranh vũ khí trước kia càng lớn
hơn. Mục đích của sự phát triển kinh tế là muốn nâng
cao mức hưởng thụ vật chất sinh hoạt, nhưng vì dục vọng
con người vô giới hạn nên nhân loại đối với nhu cầu
vật chất vĩnh viễn không thỏa mãn, vì thế, người tuy có
đời sống vật chất phong phú mà sinh hoạt tinh thần chẳng
những trống trơn, còn ẩn đầy đau khổ Ở trong hoàn cảnh
đua tranh kinh tế, rất nhiều người vì đeo đuổi theo tài
sắc danh lợi mà lạc mất chính mình. Tương lai rất có thể
càng có nhiều người cho rằng chỉ cần có tiền thì mọi
vấn đề có thể giải quyết, nguyện vọng nào cũng đều
có thể đạt thành, thế là quan niệm sai lầm "kim tiền vạn
năng và cấp công cộng lợi" sẽ càng in sâu vào trí não mà
tạo nên càng nhiều vấn nạn xã hội. Ðối với sự tham
đắm vào chủ nghĩa hiện thực khiến con người lạc mất
ý nghĩa nhân sinh, nên dùng những giáo nghĩa Phật giáo như
vô thường, vô ngã, tịnh hóa tâm linh để tái định một
cách chính đáng về giá trị nhân sinh. Sau khi đầu não tập
đoàn cộng sản thế giới Liên Xô giải thể, các nước Cộng
Sản Âu Châu thay đổi hẳn bộ mặt. Trên thế giới, những
quốc gia còn bám theo chủ nghĩa Cộng Sản sót lại không bao
nhiêu, đã bị ép buộc áp dụng chánh sách tự do khai phóng
có giới hạn. Ðây chính là ý vị làn sóng tự do dân chủ
đã quét ngang qua toàn thế giới. Loại làn sóng dân chủ này
khi càng ập đến càng dâng cao.
Nhưng
con người vốn ích kỷ do tham dục thúc đẩy, đều chỉ nghĩ
đến quyền lợi riêng tư mà không nghĩ đến lợi ích chỉnh
thể của quốc gia xã hội. Thế là, vì lợi ích riêng hoặc
vì một thiểu số người mà đã hành động một cách không
tiếc thương, phá hoại xã hội đại chúng và quốc gia cho
đến cả thế giới nhân loại. Con người hiện tại khôi
hài ở chỗ tất cả đều muốn quét sạch rác rến nhà mình
nhưng lại không cho phép nhà bên cạnh thiết lập sân đổ
rác, đắp lò đốt rác. Mọi người đều mong được cung
cấp điện đầy đủ nhưng lại không cho phép xây cất xưởng
phát điện gần nhà mình. Ðây là hiện tượng thường thấy
trong xã hội các quốc gia dân chủ.
Ở
trong xã hội dân chủ mở ngỏ, mọi người muốn tự do, tranh
dành tiếng tăm và đều có lề lối tư duy và chủ trương
khác nhau, tạo nên tư tưởng hỗn loạn. Người người không
tuân thủ pháp luật, thế là tạo nên hiện tượng thoát ly
trật tự xã hội. Loại hiện tượng này trong tương lai vẫn
còn tiếp tục, thậm chí sẽ còn thất nhân tâm, mất nhân
tính. Mỹ quốc là đầu rồng của mặt trận tự do dân chủ,
nhưng căn cứ vào báo chí, tôn giáo, mức tội phạm ở Mỹ
hiện nay gia tăng đến con số 10 triệu người. Ðiều này
đủ chứng minh sức quản chế của chính phủ tại các quốc
gia tự do dân chủ đối với công dân của họ càng ngày càng
yếu ớt. Hút hít các loại thuốc có chất ma túy, tỷ lệ
các loại tội phạm tăng gia, thanh thiếu niên phạm pháp càng
nhỏ tuổi hơn v.v... tuy ngày càng thêm nghiêm trọng nhưng chính
quyền thúc thủ vô phương sách. Dưới tình trạng này, chỉ
có dựa vào lực lượng Phật giáo mới có thể tái kiến
lập trật tự xã hội. Chúng ta nên hoằng dương Bát chánh
Ðạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định để dẫn đạo
nhân loại bước hướng đến con đường nhân sinh một cách
chính xác.
Vấn
Ðề Cách Biệt Giàu Nghèo Hiện tại, nhờ thụ hưởng ích
lợi từ khoa học, kỹ thuật và làm việc chăm chỉ, những
người ở quốc gia mở mang tiên tiến được hưởng đời
sống vật chất sung túc thỏa mãn. Nhưng trên địa cầu vẫn
còn hơn 2 tỷ người sinh sống trong tình trạng dơ bẩn không
được bảo vệ sức khỏe trong điều kiện có thuốc men chữa
trị thích đáng, sống cuộc sống khỏe mạnh.
Ðồng
ý là do khoa kỹ phát triển, tổng sản lượng lương thực
được nâng cao; nhưng đối với các nước nghèo chưa kỹ
nghệ hóa, mức cung cấp lương thực cho cư dân lại tùy thuộc
những yếu tố như hạn hán, chiến tranh và các thiên tai khác
quyết định. Hiện nay, có khoảng 800 triệu dân số tại những
quốc gia lạc hậu đang lâm vào tình trạng thiếu dinh dưỡng.Trong
tổng số thiếu dinh dưỡng đó, đến 2/3 là giới trẻ em.
Những nạn nhân thiếu dinh dưỡng khác, thân thể họ hư nhược,
dễ sanh bệnh tật, tuổi thọ ngắn ngủi. Căn cứ vào thống
kê, năm 1992 ở Phi Châu trên 40 triệu người bị đói khổ;
gần một nửa nhân số Nam Phi đang gặp phải nạn thiếu lương
thực trầm trọng. Không ít người đã vì thiếu ăn mà chết,
trong số ấy thiếu nhi chiếm đa số.
Trái
lại, trên địa cầu này, ước độ một tỷ người cư trú
ở các quốc gia tiên tiến, hằng ngày hưởng thụ thặng dư
vật chất, lãng phí quá nhiều năng lượng, khiến tài nguyên
trên địa cầu khô cạn nhanh thêm, đe dọa nghiêm trọng sự
sinh tồn của nhân loại đang nằm trong trạng thái hai cực
đoan của sự cách biệt giàu nghèo. Hiện tại tuy rằng văn
minh vật chất phồn thịnh, nhưng cũng chỉ có khoảng 1/5 nhân
khẩu trên địa cầu thụ hưởng được cuộc sống vật chất
ưu đãi. Mặc dầu đây là việc hết sức bất công bằng,
nhưng thế giới tương lai là thời đại chạy đua cạnh tranh
khoa học kỹ thuật kịch liệt; và bởi vì những nước nghèo
khổ lạc hậu không có năng lực kinh tế để phát triển
khoa kỹ, đã tạo nên cự ly cách biệt với các quốc gia tiên
tiến càng ngày càng xa.
Vì
thế, sau khi tiến vào thế kỷ 21, cách biệt giàu nghèo giữa
nhân loại không những không sao giải quyết mà còn có thể
sẽ càng nghiêm trọng hơn.
Phá
Hoại Sanh Thái Tự Nhiên: Những quốc gia tiên tiến trên địa
cầu đang gấp rút phát triển công nghiệp.Cùng lúc với sự
phồn vinh kinh tế, sự phá hoại sanh thái thiên nhiên đồng
thời cũng nhanh chóng không kém. Xe hơi thải khói, chất độc
phế thải từ nhiên liệu hóa học, khí ga của máy lạnh thải
hơi, v.v... những hơi thải hóa học này tạo nên sự phá hoại
đại tầng khí quyển, đã gây ô nhiễm nghiêm trọng trên
mặt địa cầu và khiến cho khí hậu hỗn loạn.
Mùa
hè năm nay, có rất nhiều khu vực trên địa cầu vì nhiệt
độ khí ấm quá cao đã gây nên nóng bức làm chết khá nhiều
nguời. Căn cứ năm nay (1995) báo ngày 13 tháng 9 đăng tin: "Báo
cáo của Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới, hiện nay diện tích
lỗ hổng trên tầng dưỡng khí ozone ở Nam Cự đã nới rộng
đến 10 triệu cây số vuông, lớn bằng cả Âu Châu". Tổ
chức này cảnh cáo rằng: Nếu lỗ hổng tần dưỡng khí ozone
rách lớn không ngừng, sự khúc xạ của tia ngoại tuyến liên
tục duy trì ở mức cao thì tỷ lệ mắc bệnh ung thư của
nhân loại và động vật sẽ còn tăng vọt thêm nhiều.
Hậu
quả tai hại khác của sự kiện nói trên làm ảnh hưởng
mức sanh sản của nông-gia súc giảm thiểu, sản lượng lương
thực toàn cầu thiếu hụt nghiêm trọng. Ðó là những yếu
tố đe doạ sự sinh tồn của nhân loại.
Loại
hoàn cảnh đời sống đang nguy hiểm hóa trên địa cầu này,
trừ phi đình chỉ việc phát triển công nghiệp hiện đại,
hoa kỹ hóa; hoặc đối với nguồn ô nhiễm hóa công nghiệp
phải có sách lược đối phó, nếu không, môi sinh trên địa
cầu sẽ càng lúc không thích hợp cho nhân loại cư trú. Vì
thế, chúng ta nên thức tỉnh và thận trọng hỏi lại: "Khoa
học văn minh mang đến cho nhân loại những gì?".
Nhân
loại vì truy cầu hưởng thụ vật chất mà phát triển khoa
kỹ, khoa kỹ văn minh tuy hữu ích cho nhân loại không ít nhưng
ngược lại cũng sinh ra hậu quả trầm trọng. Nhân loại không
thể vì vậy mà quay lại phục hồi cuộc sống thời đại
nguyên thủy, tuy nhiên vì sự sanh tồn chung của nhân loại,
mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ hoàn cảnh địa
cầu.
Không
gian địa cầu nhờ văn minh khoa học nên có được sự thông
tin hữu hiệu truyền theo tần sóng, và nhờ vào máy móc điện
toán tối tân mà thu hẹp lại. Gần đây thịnh hành danh từ
"ngôi làng toàn cầu", địa cầu rộng lớn đã biến thành
một thôn làng. Người sinh tồn trên trái đất khắng khít
và tương quan nhau về lợi ích cũng như nguy hại, và cùng
nhau được mất; vì thế, nên dùng nhân duyên quán tương y
tương tồn của Phật giáo, hỗ trợ hợp tác nhau, cùng nhau
bảo vệ sanh thái thiên nhiên, phục hồi trạng thái quân bình
của hoàn cảnh sinh hoạt.
Nhật
Bản đã là một nước lớn về kinh tế trên thế giới, Trung
Hoa Dân Quốc và Ðại Hàn cũng trong số bốn con rồng Á Châu,
đều là những quốc gia kinh tế phồn thịnh, những nơi đời
sống sinh hoạt vật chất giàu có, chúng ta hưởng thụ hằng
ngày một mức sống vật chất cao mà lãng phí nhiều tài nguyên
trên địa cầu. Chúng ta nên tiết giảm phúc lợi, cố gắng
tiết kiệm tiêu phí, mang những dành dụm tiết kiệm đó bố
thí cho những người đang gặp phải đói khát khốn khổ Nên
tiết kiệm tài nguyên hữu hạn trên địa cầu để dành cho
con cháu đời sau hưởng dụng. Khi chúng ta an nhàn hưởng thụ
cao lương mỹ vị, phải nghĩ rằng trên thế giới này có
rất nhiều người vì đói khát mà kề gần tử vong.
Chúng
ta nên lấy tinh thần từ bi vô điều kiện và vô phân biệt,
thực hành hạnh Lục Ðộ của Bồ Tát, vì tất cả chúng
sanh, duy trì và gìn giữ hoàn cảnh đại tự nhiên tốt đẹp,
thúc đẩy thi hành lý niệm Phật giáo lợi hòa đồng quân,
san bằng hố cách biệt giàu nghèo, hưởng thụ tài nguyên
trên địa cầu một cách bình đẳng. Thế giới tương lai,
nên lấy Phật giáo Ðại Thừa làm nguyên lý chỉ đạo nhân
loại, từ đó, mới có căn bản để giải quyết vấn đề,
mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
Trong
thế giới tương lai, vấn đề nghiêm trọng nhất, khó giải
quyết nhất, đó là vấn đề nhân số tăng vọt, hay gọi
là vấn đề nhân mãn. Theo Dã Bản Chiếu Như tiên sinh, tác
giả "Khoa học văn minh có hay không có tương lai", đã đưa
ra tài liệu: Vào đầu Kỷ Nguyên nhân số thế giới ước
khoảng 2,3 trăm triệu người, năm 1650 có 500 triệu, năm 1850
có 1 tỷ 100 triệu, năm 1930 lên 2 tỷ, 1950 lên đến 2 tỷ
rưỡi, 1960 là 3 tỷ, 1970 là 3 tỷ 6, 1979 lên đến 4 tỷ 3.
Tài liệu trên cho thấy rõ, sau cuộc cách mạng kỹ nghệ,
nhân khẩu tăng lên mau chóng. Dựa trên thống kê 1992, nhân
số trên địa cầu đã vượt quá 5 tỷ 400 triệu người,
trong số ấy Á Châu chiếm 55,8%, thế mà nhân số trên địa
cầu vẫn không ngừng tăng vọt phi mã.
Căn
cứ thêm, theo số liệu của Quỹ Nhân Khẩu Liên Hiệp Quốc
(UNFPA), mùa xuân năm 1987 trong quyển "Nhân Khẩu Bạch Thơ"
báo cáo như sau: Tháng 7 năm nay, nhân khẩu thế giới sẽ vượt
qua 5 tỷ. Và ước lượng rằng nhân số thế giới mỗi phút
sanh ra độ 150 người, mỗi ngày khoảng 220,000 người, mỗi
năm tăng gia khoảng 80 triệu người, vì thế dự đoán đến
năm 2000 nhân số thế giới sẽ tăng đến 6 tỷ, năm 2010 vượt
qua 7 tỷ nguời, năm 2020 sẽ đạt mức 10 tỷ người. Tức
là sau không đầy 3 năm, nhân khẩu thế giới sẽ dường như
tăng gấp đôi. Con số này nghe qua, chúng ta rất lo âu, bởi
vì nhân khẩu bành trướng sẽ làm cho phẩm chất sinh hoạt
càng tồi tệ hơn. Nhân khẩu thế giới nếu cứ nhanh chóng
tiếp tục tăng lên như thế thì qua thêm 300 năm, địa cầu
này sẽ không còn chỗ dư để trồng trọt.
Hiện
tại, một số quốc gia tiên tiến đang tích cực phát triển
khoa học không gian, tìm kiếm những tinh cầu thích hợp cho
nhân loại cư trú. Giả như đến một ngày, khám phá trong
vũ trụ có tinh cầu thích hợp cho con người cưu trú, và giả
sử như đưa nhân loại dời đến đó thì nhân số bành trướng
không ngừng trên địa cầu có thể giải quyết được Dự
đoán tương lai về vấn đề nhân số trên địa cầu, có
thể có ba tình huống dưới đây:
1.
Trong không gian vũ trụ phát hiện có tinh cầu có điều kiện
sinh sống như địa cầu, đưa một số lớn con người dời
đến đó ở để giảm thiểu áp lực nhân khẩu trên địa
cầu.
2.
Bùng nổ đại chiến hạch tâm, hoặc thiên tai ôn dịch giết
chết một số lớn nhân khẩu nên giảm bớt mật độ nhân
số trên địa cầu, làm dịu áp lực nhân mãn.
3.
Nhân số trên địa cầu không sao di cư ra ngoài không gian,
cũng không chết mất số nhiều mà lại tiếp tục gia tăng
hơn nữa, đến nỗi có một ngày đất đai khắp địa cầu
bị nhân loại chiếm đầy, không còn đất dư để sản xuất
lương thực. Cuối cùng, nhân loại vì thiếu lương thực,
toàn bộ đói chết, từ đó nhân loại trên địa cầu bị
tiêu diệt.
Hiện
tại, ở những quốc gia nghèo khổ lạc hậu trên địa cầu
nhân số không ngừng tăng vọt, nhưng các chánh phủ ấy nghèo
đến nỗi không có ngân sách cho kế hoạch thúc đẩy tiến
hành việc giảm thiểu nhân khẩu. Trung Quốc đại lục tuy
áp dụng nghiêm lệnh "nhất thai chết" nghĩa là chế độ ép
buộc chỉ có một con duy nhất cho một gia đình chồng vợ,
để cưỡng chế sự bành trướng nhân khẩu, nhưng không những
không thể giải quyết nạn nhân khẩu bành trướng, trái lại
còn liên đới sinh ra nhiều vấn nạn khác.
Kỳ
thực, biện pháp giảm thiểu nhân số căn bản hữu hiệu
nhất, là khuyến khích càng nhiều người xuất gia tu hành
qua cuộc sống độc thân càng tốt. Nhân loại trên địa cầu
này chỉ cần 1/3 số người bằng lòng xuất gia tu phạm hạnh
thì vấn đề nhân khẩu thế giới nếu có bùng nổ, theo phương
cách đó có thể giải quyết ngay. Vì thế, đối với việc
đức Phật chế định xuất gia pháp, chúng ta không thể không
khâm phục trí huệ ấy cao siêu đến thế nào!
Hiện
nay, xã hội loại người do kinh tế dẫn đầu nên con người
sống trong xã hội này xem trọng đồng tiền, mù quáng truy
cầu quyền lợi ích kỷ cá nhân mà chẳng màng đến đạo
đức và tình nghĩa; vì thế quan hệ giao tế giữa con người
trở thành quá đỗi lạnh nhạt. Tuy nhiên, rất nhiều người
cũng đã đánh mất niềm tin vào sự hữu hiệu của khoa học,
kỹ thuật và tôn giáo, và họ cảm thấy không an toàn. Vật
chất văn minh tuy tràn ngập nhưng trái lại làm cho lòng người
cảm thấy không an vui, không hạnh phúc.
Hiện
tại, phần đông con người tuy sống đời sống vật chất
thật phong phú nhưng tâm linh lại rất trống trải. Họ ở
trong đời sống vật chất giàu có nhưng lại không được
thỏa mãn phần tâm linh, đương nhiên họ chỉ còn cách quay
về hướng tôn giáo để tìm nơi ký thác tâm linh. Bởi vì
tâm linh lâu ngày rơi vào trạng thái khô kiệt, cho nên một
khi tiếp xúc với Phật giáo thì liền đối với tôn giáo
phát sanh lòng khao khát tín ngưỡng vô hạn. Tôi gọi loại
trạng thái tâm lý này là "khao khát tầm cầu tôn giáo". Càng
đề cao đời sống sinh hoạt vật chất, những người khát
cầu đối với tôn giáo sẽ càng ngày càng nhiều.
Nói
cách khách: Người nào đời sống vật chất càng thừa mứa
thì sinh hoạt tinh thần càng nghèo thiếu, càng cần thiết
lấy tôn giáo làm nơi ký thác tâm linh. Vì thế, có người
dự đoán rằng thế kỷ 21 sẽ là "Thế Kỷ của Tôn Giáo,"
đây là một sự tin tưởng rất hữu lý. Thực ra, thế kỷ
tôn giáo đã bắt đầu từ rất sớm, tỉ như Nhật Bản sau
trận đệ Nhị thế chiến, sự thành lập rất nhiều đoàn
thể tôn giáo mới được hưng khởi, hơn nữa, các tôn giáo
ấy đều có rất nhiều người tín ngưỡng. Tại Ðài Loan
cũng nảy sinh một số tôn giáo mới và có tín đồ không
ít. Sự hưng khởi của những tôn giáo mới này chính là phản
ứng đối với vấn đề xã hội hiện thực và trạng thái
tâm lý con người văn minh.
Con
người văn minh hiện đại, ngoài sự thất vọng đối với
khoa kỹ tân tiến mà chuyển hướng sang tôn giáo để truy
cầu chân đế nhân sinh, sự kiện này đương nhiên là việc
rất có ý nghĩa. Nhưng hình thức cũ kỹ của tôn giáo chính
thống và nét hung hăng của tà giáo tạo nên phương hại cho
tín ngưỡng, là những hiện tượng rất đáng lo âu.
Vì không để cho người tín ngưỡng thuần chân lầm vào tà
giáo mà bị thọ hại, chúng ta nên tích cực hoằng dương
chánh pháp của đức Phật, nhất là nên tận lực lợi dụng
môi trường truyền thông tiện lợi của khoa học kỹ thuật
tân tiến để hoằng dương Phật Pháp nhằm thu đạt hiệu
quả lớn hơn. Theo như báo chí đăng tin: Có một đoàn thể
tà giáo đã lợi dụng mạng lưới thông tin điện toán toàn
cầu để truyền bá tà thuyết của họ. Nhưng trong Phật giáo
chính thống, những người gánh trọng trách hoằng pháp vẫn
có thể không nghĩ đến cách áp dụng mạng lưới điện toán
toàn cầu làm phương tiện để hoằng dương Phật Pháp.
Phật
Pháp có "Pháp tánh chi pháp" và "Giáo pháp chi pháp" là hai loại
Pháp rất ý nghĩa. Pháp tánh chi pháp" tức là chân lý, chân
lý là vĩnh hằng tánh, phổ biến tánh, là "lịch tam thế nhi
bất dịch, phóng chư thập phương nhi giai chuẩn" (trải qua
ba đời không thay đổi, thả khắp mười phương vẫn đều
đúng), cho nên không có sự phân biệt thời đại và khu vực.
Còn "Giáo pháp chi pháp" là phương pháp Phật Ðà giáo hóa
chúng sanh, đức Phật vì để thích ứng với các căn tính
khác nhau của chúng sanh, đã rộng rãi thi hành các loại giáo
pháp khác nhau, và các loại chúng sanh có căn tánh khác nhau
cũng đã có sự hấp thụ giáo bất đồng.
Từ
vĩnh hằng tánh, phổ biến tánh của chân lý mà suy ra, hai
ngàn mấy trăm năm trước, vào thời đại đức Phật vì nền
khoa kỹ chưa có, nên Ngài đã dùng những giáo Pháp như Tam
Pháp Ấn, Tứ Ðế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Nhiếp Lục Ðộ
v.v... để hóa độ chúng sanh. Ðến thời đại này, dù khoa
kỹ phát đạt, mức độ trí thức nhân loại được nâng
cao, vẫn phải dùng Tam Pháp Ấn cho đến pháp môn Lục Ðộ
của Bồ Tát để độ sanh, bởi vì chân lý không thể vì
thời đại mà thay đổi. Còn từ "Giáo hóa chi pháp" mà nói,
thì phải ở trong nguyên tắc chân lý không thay đổi ấy,
áp dụng khoa kỹ hiện đại, vận dụng các loại phương tiện,
tùy cơ thi giáo, hoằng dương chánh pháp nhằm dẫn đạo chúng
sanh bước hướng đến con đường lớn sáng của nhân sinh,
để từ đó kiến thiết nhân gian tịnh độ, một thế giới
an lạc ngay trên địa cầu này.
Thế
kỷ thứ 21 là thế kỷ của tôn giáo, khi những phần tử
trí thức đối với khoa học cuối cùng bị tuyệt vọng nên
chuyển hướng sang Phật giáo để truy cầu chân đế nhân
sinh, chúng ta phải đáp ứng thế nào để thỏa mãn nguyện
vọng ấy của họ. Ðây là vấn đề vô cùng nghiêm túc đối
với người mang trọng trách hoằng pháp cần nên chuẩn bị.
Ngoài ra, các vấn đề trong xã hội đều là vấn đề của
con người, mà vấn đề con người tức là vấn đề tâm thức.
Trong kinh Duy Ma dạy: "Dục tịnh kỳ độ, tiên tịnh kỳ tâm,
tùy kỳ tâm tịnh, tắc quốc độ tịnh" (Muốn tinh sạch đất
ấy, trước tiên cần gội sạch tâm đã, theo tâm tịnh sạch
ấy, thì quốc độ tinh sạch). Tịnh hóa nhân tâm, tinh lọc
tâm con người, là căn bản giải quyết mọi vấn đề của
nhân loại thế giới, chúng ta nên ghi nhớ rằng đức Phậc
ban cho chúng ta cái nhiệm vụ vô cùng cao cả, đó là "Tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh.
Tham
luận của Hòa thượng Ching Hsin
đọc
trong Hội Nghị Nghiên Cứu Học Thuật Phật Giáo Quốc Tế
lần
thứ 8 năm 1996 tại Ðài Loan
Thượng
Tọa Thích Viên Lý dịch