TÌM
LỐI SỐNG THĂNG BẰNG
Nguyên
tác: Ðạt Lai Lạt Ma
Bản
Việt ngữ: Chân Huyền
Có
một quan niệm thăng bằng và khôn ngoan về đời sống là
điều rất quan trọng trong cuộc sinh tồn, quan trọng trong
mọi lãnh vực. Tỷ như khi trồng một cái cây non, chúng ta
phải rất nhẹ nhàng tế nhị. Nhiều nước quá cây bị úng
và nhiều nắng quá cũng hư cây, mà ít hai thứ đó quá cũng
không được. Ta cần có một môi trường thăng bằng để
cây lớn lên một cách khỏe mạnh. Ðối với con người cũng
vậy, cơ thể chúng ta sẽ bị suy yếu khi ta nhận nhiều quá
hay ít quá một thứ gì đó cần cho mình.
Quan
niệm mọi sự việc một cách quân bình và nhẹ nhàng tránh
cho ta những thái quá, khiến tâm thần và thể chất ta có
thể phát triển tốt đẹp. Tỷ như khi ta quá năng nổ, cho
mình là người quan trọng hơn hết vì đã thành công hay có
nhiều đức tính chẳng hạn, thì ta cần phải lấy lại quân
bình bằng cách nghĩ tới những đau khổ, những vấn đề
ta đã gặp, và suy gẫm về những điều ta không hài lòng
trong đời. Ðiều đó sẽ giúp bạn bớt bay bổng mà trở
nên thực tế hơn. Trái lại, khi suy ngẫm về những khổ đau,
những điều bất như ý nhiều quá mà bạn bị chúng tràn
ngập, trở nên phiền não thái quá, thì bạn lại đang đi
tới một thái cực khác. Bạn có thể trở nên yếm thế,
bi quan và rầu rĩ vì cho mình là người vô tích sự, không
có giá trị gì! Trường hợp này, bạn lại cần nhớ tới
những thành quả tốt đẹp, những tiến bộ của mình, để
cho tinh thần phấn chấn lên. Vậy, điều quan trọng là chúng
ta phải có cái nhìn quân bình và tế nhị về mọi chuyện.
Sống
như vậy, không những ta được khỏe mạnh về cả thể chất
lẫn tinh thần, mà tâm linh chúng ta cũng được phát triển.
Ðạo Phật có nhiều truyền thống tu tập khác nhau. Chuyện
quan trọng là ta biết áp dụng các kỹ thuật tu học một
cách khéo léo, để không đi tới cực đoan. Muốn tu tập,
chúng ta cần tìm học về lý thuyết (Văn), suy ngẫm (Tư) và
thiền tập (Tu). Như vậy, chúng ta sẽ không bị lệch lạc,
quá nghiêng về một trong ba khía cạnh. Nếu học lý thuyết
nhiều quá, việc hành thiền sẽ không đủ, và nếu thiền
tập nhiều mà không có giáo lý thì cũng không có được tuệ
giác. Ta cần tin tấn về cả ba khía cạnh.
“Nói
chung, sự thực hành Phật pháp đích thực, nó cũng giống
như ta dùng một dụng cụ làm cho điện lực luôn quân bình.
Với dụng cụ đó, ta có thể đề phòng trường hợp điện
năng tăng lên quá bất ngờ và lúc nào ta cũng giữ được
một điện lực đều đặn, bất biến.
Nói
về đời sống vật chất chẳng hạn: Nhà cửa đồ đạc,
quần áo... Một bên là sự nghèo đói mà ta cần phải vượt
thắng để sống đủ tiện nghi. Một bên là thái cực ngược
lại: Làm sao để sống một cách giàu sang nhất, coi đó là
điều kiện của hạnh phúc. Nhưng sự tìm cầu là một tình
cảm không bao giờ được thỏa mãn, càng có nhiều thứ lại
càng ham muốn nhiều hơn, cuối cùng là không hài lòng chi cả...
Chiều hướng đi tới cùng cực có bề ngoài như hấp dẫn,
nhưng thật ra, nó rất có hại cho chúng ta. Quá khích về sắc
dục là một tỷ dụ.
Ngoài
tinh thần quá khích, sự hẹp hòi của ta cũng là một yếu
tố rất tiêu cực, và chính nó cũng dẫn tới sự quá khích.
Tỷ dụ xứ tôi là một xứ theo đạo Phật từ bao thế kỷ
qua. Nhưng không vì thế mà chúng tôi nghĩ rằng đạo Phật
là tôn giáo tốt nhất cho hết thảy mọi người. Mong ai cũng
theo đạo Phật, là một tư tưởng quá khích, cực đoan. Nghĩ
như vậy chỉ gây ra các khó khăn mà thôi. Sau khi rời xứ,
chúng tôi được tiếp xúc với nhiều dân tộc và học hỏi
nhiều tôn giáo khác, chúng tôi nhận biết nhiều truyền thống
tâm linh khác nhau. Và khi gần với họ, chúng tôi nhận ra nhiều
điều tốt lành nơi họ. Cũng như khi vào một tiệm ăn, thực
đơn gồm nhiều món ăn khác nhau vậy, chúng ta cứ tự do chọn
lựa, có ai gây gỗgì đâu?