PHẬT PHÁP
TRUYỆN NGẮN
THƠ
ĐỜI SỐNG 
TIN TỨC PHẬT GIÁO

SỐ 502 THÁNG 02 NĂM 2005 Xuân Ất Dậu
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
TÌNH LÀ DÂY OAN?
 
VẤN: (Cười ranh mảnh) Tôi phải năn nỉ anh gần gảy lưởi mới có được bài phỏng vấn ngày hôm nay! Biểu tượng của văn minh là phải biết "volant/elephant" với phụ nử. Hay là anh thích "làm cao giá"? Lý do gì cuối cùng anh nhận lời? Có phải tại vì anh cảm thấy rằng anh "đầy đủ kinh nghiệm tình trường" đủ sức giải đáp đề tài? Giống như một số người giử mục "gở rối tơ lòng trong các tạp chí"?

ĐÁP: (Gượng cười héo hắt) Cám ơn chị đã chứng minh được với đọc giả "đời là bể khổ". Này nhé: không nhận lời phỏng vấn, có yên được với chị đâu nào? Lở dại dột nhận lời, thì nào là kém văn minh, không biết gallant với phụ nử, nào là "làm eo làm sách"... Đúng là "khôn củng chết mà dại củng chết", lần sau nhất định sẻ đi theo con đừơng "trung đạo" vừa không đau khổ và nhất là thoát khỏi "móng vuốt tuổi con mèo" của chị (cười to)
 
VẤN: Đùa một tí cho vui, anh sẻ có cơ hội thưởng thức móng vuốt con mèo trong những câu hỏi sắp đến, anh còn lạ gì sở trường của người đi phỏng vấn thiên hạ? Đả trể rồi anh bạn đáng thương của tôi! (cười). Anh nên tập tính an phận chấp nhận thử thách là vừa, chống đối lại chỉ thêm đau khổ mà thôi (cười to). Trở lại đề tài: anh tin "Tình là dây oan"?

ĐÁP: Tôi tin như vậy. Điều này củng giống như Đức Phật Gautama đả đưa ra Tứ Diệu Đế. Đế thứ nhất "Đời là bể khổ". Có vẻ rất hiển nhiên, tình là một phần của đời, nếu đời là khổ, tất nhiên tình củng không thoát ra khỏi định đề của mệnh đề thứ nhất. Có một điều cần nhấn mạnh là Đức Phật không dừng lại ở đế thứ nhất, mà nói rất rỏ về con đường thoát khổ. Vì vậy chúng ta có nhiều hy vọng, ánh sáng ở cuối đường hầm, và cơ duyên thoát khỏi "tình là dây oan", nói khác đi "tình là khổ".  Tôi và chị không ai là đạo sư cả, đây chỉ là một số trao đổi giới hạn trong khuôn khổ một bài phỏng vấn nho nhỏ. Bài có tính cách gợi ý, tránh tranh luận vô ích. Vì là gợi ý, nên sẻ không có kết luận, kết luận là việc của độc giả. Nguyên tắc sẻ có trong bài là hoàn toàn thành thật và tại sao chúng ta không mạnh dạn nói lên ý nghỉ của mình, không mặc cảm?
 
VẤN: Tại sao tình là dây oan/là khổ?

ĐÁP: Tình yêu luyến ái nam nử mà chúng ta đang đề cập có thể ví như một loại cây, rể của nó mọc và bám chặt trong mặt đất nhân quả, tưới bón bằng những giọt nước mara ảo ảnh, thở bằng ánh nắng và không khí tham dục.... Một cái cây như vậy, làm sao tránh khỏi "Có hoa nào không tàn, có tình nào không phai?" và "Phải đập vở bao nhiêu cái gương xưa, để tìm lại cái bóng ảo ảnh của người tình đả mất?". Với đại đa số nhân loại có hai lực chính chi phối đời sống lứa đôi: luật nhân quả và lực âm dương. Do không hiểu luật, không hiểu bản chất ảo ảnh và giả tạm của phàm ngả (ngủ uẩn, tứ đại, lục căn) không hiểu ý nghĩa của đời sống, cũng chẳng có ý niệm rỏ rệt nào về sự sống, sự tiến hóa ... những cặp nam nử ấy làm sao tránh khỏi chuổi dài vi phạm luật? Đau khổ chồng chất, vay và trả ... Chỉ khi nào đóa hoa chân tâm bừng nở, xác tín được chân lý, tự mình bước đi trên "con đường trở về", tạo nghiệp tốt, vui lòng trả nghiệp xấu đả gây nên trong quá khứ. Khi ấy hành giả bắt đầu thoát khỏi "tình là dây oan". Ngoài ra, nói một cách "tuyệt đối", khi mà chúng ta vẩn còn làm người, vẩn còn xử dụng phàm ngả (kama-manas) chúng ta vẩn còn đau khổ, thể xác nào rồi củng già yếu, bệnh hoạn, sự chết sẻ đến ... người tình mà chúng ta yêu mến nhất rồi củng từ giả ta mà đi. Dù biết là "không có gì mất, chẳng có gì còn", thế nhưng làm sao tránh khỏi đau buồn? Quả vị thánh nhân hảy còn xa quá ...!
 
VẤN: Anh có bi quan quá không? Hình như anh củng mâu thuẩn ít nhiều? Anh có kể tôi nghe về chuyện ngày đó anh vướng phải sợi tóc mây (cười) và đó là mối tình đẹp, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi có biết một số người, họ là Phật Tử, họ có đời sống gia đình đẹp, vui vẻ, lạc quan, yêu thích nghệ thuật và tin tưởng nơi sức mạnh của thần Cupid. Khi có dịp giao tiếp thân mật hơn, biết ra họ củng tin, và có quan niệm đời là khổ, tình là khổ!? Có cái gì đó mâu thuẩn về quan niệm so với cá tính của họ? Hay là tại vì họ là Phật Tử nên tin theo lời của vị Thầy? Tôi đề nghị anh làm "Phát Ngôn Viên" chính thức của nhóm ấy, đồng ý? Còn điều này nửa, từ xưa đến nay, văn học nghệ thuật từ Đông sang Tây đều ca tụng tình yêu. Vậy thì có mâu thuẩn lớn giữa Phật Giáo và các nghành nghệ thuật?  

ĐÁP: (Cười bối rối 30 giây, nhưng chưa thấy xanh mặt) Hay là chúng ta bước ra ngoài dạo một vòng chung quanh khuôn viên thiền viện, chị nghỉ sao? {À há, Muốn hoản binh? Có sao đâu, vội gì? Hình như viên đạn đả trúng đích nhắm?} 

Hai người bạn bước ra ngoài sân thiền viện, đi ven con suối nhân tạo, cuối con suối là một cái đầm sen nho nhỏ, nhiều cây trồng vén khéo chung quanh. Khung cảnh đẹp và im lặng. Trời nắng rực rở của những ngày hè còn rơi rớt lại. Texas đả vào thu nhưng không thấy rừng cây thay lá như những tiểu bang phía bắc. Tiếng suối reo róc rách, gió lành lạnh lay động bụi tre gai bên bờ suối. Đôi bạn đả đi đến bờ hồ cuối con suối, họ nhìn thấy cá lội dưới hồ, họ củng nhìn thấy vài ba bông hoa sen nở rực rở, có lẻ những đóa hoa cuối cùng của một năm, mùa đông đả sắp đến, mùa của thiên nhiên ngơi nghỉ>
 
Tôi thoáng thấy câu hỏi của chị có liên quan mật thiết đến loài hoa mà tôi rất thích: hoa sen. Tại sao chúng ta không thể có với nhau 10, 15 phút thiền quán về cây sen? Nhất là trong một ngày trời đẹp như thế này? Khi còn học tiểu học tại quê nhà, hầu như tất cả chúng ta đều thuộc bài "trong đầm gì đẹp bằng sen ..... gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
..... Hai người bạn ngồi xuống một phiến đá phẳng và to, 10 phút im lặng đả qua .....
 
VẤN: (hơi ngập ngừng nhưng trang trọng) Bên dưới mặt nước là cuộc đời đầy đau khổ. Thế giới của vô minh, của ngủ uẩn, của tham vọng, của vô thường, của tối tăm, của tử vong, của giả tạo, của ảo mộng ... Bên trên mặt nước là sự giải thoát, là tự do. Hoa nở tức là tuệ giác hay đóa hoa chân tâm đả nở. Sự bừng nở của hoa được gọi là "hiện tại vỉnh cửu", nó bức phá tất cả ràng buộc, trạng thái an nhiên tự tại của an lạc, đứng bên ngoài dơ/sạch, không còn lệ thuộc vui/buồn, không còn vướng mắc trong vòng nhị nguyên của thiện/ác, già chết/hết già chết, thêm/bớt, còn/mất, lạc quan/bi quan, thành/bại, chứng đắc/không chứng đắc.... Ngài Long Thọ (Nigarjuna) gọi là "trung đạo", nó tương đương với chử "không" đề cập trong Bát Nhả Ba La Mật Tâm Kinh. Hoa Chân Tâm nở, hành giả kinh nghiệm thật sự chân hạnh phúc... Tôi không còn thấy gì là mâu thuẩn, nếu có người đang sống trong cuộc đời đau khổ này thế nhưng tâm thức họ đả vượt xa sự hạn chế của cuộc đời đau khổ, tăng trưởng một cách tự nhiên như đóa hoa sen. Đối với hoa sen: không có bùn lầy, cũng không có bên trên/bên dưới mặt nước...

ĐÁP: Cám ơn chị đả trả lời hộ tôi (cười). Tiếp tục trả lời câu hỏi Đạo Phật hoặc Phật Tử có bi quan yếm thế hay không? Trọng tâm của Phật Giáo nằm ở Diệu Đế thứ tư, con dường diệt khổ tức là Bát Chánh Đạo, trọng tâm không nằm ở đế thứ nhất hay là "khổ đế". Củng giống như ý chị vừa nói, trọng tâm ở hoa sen, chứ không ở rể sen, cành sen 

Chúng ta hướng thượng, hướng về chân tâm, Chân Ngả hay Phật tính, chứ không hướng về phàm ngả vô thường. Dỉ nhiên tất cả đều cần thiết. Có một sự thôi thúc âm thầm nhưng mảnh liệt nơi tâm hồn của những người Phật tử chân chính: sự thôi thúc bừng nở đóa hoa chân tâm. Họ không lạc quan củng chẳng bi quan, họ tăng trưởng một cách tự nhiên, như cánh hoa sen trong đầm lầy, an nhiên tự tại. Thần thức tỉnh của Phật tử chân chính có tâm điểm ở đế thứ tư, vì thế không thể nào nói là họ bi quan, yếm thế, thụ động ...Đế thứ nhất chỉ là một sự thật hay chân lý thuộc về nhận định. Tôi không tin là những người bạn của chị tin rằng đời là khổ, tình là khổ chỉ vì đó là lời Phật dạy. Đức Phật không khuyến khích như vậy, ngài khuyến khích chúng ta tự do tư tưởng và hảy có đức tin một cách minh triết. Câu hỏi so sánh tình yêu trong nghệ thuật và trong Phật Giáo: Những mối tình được gọi là đẹp, có yếu tố hy sinh, tha thứ, trách nhiệm, có ý chí vượt qua nghịch cảnh, hoặc là giai cấp, màu da, địa vị, phong tục tập quán ... Tôi đồng ý đó là những mối tình cao thượng, vượt xa mức trung bình của ích kỷ. Phật Giáo vẩn đề cao những đức tính hy sinh, tha thứ, tinh thần trách nhiệm ... Thế nhưng, những mối tình ấy vẩn không thể tránh khỏi ràng buộc chỉ vì nó vẩn trong vòng thời gian và nhị nguyên, những cặp nam nử ấy vẩn sẻ phải trở lại trần gian này học hỏi bài học cần phải học để có thể thăng hoa tình cảm cá nhân hạn hẹp đó trở thành lòng từ ái của bồ đề tâm, một loại tình yêu cao cả, không điều kiện, không biên cương .... Trên phương diện năng lượng hay là sức sống (energy), năng lượng an lạc bác ái của bồ đề tâm có nhiều triệu lần hơn năng lượng của tình yêu nam nử thể hiện trong quan niệm Đông Tây.
 
VẤN: Câu trả lời của anh làm tôi nhớ lại một câu chuyện, đọc được trong một quyển sách phóng tác của anh Nguyên Phong. Chuyện kể lại một anh thanh niên Mỷ, rất cao lớn, đẹp trai, là thần tượng của các cô nơi trường trung và đại học. Anh rất có tài, đàn hát giỏi và lại là cầu thủ môn dả cầu. Dỉ nhiên anh có vô số tình nhân. Bên ly rượu và những cuộc vui thâu đêm đả không thỏa mản anh mà chỉ mang lại sự trống vắng và chán chường! Những mối tình không kéo dài lâu, nó đến và ra đi không lưu lại bao nhiêu dấu vết. Sâu thẳm nơi nội tâm, những câu hỏi, không có câu trả lời, ám ảnh thôi thúc anh đi tìm giải đáp: "trên đời này, có tình yêu vô nhiểm thật sự hay không? không điều kiện, trong sạch, và bất biến với thời gian?" Anh ta đi tìm giải đáp bằng cách lang thang khắp nơi, vô định, như mây trắng trên trời. Một ngày kia , tại Dharamsala anh gặp một bà lảo hành khất bên vệ đường. Bà lảo già lắm, bệnh tật, cô quạnh ngồi bên vệ đường. Anh bạn của chúng ta quỳ xuống, đối mặt với bà lảo, thoảng khoảnh khắc, anh nhìn thấy sự chết và lẻ vô thường của một kiếp người.... Lặng lẻ, anh nhường lại cho bà lảo hết phần bánh mì mang theo. Lúc ấy, có một con chó, trơ xương vì ốm đói, từ đâu đó chạy đến bên bà lảo. Một cách tự nhiên, vô tâm, không suy tính toán hoặc do dự, bà lảo bẻ đôi ổ bánh mì chia cho con chó... Anh bạn của chúng ta rúng động toàn thân, hình như có một dòng điện cao tần xuyên qua, anh bật khóc không thể nào cưởng lại được. Anh đả tìm được câu trả lời, và từ đây, một sự sống mới bắt đầu... Phép lạ vẩn xảy ra cho bất kỳ ai đó, nếu có những khao khát chân lý và chân thành tìm giải đáp: tại nơi đây, thời điểm hiện tại...Anh thấy không, tôi vẩn giúp được cho anh đó chứ? Không hẳn chi có "móng vuốt" thôi đâu nhé (cười). Anh nghỉ tôi có nên đòi hỏi thưởng công hay không?

ĐÁP: Ý chị muốn nói "đây là một cho ra có điều kiện?" (cười to). Sao mà cá tính người kể chuyện và nội dung chuyện kể có "mâu thuẩn" với nhau như thế này? (cười ranh mảnh). Nhưng thôi, tôi sẻ không quên thiện ý của chị đâu, chị sẻ thấy tôi không bị gán ép "kém văn minh" lần thứ hai (cười). Cám ơn chị nhiều lắm, câu chuyện rất hay. Chi tiết thêm một tí, anh bạn người Mỷ nói trên sau đó trở thành một tu sỉ Phật Giáo, phái Mật tông.
 
VẤN: Trong kinh sách Phật Giáo, có đề cập đến tình yêu nam nử không? Nếu tình là khổ! Tại sao Phật Giáo không chủ trương sống độc thân hoặc ly gia cắt ái đi tu tìm chân hạnh phúc? Riêng anh, kinh nghiệm thực sự của anh trong đời sống gia đình như thế nào? Anh có bị dây oan không? (cười). Ngoài ra, có khoảng cách 2,500 năm so với thời Đức Phật còn tại thế. Con số này có làm cho anh suy nghỉ, muốn nói thêm điều gì vào đề tài? cho hợp với thời đại? Dù sao đi nửa chúng ta củng đang ở thế kỷ thứ 21? 

ĐÁP: Chị hỏi không đúng người rồi (cười). Tôi không biết nhiều kinh sách Phật. Kinh nghiệm cá nhân? Chị không thấy là hai "sợi tóc mây" cùng tu thì đẹp hơn một sợi? (cười). Chúng tôi vừa là vợ chồng, vừa là bạn thân, và hơn hết tất cả, là đồng môn, chúng tôi được đặc biệt chuyển qua nhóm khác, nhóm "tu là cội phúc", chúng tôi không thuộc về nhóm "tình là dây oan". Nên là tu sỉ hay cư sỉ? Nên sống độc thân hay có gia đình? Vấn đề nằm ở chổ hiểu biết, không nơi hình thức bên ngoài. Trong cuộc đời có hai hạng người: hạng người hiểu biết và hạng người chưa hiểu biết (vô minh). Người vô minh ngụp lặn trong đam mê, dục lạc và chiếm hửu, từ nhiều kiếp quá khứ họ đả làm lệch cán cân thăng bằng của luật nhân quả... Kết quả hiển nhiên là họ phải trở đi trở lại nhiều lần để điều chỉnh lại khiếm khuyết, tạo lập lại cân bằng, để học cho thuộc, trong đau khổ, bài học đả gây quá nhiều đau khổ cho người khác phái. Người hiểu biết (thiểu số còn lại), họ tỉnh thức có mức độ và có sự tự chủ khá cao. Số người hiểu biết này sẻ tăng dần với sự tiến hóa của loài người, họ là những linh hồn già (nói một cách dể hiểu). Chị sợ Phật Giáo lạc điệu trong thế kỷ thứ 21? (cười). Thời Đức Phật tại thế, có khác với hiện tại, dỉ nhiên, nhưng mà đau khổ thì không đổi, nước mắt thời điểm nào củng có vị mặn cả! Nhân loại ngày nay cân bằng được nhiều hơn giữa lý trí và tình cảm, tỷ lệ thuận với sự giao lưu tăng nhanh giữa văn hóa Âu/Á. Thí dụ người Âu/Mỷ/Úc sống thiên về lý trí, người Á Châu thiên về tình cảm, sự cân bằng sẻ được thực hiện dể dàng hơn nhiều so với 2,500 về trước. Sự cân bằng này rất quan trọng, nó đánh dấu một bước tiến, một chặng đường trên bước đường tiến hóa, đau khổ sẻ giảm thiểu nhiều, nếu biết cách cân bằng... Chúng ta có quyền lạc quan, với thời gian, sự trưởng thành trong đau khổ, nhân loại sẻ ngày càng tỉnh thức, đủ sức tìm ra con đường, thoát ra khỏi đau khổ. Phật Giáo sẻ có một vai trò không nhỏ trong tiến trình này.

 
VẤN: Như vậy đời là khổ, tình là khổ tùy thuộc vào con người hiểu biết và chưa hiểu biết. Đa số Phật Tử chúng ta hiểu biết thì không thực sự có nhiều (cười), mà vô minh thì củng không hẳn vô minh, công phu tu tập không mỏng củng không quá dày! Vả lại, ai dại gì chịu nhận mình vô minh, phải không anh? (cười). Bằng cách nào thoát ra khỏi tình trạng "lửng lơ con cá vàng" này? 

ĐÁP: Rất đơn giản (nhưng không dể dàng): tu tập nghiêm chỉnh và chân chính. Không có "lối mòn hoa gấm" trên con đường thực hiện Phật tính! Chúng ta đả tuyên chiến với phàm ngả, và đả chọn con đường dóc đứng, đả thệ nguyện với lòng cho một đời sống hướng thượng. Không còn con đường nào khác hơn "tu" hầu có thể thoát khỏi nhân quả/luân hồi đau khổ triền miên. Tu bằng cách nào? nhanh chậm ra sao hoàn toàn tùy thuộc cá nhân hành giả. Chúng ta hảy đứng lên, làm chủ vận mệnh của mình, chúng ta tự thưởng, tự phạt và lập luật lệ cho chính mình. Luật thiên nhiên rất công bằng và trung tính (nhân quả, luân hồi, tiến hóa), chúng ta mới là người chủ động. Hảy quay trở vào nội tâm, tìm sự giúp đở của "Ông Phật trong tâm" và tự thấp đuốc lên mà đi. Chúng ta có thực sự muốn "tu" hay không? Có thực sự muốn thoát khỏi tình trạng "lửng lơ con cá vàng hay không?". Đó là câu hỏi cho tất cả mọi người... Giống như môn "động lực học", cần có một động lực thúc đẩy tiến tới. Lòng khao khát chân lý là một động lực, lòng say mê nghệ thuật/sự mỷ lệ là một động lực, lòng bác ái, yêu thương người không may là một động lực, lòng yêu thích thiên nhiên, yêu trẻ con là một động lực, ngay cả tham vọng củng là một động lực, dù là xấu... Tùy theo khả năng và khuynh hướng của từng cá nhân mà chúng ta chọn con đường thích hợp. Nếu quá yếu, không có một động lực nào cả, thì chỉ còn chờ đợi thời gian và đau khổ làm động lực thúc đẩy mà thôi...! Và đó là điều mà không ai muốn cả...
 
VẤN: (cười) Nói đi không bằng nói lại: với tôi tình yêu dù là cao hay thấp củng là cần thiết cho đời sống. Anh củng biết người ta thường nói (cười) "loài người mà thiếu tình yêu thì củng giống như....canh chua thiếu muối ớt vậy" (cười). Nếu thiếu tình yêu, có lẻ đời là "bể khổ" thật! (cười). Những cặp tình nhân hoặc vợ chồng thỉnh thoảng có "cắn" nhau, nhưng sau đó thì lại "yêu" nhau hơn... Như vậy "cắn nhau" không hẳn là xấu lắm đâu, phải không anh? (cười). Anh không thấy là nhìn đời bằng cặp mắt màu hồng thì đẹp hơn màu đen hay sao? (cười ranh mảnh). Không chừng nếu nhân loại chịu tự kỷ ám thị: tình yêu là lảng mạng, tình yêu là trang trọng, đẹp hơn tất cả mọi thứ trên đời và vượt thời gian.... biết đâu chừng chúng ta có được "thiên đàng hạ giới", mà không cần phải thiền định, ngồi khoanh tròn đau chân và giới luật rắc rối? (cười)

ĐÁP: (cười) Tôi không quên chị là đệ tử trung thành của thần Cupid (cười). Tôi không tìm cách thuyết phục chị đâu. Chỉ xin góp ý một vài điều. Yêu và ghét là hai mặt của một vấn đề, giống như hai mặt của một đồng tiền. Nó phụ thuộc lẩn nhau, vô thường như nhau và tương đối với nhau. Những người đi trên con đường thiền định không vướng mắc ở hai thái cực, họ đi con đường trung đạo, con đường chính giửa, xin phép được mở một ngoặc đơn tại đây: chính giửa hoàn toàn không có ý nghỉa hình học. Người tu thiền củng không nhìn sự việc qua cặp kính màu, cho dù kính ấy có đẹp đến đâu. Họ trực diện thẳng đến chân lý, hội nhập với chân lý trong tỉnh lặng và cô đơn. Và chân lý thì lúc nào củng đơn giản. Có người ví von như thế này: con đường trung đạo mỏng và sắc bén như lưởi dao lam, hai bên đường là vực thẳm... Tôi hiểu câu hỏi của chị, đôi khi sự "tự đánh lừa" vô hại, tích cực trong đời sống vẩn hơn tiêu cực, yếm thế. Dù sao đi nửa, sự giả tạo nào củng có giá trị hạn định của nó. Chân lý tương đối củng có giá trị của nó, tuyệt đại đa số nhân loại vẩn sinh hoạt và sống trong chân lý tương đối (nhị nguyên). Con đường chúng ta đi là trực nhận chân lý tuyệt đối. Đó là đích nhắm của thiền sinh. Dỉ nhiên chúng ta vẩn thường xuyên xử dụng chân lý tương đối, chúng ta vẩn sống trong cuộc đời tương đối và chúng ta chưa là thánh nhân. Chúng ta vẩn làm tròn bổn phận người chồng, người cha, người vợ, người mẹ, chúng ta vẩn cố gắng giử gìn giới luật, chúng ta vẩn gắng bước nổ lực tinh tấn, thành công và thất bại trên con đường "tiệm tiến"... Có hai chiều rỏ rệt trong sự tu tập: một chiều là hướng thượng bằng cố gắng tiệm tiến, con đường của ngài Thần Tú, trong khi chúng ta đang sống trong thế giới tương đối của nhị nguyên. Và chiều kia, cái chiều mà chúng ta vẩn xem như kết quả của con đường tu thiền: đó là cái chiều của "đốn ngộ" và ảnh hưởng ngược lại từ Chân ngả xuống phàm ngả, phàm ngả quy phục và hội nhập với chân ngả trong sự bình an. Khi ấy sẻ giống như những gì ngài Huệ Năng diển tả...Chị có trọn quyền tự do chọn lựa cái chiều chị muốn.
 
VẤN: Xin phép anh, tôi sẻ cố gắng tóm tắt bài phỏng vấn ngày hôm nay, chắc chắn sẻ có thiếu sót, anh và các bạn đọc sẻ bổ túc sau, đồng ý?

Không phải chỉ có mổi một Đức Phật nói về khổ đế. Kinh Bhagava Gita và trong Yoga Sutras của Đạo Sư Patanjali củng có đề cập đến đời là khổ. Đối với các bậc Đạo Sư, cuộc đời là ảo ảnh, vô thường, giả tạm, nhị nguyên, đầy âu lo, ưu phiền, giới hạn và đau khổ triền miên. Ngài  Long Thọ (Nagarjuna) đưa chúng ta đi xa hơn, ngài trình bày hai thế giới: thế giới chúng ta đang sống, tức là thế giới nhị nguyên, thế giới của chân lý tương đối, thế giới của giới hạn và đau khổ. Và củng giống như các bậc đạo sư khác, ngài Long Thọ trình bày và mời gọi chúng ta hảy bước vào thế giới của các ngài, thế giới của chân lý tuyệt đối, của Chân Ngả, Phật Tính ... Bằng Trung Quán Luận, ngài trình bày con đường trung đạo, con đường đưa hành giả thoát khỏi ràng buộc của nhị nguyên. Trung Đạo có nghĩa là không vướng mắc ở hai cực điểm. Bằng thiền định hành giả sẻ tăng trưởng như một đóa hoa sen, thoát khỏi bùn lầy tù đày và đau khổ. Giây phút hoa nở, giây phút huy hoàng giác ngộ, từ nơi chốn thâm sâu yên lặng của nội tâm, hành giả tự biết một cách không chút nghi ngờ: mình đả tìm ra được con đường đạo. Chúng ta muốn gọi giây phút đó là gì tùy ý, đó là tiếng nói thinh lặng, cất lên ở nơi không có người nào cả, đó là một sứ giả giáng lâm, vị sứ giả không hình bóng, hay là đóa hoa tâm hồn đả mở 

Con đường hảy còn dài, sự đau khổ, thử thách sẻ còn dử dội hơn nửa, trước khi Phàm Ngả quy phục hòan toàn Chân Ngả cao siêu. Từ đây cho dù có lúc hành giả thất bại, xa rời con đường chính, phân vân, nghi ngờ, sợ hải ... thì rồi một ngày kia tiếng nói đó củng sẻ cất lên, cắn rứt tâm hồn, chia đôi tham dục với thiên lương. Bấy giờ mặc cho phàm nhân kêu la tuyệt vọng, hành giả sẻ trở về với đạo, và chỉ bấy giờ tình mới bắt đầu không là dây oan nửa.

ĐÁP: Cám ơn chị rất nhiều, mến chúc tất cả các bạn dồi dào cảm hứng tinh thần, đoá hoa bồ đề tâm rộng mở như đóa hoa sen vương lên khỏi chốn bùn lầy, tỏa hương sắc tự do dưới ánh mặt trời.  
                                                                                                       MLT                             
 

 
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 1-2005
Down Load " Word Document" (WinZip File 326 KB)
   (Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS