THIẾU
NỮ TRONG NGÔI NHÀ BỆNH
Phan
Tấn Hải
Phải
nhiều tháng sau, tôi mới biết cô nàng bị bệnh ung thư. Gần
như là không ý thức, tôi từng nhìn những dãy chai thuốc
đủ nhãn hiệu, thuốc viên, thuốc nước, thuốc bột trong
ngăn tủ phòng nàng và hoàn toàn không thắc mắc hay có ý
niệm gì về sự có mặt của chúng.
Cũng
thường thôi, có nhiều người vẫn thích để đủ thứ thuốc
men thu thập nhiều năm ở một góc tủ như thói quen ở Việt
Nam mà không bận tâm gì đến ngày tháng có thể hư hao chi
cả, và nếu là trụ sinh thì càng dễ tính, cứ gom lại thật
nhiều rồi sẽ gởi về nước cho thân nhân. Lại nữa, các
loại thuốc mua từ toa bác sĩ thì chẳng ghi chú gì, chỉ có
mấy dòng ghi tên thuốc và ngày uống mấy viên thôi, chẳng
ai biết nổi là thuốc hay kẹo.
Nhưng
càng lúc nàng càng xanh xao, nét mặt tái nhợt đi, buổi sáng,
buổi chiều, buổi tối. Nói rõ các buổi như vậy vì thời
gian đầu hai đứa gặp nhau, sắc mặt nàng thay đổi theo thời
gian trong ngày. Buổi sáng tươi tỉnh, hồng hào, nàng rực
rỡ, rạng ngời. Buổi chiều nàng ủ dột, buồn ra mặt. Và
buổi tối nàng thường than mệt và đòi về nhà. Ðôi khi
tôi chỉ hỏi, tại sao vậy, và rồi thôi. Không bao giờ tôi
nghĩ cần phải vặn hỏi ai điều gì. Ðiều gì người ta
không nói, thì mình không cần phải thắc mắc. Chơi với nhau
là phải tin nhau, tin cả lời nói và phải tin cả sự im lặng,
tất cả đều có những ý nghĩa gì đó. Vả lại nếu xét
về vai vế thì tôi lớn hơn nàng nhiều chứ, cả về tuổi
nữa, và người lớn thì phải có phong cách người lớn, nghĩa
là biết tôn trọng cả những điều người thấp vai không
nói. Tôi chỉ nói đùa là tôi không cần mua đồng hồ, vì
chỉ cần nhìn mặt nàng đã có thể đoán được mấy giờ
rồi. Thí dụ đôi mắt rực sáng như vậy, gò má hồng như
vậy, nàng xông xáo như vậy, nhất định phải là trong khoảng
bảy hay tám giờ sáng. Hay là khi đôi mắt bắt đầu trở
nên xa vắng như đang hướng về một chân trời nào đó thì
trời hẳn đã về chiều. "Tùy theo mức độ xa vắng của
mắt em, anh sẽ gọi được giờ, thí dụ như bây giờ phải
ước chừng là sáu giờ chiều," tôi đã nhiều lần nói với
nàng như vậy khi ngồi ở quán Baron. Và khi nàng đứng lên
đòi về, tôi gấp giấy tờ sách vở lại, thì mặt nàng hẳn
đã nhạt ra, có khi những ngón tay còn run run nữa. Bấy giờ
tôi lại đoán được là chín hoặc chín giờ rưỡi khuya.
Tôi
nhớ, lần đầu tiên gặp lại nàng là ở trong quán Baron.
Bấy giờ là chiều lắm rồi, tôi đang ngồi trong quán, lúc
đó thật vắng, đọc những xấp bài vở, báo chí đủ loại
thì cô nàng đứng ngay trước mặt tôi, gọi tên tôi và hỏi
tại sao tôi lại xuất hiện ở vùng thủ đô tị nạn này.
Tôi ngẩng nhìn lên, chỉ nhớ mang máng đã gặp nàng đâu
đó trên đảo. Nhưng tôi chẳng mấy khi nhớ được những
chuyện gì xảy ra hôm qua, huống gì là của nhiều năm trước.
Cô nàng tự giới thiệu là có quen tôi khi còn trên đảo,
và anh không thể nào nhớ mặt được những kẻ đứng thật
xa và nói thật nhỏ. Tôi đã tự trách mình vô tâm và trả
lời rằng, ai cũng có thể nhớ được một tên nổi tiếng
ở dơ, lười tắm và làm đủ thứ chuyện lung tung cho đồng
bào như vậy; tôi hơi ngạc nhiên nghe mình tự nói xấu cách
hồn nhiên, và lại xin lỗi về trí nhớ của mình. Sau này
tôi có hỏi lại anh Trung, người Ðạo Trưởng của tôi, thì
anh cũng chẳng thể nhớ nổi cô bé nào như vậy cả. Có hàng
trăm cô bé thế chứ, cậu nói thế làm sao tôi nhớ nổi,
anh trả lời nhát gừng. Tôi đã trả lời, chỉ có một thôi,
một cô bé kỳ dị như vậy đấy, với cả một pharmacy trong
phòng. Có hề gì đâu, cũng như trong phòng cậu là đủ thứ
sách thôi, anh Trung đáp. Chịu thua, tôi không bao giờ cãi được
với ai.
***
Buổi
chiều, khi chạng vạng tối, tôi thường đến Baron ngồi đọc,
ghi chú và suy nghĩ về những điều phải viết. Cà phê ở
đây thì đậm, uống vào có thể thức tới hai, ba giờ sáng,
còn bánh mì thì có thể thay cơm được. Quán thường vắng
vào chiều và tối. Ðiều hay nhất là không có nhạc vì quán
thuộc loại bình dân. Tôi không ưa những quán nhạc ồn ào,
đông đúc, mịt mù khói thuốc. Ngồi ở đây, nhìn qua những
khung kính ra đường Brookhurst, nhìn buổi chiều, nhìn đêm,
nhìn chiếc xe cà tàng của mình bên ngõ hẻm, rồi cúi xuống
đọc trên những trang giấy, rồi có khi chạy tới nhà tên
bạn hỏi han đôi chuyện hoặc vào bàn gõ lóc cóc dăm bài
thơ cho nó đỡ mệt. Tôi đã có thói quen sống hạnh phúc
được trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi bị gây rối vì chuyện
tiền bạc hoặc cộng đồng.
Những
thời gian về sau, nàng thường ra ngồi với tôi. Có khi hỏi
chuyện chán chê, rồi lại im lặng, rồi lại đọc những
xấp bài tôi để trên bàn, đủ thứ nhảm nhí, và có khi
về Thiền, về chính trị, hoặc thứ gì cũng đôi chút nghiêm
trang, vân vân. Rồi lại hỏi những câu không đâu vào đâu.
Chẳng hạn như, "Làm thế nào để khỏi bệnh?" Lần đó,
tôi đáp, "Tại sao cần khỏi bệnh chứ. Bồ tát bệnh vì
chúng sanh bệnh cơ mà." Nàng đáp, "Hôm bữa anh khóc um xùm
khi mới bị nhức răng sơ sơ, thì chúng ta đâu cần phải
bệnh để hiểu được Kinh Phật." Tới những chỗ lý luận
cụ thể về cuộc đời thì tôi lại im lặng, bởi vì thực
sự tôi chẳng hề hiểu chi về cuộc đời cả.
Phải
nhiều tháng sau, nàng mới nói cho biết có lẽ nàng sắp chết.
Bấy giờ tôi mới ngẩng mặt lên khỏi mớ giấy tờ, ngạc
nhiên nhìn nàng. Chín giờ tối rồi, một tiếng nữa quán
sẽ đóng cửa, không còn ai trong quán trừ chúng tôi. Mắt
nàng yếu đi, người nàng trước giờ vẫn gầy bây giờ như
gầy thêm hơn. Ung thư à, tôi thắc mắc, lạ nhỉ, cái này
cũng giống như xổ số đấy. Mặt nàng xịu xuống, ra dáng
bé con hẳn, im lặng hồi lâu. Tôi vẫn không thể hình dung
được cô bé đang ngồi trước mặt tôi hôm nào có thể biến
mất trên đời này. Ngay cả nếu bây giờ cô nàng ngã xuống,
lên cơn sốt trăm độ, ngay giữa quán này, đương nhiên là
tôi sẽ ẵm cô nàng đi cấp cứu, nhưng vẫn sẽ không thấy
chuyện này có thật tí nào. Tôi đã nói với nàng như vậy,
thấy nàng vẫn mở to mắt nhìn như không hiểu, tôi giải
thích thêm, từ lâu rồi anh vẫn thấy mọi chuyện trên đời
chỉ là những giấc mơ thôi. Tôi ấp úng, thí dụ chúng ta
đang ngồi đây, giữa quán cà phê vắng thế này, thì cũng
không có gì là thật cả, chỉ là những giấc mơ thôi, thấy
được như vậy, đây chỉ là những giấc mơ chúng ta sờ
được và bơi lội trong nó thì em sẽ không bao giờ đau khổ,
thắc mắc hay bận tâm. Em có đùa bao giờ đâu, nàng gắng
gượng nói. Ừ thì không đùa, nhưng em phải tập Thiền và
thể dục, anh sẽ dạy cho, dễ lắm, bệnh nào cũng chữa được.
Lời tôi nói như tan vào không khí. Nàng không trả lời, nét
mặt xanh nhợt nhạt.
Nàng
ở trong một căn chung cư góc Brookhurst và Hazard. Buổi chiều
nàng đi bộ ra quán ngồi chơi và nói chuyện với tôi, tới
khuya rồi lại về. Làm thế nào cô bé sống được trên thế
gian này nhỉ, tôi thắc mắc, lại ngay giữa cái thành phố
đầy những xô xát, ồn áo, nhảm nhí này. Tôi thích nơi này
biết mấy, cũng như mọi nơi trên trần gian này, chỉ vì tôi
không thể ý thức được mình có thể ghét bỏ một nơi nào
trong cuộc đời. Nhưng còn cô bé, cô nàng mỏng manh như một
hơi thở, gầy như một que tăm, ngây thơ như một dòng chữ
trong kinh Phật, và có vẻ như không bao giờ biết tới tuổi
thành niên, làm sao có thể ngồi ngay giữa quán Baron này mà
không hề sợ hãi. Cái món tiền tàn phế đâu có bao nhiêu.
Tôi có thể sống được, và cả hạnh phúc nữa với không
một xu dính túi, nhưng còn nàng, cô bé gầy gò dúm dó kia
làm sao sống nổi giữa trần gian điên dại này.
"Em
phải biết trần gian mình lắm bệnh, và đừng thắc mắc
gì cả." Tôi giải thích một hôm như vậy và không biết có
nên tò mò hỏi thêm về căn bệnh của nàng. Nhỡ như đó
là một bệnh khó trả lời, thí dụ như ung thư vú hay tử
cung chẳng hạn. "Em phải tập nói chuyện với hư vô hằng
đêm, hằng ngày." Tôi băn khoăn không biết mình có đang nói
những điều quá xa lạ với nàng chăng. "Cứ gọi tên nó ra
mà hỏi chuyện, như một người bạn. Ðừng giận dữ bao
giờ cả. Thì thầm to nhỏ. Khi nào nó hành đau quá thì thôi,
tìm cách ngủ."
Cô
bé mở một tờ báo lá cải và chỉ vào một bài quan điểm.
"Sao người ta cứ gọi nhau ra đánh phá lung tung ha. Em thấy
cuộc đời mình kỳ dị lắm. Anh đọc bài này chưa. Anh làm
báo nữa làm chi."
"Anh
chỉ có một điều bận tâm hiện nay thôi. Ðó là làm sao
cho em và những người đi sau không bao giờ biết tới bệnh
là gì." Tôi thò tay qua bàn, xếp tờ báo kia lại và ném qua
bàn bên cạnh.
"Cuộc
đời lạ lắm. Chúng ta không bao giờ hiểu được. Ðể anh
bổ túc một ý kiến hôm trước, chúng ta không những chỉ
đang sống trong mơ, mà thực sự tự thân cũng chỉ là những
bóng thoáng qua, ẩn hiện trong đó."
Cô
bé nhíu trán. Thói quen này tôi không thích lắm. Một lần
tôi có phê bình, em đừng tập kiểu nhíu trán cau mày ra dáng
đăm chiêu nữa, có vẻ người lớn một cách không tốt. Bởi
vì cau mày nhíu trán cũng không thể làm em trở nên nhà bác
học được. Thế là suốt cả tuần lễ kế tiếp, cô nàng
nhíu trán cau mày liên tục. Cũng may những thói quen như vậy
nàng quên cũng rất mau. Lúc đó tôi tự nhủ, phải chi chứng
bệnh nàng cũng thế thì hay biết mấy, muốn nhớ thì có,
muốn quên thì đi, cuộc đời sẽ vui biết mấy.
"Em
muốn anh tới đưa đón mỗi chiều ra quán Baron. Em không còn
sống bao nhiêu ngày nữa." Cô bé một hôm nói nghiêm trang như
một mệnh lệnh. Khuôn mặt nàng nhợt nhạt, xanh xao, hiện
lên đôi mắt sáng nhìn thẳng vào tôi. "Em có thể đi bộ
ra ngồi với anh được. Nhưng em muốn từ bây giờ anh phải
đón em ra đây."
Tôi
không thấy có gì để từ chối. Một hôm nào, cô bé rời
khỏi cuộc đời này, rời những hệ lụy trần gian và sẽ
vui vì những ngày hôm nay. "Chi vậy nhỉ," tôi vẫn cãi bướng,
"em cần phải ngủ nhiều hơn là đi chơi. Nhất là ra đây
lại khói thuốc, bụi bặm, có tốt đâu. Nhỡ thằng nào quăng
lựu đạn vào đây thì lại hỏng. Cứ gối đầu vào pharmacy
của em mà ngủ là tốt nhất."
Người
cô bé như nhỏ lại, đôi mắt vẫn nhìn thẳng vào tôi.
"Mỗi
ngày em phải hỏi anh khoảng ba câu hỏi về Thiền. Anh sẽ
trả lời, em không cần hiểu, nhưng bắt buộc phải nghe và
nhớ. Có như vậy anh mới đưa đi chơi, và mỗi ngày sẽ đón
em ra đây. OK? Ðược ha." Tôi ra giọng thầy, "Vậy thì hôm
nay câu hỏi nào đây?"
"Em
đâu biết hỏi gì." Cô nàng giọng nhỏ lại, nhìn ra ngoài
những khung kính. Tôi đoán nàng hơi mệt, bây giờ là trễ
rồi, trời sụp tối ngoài kia. Tôi cũng không biết phải nói
gì. Hình như có gì chận nơi cổ họng tôi. Cô nàng nói, giọng
thật nhẹ, rất nhiều khi em buồn ngủ, như bây giờ chẳng
hạn, nhưng cứ sợ sẽ không bao giờ thức dậy. Cũng có khi
đau, đau cả người chứ, nàng vẫn nhìn ra những ngọn đèn
đường. Ðau đớn lắm, như bây giờ chẳng hạn, nhưng em
muốn anh thăm em mỗi ngày...
***
Bây
giờ thì tôi biết nàng bị ung thư tử cung. Cũng lạ, vì chứng
bệnh này thường xảy ra cho người lớn tuổi. Một lần nàng
vào nhà thương Anaheim nằm cả tuần lễ. Mỗi chiều tôi đều
vào chơi bên giường bệnh với nàng. Tôi đọc đôi tin vớ
vẩn về Việt Nam, giả vờ lướt qua vài bài thơ cho có lệ,
thơ dở lắm, chẳng thấy bài nào hay cả, tôi cứ gạt qua
như vậy. Em tập thở đi, cũng đỡ mệt hay đau đớn chẳng
hạn. Nàng gầy hẳn đi, hai gò má nhô xương ra. Giọng nàng
thì thầm, anh không nên nhìn em trong hoàn cảnh này. Nàng nói
nàng chẳng ưa tí nào bộ đồng phục màu xanh của nhà thương.
Tôi ngồi bên cạnh và đọc thầm bài Ðại Bi Chú. Không ai
biết chuyện gì sẽ xảy ra ngày mai, tôi nhìn những ống thuốc
bên giường nàng. Tôi siết chặt tay nàng dưới tấm ra giường.
Tay em toàn là xương, làm thế nào có lại thịt da như ngày
xưa nhỉ, tôi bùi ngùi suy nghĩ. Sau lần mổ này, sức cô bé
sẽ yếu hẳn, bác sĩ nói với tôi như vậy. Người bác sĩ
già tóc trắng người Mỹ giải thích với tôi về cách gìn
giữ sức khỏe hằng ngày cho nàng. Ông ta có vẻ hiểu lầm
như chúng tôi là tình nhân, hoặc một kiểu như đang sống
với nhau.
"Thuốc
ấy à, cô ấy cần cả một pharmacy đấy. Nhưng rồi cũng
sẽ chẳng đâu vào đâu." Gibson, người bác sĩ già lắc lắc
đầu. Từng mảnh tóc trắng bay trên đầu, ông đứng giữa
hành lang sạch bóng và thơm mùi nhà thương giải thích.
Nhà
thương cách thư viện công cộng hai block. Suốt ngày tôi ngồi
đọc và viết trong thư viện, chờ tới bốn giờ thì vào
thăm nàng. Nhưng những ngày này trôi qua thật chậm, tôi không
đọc được nhiều và cũng không viết nhiều. Máu lười cũng
nổi lên rồi, tôi tự khiển trách như vậy. Nhưng cũng không
phải, tôi nghiệm ra mình không tập trung tinh thần được.
Tôi nhớ tới những ngày mẹ tôi sắp mất. Những ngày ấy
tôi vẫn không bao giờ nghĩ rằng mình sắp xa mẹ. Chuyện
gì với mình cũng là chuyện bất ngờ, tôi tự nghĩ. Nhưng
còn chuyện này, cô bé hẳn là sắp rời thế giới này rồi,
tim tôi thắt lại khi nhớ tới lời bác sĩ. Y Học không tiên
đoán được gì thêm cho những trường hợp này, cách nói
ông dè dặt.
"Mr.
Gibson, ông nghĩ rằng bao giờ nàng đi," tôi ngập ngừng hỏi.
"Cứ
giả thiết là vài năm nữa chẳng hạn, cũng có thể là vài
tháng. Tốt hơn hết là cứ bình tỉnh chờ thôi. Nhưng còn
phép lạ nữa chứ. Chúng ta phải tin vào những điều không
hiểu được." Ông nói chậm rãi, gật gù, đôi mắt xanh nhìn
tôi như chờ đợi một phản ứng.
Tôi
đã trả lời rằng tôi tin vào phép lạ, bởi vì cuộc sống
tự nó đã là phép lạ. Tôi ngạc nhiên nghe giọng mình rất
mực bình tỉnh.
***
Nếu
chúng ta không thở nữa
không
thấy được bầu trời xanh trên kia
không
nắm được tay nhau trong đời này
và
câm lặng đời đời dán lên môi
hãy
tin vào...
Bài
thơ tôi làm được mấy câu, cũng dở dang. Tôi đọc khi nàng
ra viện. Căn phòng em tự nhiên thân thiết hơn, nàng nói khi
tôi đưa nàng về. Về lại cái pharmacy này vui hơn, tôi kiếm
chuyện để nói. Bình thường tôi thuộc loại ít lời. Vài
ngày sau, nàng mới nhớ là tôi có đọc bài thơ nào đấy
cho nàng. Bài thơ anh làm đó hả, cô nàng hỏi. Ừ, thơ dở
lắm, đừng nhớ tới nó nữa, tôi lầu bầu. Anh có cả trăm
bài như thế đấy, đừng bắt anh làm thơ, chẳng ai khen cả.
Có em khen chứ, em thích những bài thơ như vậy, nàng biện
hộ. Ừ thôi quên đi, anh năn nỉ mà.
Khi
hơi khỏe khoắn một chút, cô bé lại đòi ra quán Baron chơi
mỗi chiều. Chi vậy, tôi tìm lời ngăn cản, ở nhà cho chóng
khỏe. Ngoài kia đầy khói thuốc đấy. Em thích ngồi nhìn
buổi chiều, vả lại em thật sự không bệnh, nhưng chính
là cuộc đời bệnh, cuộc đời làm em bệnh. Tôi đùa, không
phải em bệnh, đúng không, mà là ngôi nhà bệnh chứ gì. Cô
bé gật đầu, dáng như hiểu mọi lời tôi nói. Chúng tôi
bật ra cười. Tôi nói thêm, em không biết rằng buổi chiều
làm em mệt sao, mặt mũi cứ nhợt nhạt ra, ai cũng biết là
bệnh cả. Vả lại, bây giờ em cần phải mập ra một tí.
Nàng xịu mặt xuống, em lúc nào cũng toàn xương cả, làm
sao mập nổi. Tôi im lặng. Nàng hỏi sang chuyện khác, lúc
này báo chí còn chống phá lung tung nữa không. Có trời biết
họ đang làm gì, trần gian mình lắm chuyện lắm, tôi nói
trong cách để nàng khỏi suy nghĩ. Anh nhà báo, anh biết chứ,
cô bé trở giọng bướng bĩnh. Câu hỏi thứ nhất về Thiền
em chưa hỏi mà, tôi vặn lại, thôi ngủ đi nghe chưa. Tôi
kéo mền phủ khắp người nàng.
***
Tôi
ngồi trên sàn nhà sắp xếp những bề bộn sách vở, áo quần
của nàng. Ðôi con búp bế nhựa thò đầu giữa đống lung
tung ấy, tóc vàng, mắt xanh, biết nhắm mắt, mở mắt. Tôi
nằm lăn ra giữa phòng ngủ vì mệt, tay còn ôm hai con búp
bê vào ngực. Buổi sáng thức dậy, nàng đang pha cà phê. Tôi
xin lỗi vì ngủ quên, đáng ra anh nên về nhà, những người
chung quanh có thể nói những lời không tốt. Nàng bảo không
sao, em cũng sắp theo ông Phật rồi, chẳng ai thắc mắc đâu,
mắt nàng vẫn nhìn tôi thăm dò. Tôi bảo, cuộc đời nhảm
lắm, họ bịa chuyện lung tung cho coi. Nàng bảo, anh cứ giải
thích thì họ phải tin thôi. Tin cái gì nhỉ, tôi băn khoăn,
nếu đêm qua em thôi không thở nữa, họ sẽ bảo gì đấy,
chẳng hạn như anh rape em, hay là lảm nhảm gì đấy. Cô bé
đem ly cà phê đặt trước mặt tôi, ẳm lên hai búp bê nhựa,
nói như với búp bê, chẳng sao cả các em nhỉ. Tôi không biết
nói thêm gì cho rõ hơn, em nghe này, thí dụ đấy, họ bảo
là chúng mình làm tình thì chẳng tốt cho em tí nào. Nàng mở
to mắt nhìn, nhưng mình có đâu, mà họ nói thì có sao đâu.
Tôi nhún vai và đứng dậy ôm nàng vào lòng. Nàng chỉ là
một đứa bé không bao giờ lớn. Nàng tựa đầu vào ngực
tôi, em không còn bao nhiêu ngày sống nữa. Tôi nói, em chỉ
là đứa bé sáu tuổi. Nàng bảo, còn anh là sáu tuổi rưỡi,
mắt nàng vẫn ngẩng nhìn lên, tay bấu chặt vai tôi.
Từ
đó, thỉnh thoảng tôi đến ngủ phòng nàng mỗi khi lười
về nhà hoặc có khi để làm nàng vui. Tôi không nằm trên
sàn nhà nữa, nàng dạy tôi mở chiếc ghế sofa ra làm giường.
Cũng hơi phiền vì phải dùng một tí sức và sự khéo léo
để mở được các lò so sắp rỉ sét bên trong ghế. Nhiều
ngày lên được phòng nàng, tôi trải túi ngủ ngay trên sàn
nhà và chui vào ngủ. Cách này tiện hơn dù nàng cứ lầu bầu
hoài. Tôi ngủ ở đây tiện cho việc ăn uống của tôi. Và
đôi phần cũng tiện cho sức khỏe của nàng. Nàng bảo, ngủ
một mình em sợ lắm. Sao lại sợ nhỉ, tôi giải thích rằng
tất cả những nỗi sợ đều không có thực. Em sợ đau đớn,
và đôi khi sợ chết nữa. Nàng nói nàng cảm được nỗi
đau len vào từng bắp thịt, thắt các cơ lại và di chuyển
qua lại dăm nơi trên cơ thể nàng. Còn sợ chết nữa, nàng
nói thật nhanh, em sợ không thấy anh nữa. Nếu em tập được
không suy nghĩ gì cả, tôi giải thích, thì sẽ không bao giờ
thấy được gì là sợ hãi với lo lắng. Nàng có vẻ không
tin bao nhiêu vào những điều như vậy.
***
Có
đôi tên nhà báo bắt đầu thắc mắc về hành động của
tôi. Họ xì xầm đôi điều và tôi nghe lại từ những nguồn
khác. Khi tin này được diễn dịch qua mấy bà vợ của họ
thì càng nghiêm trọng nữa. Tôi bảo với một tên bạn thân
của tôi, làm sao đính chính bây giờ, tội nghiệp cho cô bé
chứ. Tên này thuộc loại cũng chẳng bận tâm chuyện gì trên
đời, hắn chỉ gật gù bảo kệ. Tao chỉ ngồi canh bệnh
cho cô bé thôi, ai cũng có thể đoán như vậy, tôi nói. Thế
mày cũng nghĩ rằng tao làm tình với cô nàng à, tôi có vẻ
hơi quạu quọ khi phải nói như vậy. Biết làm sao được,
hắn bảo để hắn giải thích cho những nguồn tin kia im đi.
Tôi chỉ hy vọng cô bé không nghe gì cả. Nếu tôi biết có
ai nói gì với nàng, tôi sẽ vặn cổ hắn ngay.
"Phòng
cô bé là một pharmacy, còn tao là người canh bệnh. Hiểu chưa?"
Tôi đứng lên và nói gằn với tên bạn như vậy trước khi
về.
Thật
sự thì như vậy. Tôi đã sống đơn giản như vậy. Tôi chỉ
là kẻ săn sóc trần gian này, và trước tiên là cô bé. Thế
thôi.
Bệnh
nàng càng lúc càng nặng. Mùi thuốc lúc nào cũng bốc lên
ngợp cả phòng. Ban đêm nàng thường trằn trọc, bật đèn
dậy đọc sách, hoặc pha thuốc uống. Nàng nói, nỗi sợ của
nàng càng lúc càng tăng. Tôi nói biết sao bây giờ, cứ thở
đều đặn rồi sẽ ngủ quên thôi. Nàng nói có khi đau quá,
cứ nhìn thấy những hình ảnh dữ dội hiện ra trước mắt.
Tôi hỏi hình ảnh gì. Nàng nói hình ảnh trong những cuốn
sách về ma quỷ hay địa ngục gì đấy, đủ những thứ nàng
từng đọc hồi nhỏ. Tôi nói, khi nào em sợ cứ bật đèn
lên đọc sách, đừng lo anh mất ngủ, vì anh có thể ngủ
được trong mọi điều kiện.
Suốt
tuần như vậy, nàng than thở về sợ hãi, về sự chết. Tôi
cứ nằm vật ra trên sofa, giữa sàn nhà bề bộn đủ thứ,
bóp bóp hai con búp bê cho nó kêu những tiếng oa oa cho nàng
vui, rồi lại nói lảm nhảm về mọi chuyện trên đời cho
tới khi hoặc nàng ngủ quên hoặc tôi gục đầu vào đống
sách vở thiếp đi.
Thời
gian sau này chúng tôi không ra quán Baron nữa. Lý do chính là
không có tiền. Tiền tem thư và điện thoại của tôi còn
nhiều hơn tiền chợ. Tôi còn phải tiết kiệm sức khỏe
của nàng nữa chứ, đi đứng nhiều chỉ mệt thêm. Phòng
làm việc và nơi ăn ngủ của tôi bây giờ là ghế sofa của
nàng.
***
Một
chiều, nàng bảo tôi đưa nàng đi chơi. Tôi chở nàng ra Laguna
Beach, vào các shopping mall và trở về khi đêm xuống. Nàng
nói muốn vào Baron uống ly cà phê cuối cùng. Tôi ngạc nhiên
hỏi sao lại cuối cùng. Mặt nàng tái xanh, gầy nhợt nhạt.
Tôi cũng chìu nàng và nói sẽ làm mọi chuyện trên đời này
để làm nàng vui. Khi ngồi trong quán tự nhiên nàng chảy nước
mắt. Tôi hỏi sao vậy. Nàng nói buồn ngủ. Em không còn đau
đớn nữa, nhưng buồn ngủ lắm, tự nhiên buồn ngủ dễ
sợ. Và nàng gục đầu lên bàn, nước mắt còn ngấn mi và
nói để em ngủ. Tôi trả tiền và dìu nàng vào xe đưa về.
Tôi phải ẳm nàng lên cầu thang. Nàng nhẹ như bông. Ðầu
gục vào ngực tôi, mắt nhắm lại, nét mặt dịu dàng. Tôi
nghe như tiếng thì thầm khi đặt nàng xuống giường, em không
sợ nữa, không sợ gì nữa. Tay nàng vẫn níu chặt ngực áo
tôi. Trên khuôn mặt nàng hiện ra một vẻ bình yên làm tôi
vui. Nàng trở người và ôm chặt lấy tôi, đầu dúi vào ngực
tôi. Tôi kéo chăn đắp và ôm nàng ngủ. Sáng hôm sau nàng
không thức dậy nữa. Ðôi mắt nàng không bao giờ mở ra nữa.
Giọt nước mắt trên mí đã khô, nhưng nụ cười vẫn còn
tươi.
Sau
này, một người bạn bác sĩ cho biết những người bệnh
ung thư chết thường rất là đau đớn, vật vả. Tôi không
nói gì về cái chết bình yên của nàng, tôi không thích nói
những điều riêng tư. Tới bây giờ thường khi mỗi khi trở
giấc, tôi vẫn cảm thấy nàng đang dúi đầu vào ngực tôi,
gối đầu vào vai tôi, tóc nàng còn thơm mùi chanel vương vất
trên mặt tôi, vòng tay nhỏ nhắn của nàng vẫn ôm chặt tôi.
Mỗi khi cảm thấy như vậy, tôi lại đọc thầm ba biến Ðại
Bi cho nàng. Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ trên trần gian
này. Và nàng, cô bé kia đã một thời sợ hãi cuộc đời
và nay đã đi xa, thật xa. Còn gởi lại nụ cười. Thật tươi.
Ngay cả khi đôi mắt đã khép vĩnh viễn.
***
Nhiều
tuần sau, một chiều tôi trở lại Baron, ngồi đúng nơi bàn
chúng tôi thường ngồi. Ngoài trời bắt đầu tối. Tôi nhìn
qua những bàn trống và chợt nhớ lời nàng một hôm, chúng
ta đang trong ngôi nhà bệnh. Nơi này có bệnh? Tôi không biết.
Chỉ biết tôi đang nhớ nàng kinh khủng, nắm giẻ rách thơm
mùi bệnh viện của tôi.
Khi
đưa tay vào túi lục tiền, tôi thấy lại mảnh giấy hôm
trước ghi bài thơ. Tờ giấy nhăn nheo, rách bèo nhèo. Tôi
không dám mở ra đọc lại, chỉ nhét vội vào túi. Và khi
đứng dậy ra về, tôi đi như chạy.