PHẬT PHÁP
TRUYỆN NGẮN
THƠ
ĐỜI SỐNG 
TIN TỨC PHẬT GIÁO

SỐ 502 THÁNG 02 NĂM 2005 Xuân Ất Dậu
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2005
501
502
503
504
505
506
507
508
509
510
511
512
THỨC TỈNH VÀ TỈNH THỨC
Nhuận-Bảo
 (Niềm tri ân sâu thẳm vô bờ xin gởi về Bổn-Sư và Pháp-Sư kính mến.) 

Có người bạn đạo, thỉnh thoảng lại đến nhà chơi. Một hôm, anh ta tới thình lình, bắt gặp tôi đang đứng nhìn mấy lọ hoa treo ngoài hàng hiên. Có lẽ trông thấy hai ngón tay tôi vân vê, lướt chầm chậm trên từng hạt của xâu chuỗi bồ-đề, anh lấy làm lạ hỏi : "Sao ông tu Thiền mà lại lần chuỗi, chẳng khác những người niệm Lục-tự Hồng-danh theo pháp môn Tịnh-độ vậy?".  

Câu hỏi của ông bạn làm tôi bật cười, như chợt thấy trước mắt hình ảnh của hai thầy trò nhà kia đang chơi đuổi bắt, trong cái không gian hư tĩnh, thanh thoát ở chốn Thiền đường Dược-Sơn hồi thuở xa xưa. Người trò bị bịt mắt tìm cách bắt thầy; người thầy đánh tiếng trêu ghẹo, ngầm chỉ chỗ của mình, tạo thuận lợi cho người tìm nắm bắt, nhưng trò lại không thính tai, quyết đoán thiếu nhạy bén, lóng ngóng chậm chạp nên không sao chộp được thầy.  

"Thiền-sư Dược-Sơn Duy-Nghiễm tựa gối xem kinh. Một học tăng dưới trướng bắt gặp, liền chất vấn :
-"Hòa-thượng thường ngày không cho chúng con xem kinh, vì sao Ngài lại xem? "
Duy-Nghiễm đáp : "Ta xem chỉ là để che mắt thôi".
Vị học tăng hỏi tiếp : "Chúng con cũng học làm theo như Hòa-thượng được không? "
Duy-Nghiễm đáp : "Các ông mà xem thì đến da trâu cũng thủng nữa là…"

Tại sao Thiền-sư Duy-Nghiễm tự cho mình cái quyền được phép xem kinh mà lại không cho các học-tăng dưới trướng xem, lại còn hơn thế nữa, ngầm răn đe các ông ấy bằng một câu nghe ra không dễ chịu chút nào, rằng nếu các ông mà xem thì đến da trâu cũng thủng.

Mới nghe qua, có lẽ không ai trong chúng ta không khỏi có chút nghi ngờ ngài Duy-Nghiễm cũng như ấm ức giùm cho vị học tăng kia. Bỡi kinh là những lời thuyết giáo độ sanh của đức Phật mà ai ai cũng biết, thế thì nó có tội tình gì mà Ngài không cho các đệ tử của mình tham khảo, nghiên cứu?

Thật ra, chỉ bỡi một lẽ, ngài Duy-Nghiễm không đành lòng đứng nhìn các đệ tử thuộc hàng căn cơ, trí tuệ dưới trướng, vì một sự vô tình không đáng gì nhưng lại có thể làm trì trệ sự tu chứng, khiến họ phải tự lìa con đường tắt dấn bước sang con đường dài, nghĩa là đi lệch ra ngoài Tông-chỉ của Tổ-sư "giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật".

Con đường tắt độc đáo mà Ngài đã kinh qua, cũng như trước mắt, Ngài đang dẫn dắt các đệ tử "ruột" đã được lọc lựa kỹ càng và ngầm khuyên họ khéo vững bước trên đó, cứ thẳng một mạch mà đi, không nên nhìn ngang liếc dọc, để nhanh chóng tới đích, như lấy lửa bằng cách mồi đèn hay đánh diêm, mà không phải bằng dùi cây để có lửa. Cũng là phương tiện để có được lửa mà một đàng nhanh chóng, dứt khoát, hiệu lực tức thì, còn một đàng thì cần có thời gian lâu dài hơn.    

Với con mắt tuệ thấu suốt lẽ thật các pháp, với lòng từ bi bao dung quảng đại, ngài Duy-Nghiễm thầm mong các học trò mình sớm thành tựu công đức hy hữu (kiến tánh) bằng con đường ngắn nhất, nhưng phải thật đúng như pháp. Ngài hiểu rằng, sự háo hức mong cầu hiểu thiền, hiểu đạo rất dễ làm cho người học đạo tự xa lìa đạo, tự đánh mất đạo, tự gây chướng ngại cho việc giác ngộ bổn tánh. Đối với những học trò thân thương của mình, Ngài biết họ tường tận hơn ai hết và e ngại rằng, tâm lý nôn nóng, ham hiểu biết rất dễ khiến họ bị bản ngã ru ngủ và đánh lừa, vô tình chấp phương tiện làm cứu cánh, trước tướng văn tự kinh điển, tham lam tích góp kiến văn, cũng là tự trói buộc với tri thức sanh diệt (tri kiến lập tri tức vô minh), khiến con đường tự chứng giải thoát có thể bị kéo dài, uổng phí thời gian cũng như công phu tham học Không-Pháp bấy lâu.

Cho nên, trong trường hợp này, ngài Duy-Nghiễm đã từ chối cho các đệ tử của mình xem kinh là hoàn toàn chính đáng mà những ai hiểu được Ngài đều không thể thắc mắc.

Vô vàn các Thiền ngữ như mẫu vấn đáp vừa nêu, man mát trong rừng Phật học nói chung và Thiền-học Trung-hoa nói riêng, đã ngầm nói lên chỗ siêu việt của Tâm-tông, chỗ kỳ bí, nhiệm mầu của pháp giải thoát hy hữu, vi diệu, độc đáo, tức Chánh pháp Nhãn-tạng từ đức Phật, "Không pháp cũng là một pháp - Vô pháp pháp diệc pháp".
*
Không pháp trực tiếp "tâm truyền" giữa thầy và trò, giống như mồi đèn, mà trong chỗ âm thầm, kín nhiệm giữa tâm và tâm, sự khởi đầu và kết thúc của việc "truyền" và "thọ" thường xảy ra một cách đột ngột, tức thì, như cái tim đèn vốn sẵn chứa dầu, được mồi vào ngọn đèn đang cháy, nó tức khắc bừng sáng, tức khắc "đang-là", chan hòa chung cùng một tánh sáng, soi rọi sáng tỏ tất thảy. Với Tâm-tông, trong chỗ lặng lẽ, ẩn mật, người thầy một khi cảm thấy đã tới thời điểm thích hợp để có thể khai thị cho đệ tử thì liền bất ngờ đánh thức trực giác của người đối diện bằng phương tiện đặc biệt của riêng mình, khiến trò hốt nhiên bừng tỉnh.

Nói bừng tỉnh, tức ngay đó, bức tường kiên cố của tập nhiễm vô minh, cũng là cái tâm ý-thức mê lầm, phân biệt trói buộc theo khái niệm nhị nguyên vì chấp ngã chấp pháp bất chợt vỡ vụn, tan biến, khiến người trò hốt nhiên khế hợp diệu nghĩa Tâm-tông. Ngay trước mắt, "hiện" và "tại" thật hữu chơn thường, nhứt như, phi thời phi không, viên dung, tự tại, cũng là tự giác ngộ tánh biết bổn lai, cũng là chơn tâm, Phật tâm hiển lộ, tự chủ, sáng suốt, không lầm nhơn quả.

Chợt sáng tỏ tánh biết, cũng là bất giác biết mình từ lâu biết lầm, (thì tức khắc) cái chỗ lầm ấy liền mất, tức liền biết như thật.

Một sát na trước, do tập nhiễm vô minh che lấp tánh biết, khiến trong mê mờ tăm tối lầm nhận cái thức biết hư vọng làm thật ngã vì chấp, nên lẫn lộn thân phận chủ, khách, giả, chơn. Đang từ địa vị chủ nhân phi sanh diệt, lại vọng tưởng mình là khách, khiến tự thấy có nổi trôi, sống chết theo vọng nghiệp nhơn quả (trong chính thể tánh thanh tịnh, bất biến, tự tại mà vì một giấc mê mờ mình đã tự lìa, tự đánh mất, tự quên).

Một sát na sau thức tỉnh, cũng là hết mê, hết lầm, tức vô minh tan biến, tánh biết "biết" như thật tự tánh bổn lai chơn thiệt vô ngã, tuyệt đối, độc hữu diệu mầu, thanh tịnh, tự tại, không đến đi, không thêm bớt, không sạch nhơ, không còn mất, vô thỉ vô chung, cũng là chơn tâm, chơn ngã.

Nói chơn tâm, chơn ngã, cũng chỉ là một cách nhìn của ý niệm và tạm mượn từ để phô diễn về cái chỗ muốn đề cập, chứ thật ra không có một cái "chơn" nào mà miệng mồm, tri thức có thể với tới trong đây cả; bỡi một khi chợt tới chỗ hoàn toàn "chơn thiệt" như chính nó là, thì ngay ấy, chính mình cùng nó "đang-là", "một", liền sáng suốt biết như thật, tự ngã chơn thiệt vô ngã, cũng là tánh biết độc diệu bừng sáng, biết rõ ràng chơn thiệt mà nói không thể tới vì tuyệt vô đối đãi .

Nói độc hữu là chỉ thể tánh chơn thật, tuyệt đối, phi năng phi sở, chơn thường, tự tại.

Nói diệu mầu là chỉ tánh linh diệu, trọn thanh tịnh, tự tại, bất biến nhưng lại khéo sanh các pháp, mà từng mỗi mỗi pháp tuỳ duyên sanh khởi vẫn không hề mất diệu tánh thanh tịnh bổn lai.  

Khi mê lầm, tự thấy thân tâm này (cứ tạm ví dụ cho dễ hiểu, như  là một pháp trong muôn vạn ức pháp tuỳ duyên sanh khởi từ một pháp duy nhất bất biến, chơn thường) có đối đãi, ràng buộc, đến đi, sống chết trong nhơn quả, vì chấp có thật ngã, thật pháp.  Chợt tỉnh, hết lầm, tức biết bằng tánh biết thanh tịnh, tự tại, thì  liền rõ như thật, vạn pháp trước mắt, kể cả cái thân tướng huyễn giả mà mình đang đeo mang, cứ tự như, tuỳ duyên sanh diệt, đến đi mà không chỗ hệ luỵ tới tánh biết chơn thường, cũng là chơn tâm, Phật tâm. Chợt tỉnh, liền biết như thật, các huyễn pháp được mất, hơn thua, có không, nhơ sạch, cao thấp vv…. đều do vọng tâm sanh khởi vì chấp; chúng  biến hiện, mất còn trong thể tánh chơn thật, tự tại, mà không chỗ trói buộc tới nó, như hoa đốm xảy sanh trong không, như  mây trên trời ùn ùn xuất hiện, đủ hình đủ cảnh, hốt còn hốt mất mà không làm cho bầu trời mất đi tánh trong sáng tự nhiên như nhiên, thanh tịnh, bình đẳng, chưa từng suy suyển.

Do chúng sanh mê lầm, tự chấp các pháp tướng huyễn giả trong và ngoài thân làm thật có, như chấp những đám mây trên trời làm "thật ngã, thật pháp" mà không hề biết rằng, "thật ta" tự tại bất biến chẳng khác bầu trời trong trẻo, bất động không một vật kia nhưng lại khéo sanh ra những đám mây, khéo bao dung muôn vật. Vạn vật đến đi, thời gian thay đổi, bốn mùa vần xoay nhưng bầu trời thì vẫn vậy, chưa từng đổi thay, suy suyển. Vì lầm biết nên chúng sanh tự thấy mình như có đến đi, còn mất, thấy như có các pháp hơn thua, cao thấp, sang hèn, vinh nhục, đúng sai, phải trái … nên mới trôi lăn theo vọng nghiệp nhơn quả luân hồi.

Bừng sáng tánh biết, chẳng khác chiêm bao chợt tỉnh. Chiêm bao chợt tỉnh, liền tự rõ sự sự, vật vật xảy sanh trong mộng trước đó là chẳng phải thật, không chỗ dính dấp, trói buộc với thực tại đang tỉnh thức. Chợt sáng tánh biết bổn lai, liền biết như thật, tức biết không lầm, các pháp vui buồn, sướng khổ, cao thấp, hơn thua, lợi danh, sống chết, kể cả cái thân tướng đang động tay động chân, nghĩ suy, nói nín này đều là huyễn tướng, hư ảo, giả tạm, vọng sanh vọng diệt, như bóng trăng chập chờn trong nước, như mây biến hiện trên trời, còn tánh biết thì thường hằng, tự tại, bất biến, cũng là chơn ngã, thật ngã, ví như bầu trời trong trẻo tịch lặng kia.   
Cái giả như những bóng trăng trên biển nước, trăng trong những hạt sương bám đầu ngọn cỏ; những bóng ấy có đó rồi không đó, hiện đó rồi biến đó, tất thảy tuỳ duyên sanh diệt, không phải thật có. Từng mỗi mỗi mặt trăng trong nước đều là bóng của trăng thật, sẵn chứa tánh sáng của trăng thật. Nếu từng mỗi bóng trăng (trong nước) tự ngộ ra mình không phải một, chẳng phải hai cũng không phải khác với tánh sáng (tự tại) của trăng thật, thì liền thấy tự thâu nhiếp về một chỗ, không đến đi, không trôi nổi, không mất còn mà bình đẳng, tịch lặng, sáng chiếu đồng khắp. Đến đi, trôi nổi, mất còn rõ ràng chỉ là cái bóng huyễn giả của ánh trăng tuỳ duyên chiếu soi trên sóng nước, cũng là tướng sanh diệt, là dụng của tánh sáng kia duyên sanh, đến lúc hết duyên thì diệt. Nói thâu nhiếp về một chỗ, cũng là tạm gọi các huyễn pháp gồm thâu trở về một pháp duy nhất, bất biến, thanh tịnh, tịch lặng, sáng soi, bao trùm đồng khắp pháp giới; một pháp duy nhất cũng là chủ, chơn thường, tự tại, không đến đi, không còn mất, mà thường tuỳ duyên khéo sanh muôn pháp vậy.  

*
Trở lại câu chuyện của hai thầy trò ngài Duy-Nghiễm trốn bắt trên kia. Có lẽ không ít người trong chúng ta cùng có chung một thắc mắc, rằng tại sao ngài Duy-Nghiễm đang xem kinh, bị người dưới trướng bắt gặp tại trận, ấy thế mà Ngài lại nói rằng chỉ là để che mắt. Có phải Ngài che mắt thiệt không?  

Thật ra chúng ta cũng không lạ gì những câu đáp đại loại như trên của các Thiền-sư, vì đó là cách nói hoàn toàn chân thật mà những ai đã thật sự hiểu được các Ngài, thì đều biết rằng, nó chân thật đến tận đáy lòng, minh bạch đến từng ngọn tóc chân tơ, vì chỗ mà các Ngài đề cập (tất nhiên là các Ngài ngay trong ấy "đang-là"), tất thảy đều được phơi bày, rõ ràng, trần trụi, hiển nhiên, không gì che giấu. Thế nhưng đối với chúng ta, chỉ vì không cùng các Ngài một chỗ "thấy biết", nên ý nghĩa câu nói lại được hiểu như là một lời thách đố. Nghĩa là sao ?  Nghĩa là các Ngài như những người sáng mắt, nhìn thấy cảnh vật như thật. Còn chúng ta thì như những người mù. Dẫu những người sáng mắt kia có chỉ trỏ, nói năng, mô tả các sự vật hoặc như thế này, hoặc như thế kia thì chúng ta cũng chỉ biết chúng với không ít nghi ngờ, khó hiểu nhờ cái biết mường tượng bằng khái niệm, phân biệt mà thôi.

Cho nên, phải biết một điều rằng, cái nhìn xem, thấy biết của các Ngài hoàn toàn khác xa với cái nhìn xem,thấy biết của chúng ta.

Phàm phu như chúng ta "thấy và biết" sự sự, vật vật xảy sanh trong và ngoài thân bằng giác quan và cái tâm ý-thức, được ước lệ định danh định tính giả lập theo khái niệm nhị nguyên, trói buộc với thời, không, nhơn, quả, như lúc nào sự "thấy biết" ấy cũng được đặt lên hai đầu đòn cân để phân biệt thấp cao, lên xuống, nặng nhẹ, có không. Còn các Ngài thì thấy biết vượt quá khái niệm nhơn quả, thấy biết bao trùm, xuyên suốt, không dừng lại vào bất cứ gì, siêu vượt cái "lúc nào, ở đâu, ra sao, thế nào….vv…", nghĩa là thấy biết bằng tánh biết tự tại vô ngã, cũng là bằng cái tâm rổng rang, vô hạn lượng, vô trụ, vô đắc, vô phân biệt, như như không gì  hệ luỵ. 
 
Phải nói một cách chính xác rằng, vì tâm của các Ngài đã vượt thoát hệ luỵ nhơn quả, siêu vựơt bản ngã sanh diệt, nên ngôn ngữ xuất sanh từ cái tâm rổng rang, thanh tịnh, tự chúng cũng đã là lời giải thoát, tuông trào từ chỗ vô biên không gốc gác, nơi đến là vô cùng tận, không dừng lại vào bất cứ đâu, không vướng mắc vào bất cứ gì (vô sở trụ, vô sở đắc) phi không, phi thời, thông lưu vô ngại; lời của các Ngài tuông chảy bất tuyệt mà không lìa diệu tánh nhứt như thanh tịnh, nói mà thật không chỗ nói, làm mà thật không có chỗ làm vì không khởi ý trói buộc nhị nguyên nhơn quả, khiến vọng tâm ý thức bằng khái niệm, phân biệt của thế thường khó bề bắt nhịp, khó bề đồng điệu vì không chỗ nương vin. Đối với tri thức phàm tình, chỗ nói ấy cao xa quá, sâu thẳm quá, một chút để bám víu cũng không có.

Thật ra, từng mỗi lời nói, mỗi động tác của các Ngài, ở đâu và lúc nào cũng đều chân thật và minh bạch như nhau vì nói, làm mà không tác ý, không khởi duyên hệ luỵ nhơn quả; nghĩa là các Ngài vẫn nói vẫn làm mà không rời lìa bổn tánh thanh tịnh, tự tại, tức không một ý niệm sanh diệt vì chấp ngã chấp pháp khởi sanh. Các Ngài tuỳ thuận nhơn duyên mà nói, mà làm để cứu độ nhưng lại không trói buộc, vướng mắc với bất cứ gì.
Còn phàm phu chúng ta thì sao ? Từng lời nói, từng động thái nhỏ nhất đều hệ lụy nhơn quả vì tác ý, phân biệt, trói buộc. Bỡi thế, đối với chúng ta, những lời nói, những hành động của các Thiền-sư đều khó hiểu, khó nuốt trôi, đều có tính cách thách đố tri giác, nên chúng được gọi là những công án Thiền. Tuỳ hoàn cảnh, phước đức, trí tuệ của từng người mà các Ngài dùng cách nói thấp hay cao, dễ hay khó để khai thị, mà diệu nghĩa trong từng lời nói, từng hành động càng thâm sâu, bí hiểm bao nhiêu thì chỗ đạt ngộ của người tham học càng cao viễn bấy nhiêu.    

Thế nên, không phải ai ai cũng có thể trực tiếp thâm nhập được ngọn nguồn, mà chỉ những người phúc phận, hữu duyên với pháp của các Ngài thì tự có cơ thông lưu, nhuần thấm, chan hòa.

*
Thông thường, nếu mắt không có vấn đề gì thì chúng ta chỉ cần mở mắt là đã nhìn thấy rồi. Vừa chợt nhìn thấy, chúng ta liền biết, tức biết cái được thấy ấy bằng khái niệm theo một trật tự giả lập định sẵn của thế gian, là gì, ra sao, tại sao, thế nào, của ai … vv…. cùng với tự ngã tương quan, tương tác hay dính mắc ra sao. Chỉ cần nhìn là chúng ta đã thấy và biết ngay vì cái tâm ý-thức phân biệt, giống như một cái máy đo đa năng và nhạy bén với sự vật, giống như nam châm hút sắt, luôn rình rập để trói buộc lên sự vật được thấy, huống là chúng ta xem, là hành động có sự chú mục, lưu tâm, nghĩa là trong ý tưởng đã sẵn chực chờ có đối tượng để cho ta biết, để cho ta phê phán, phân biệt, hệ luỵ với nó rồi.  

Do vô minh tập nhiễm lâu đời nên chúng sanh nhận lầm cái tâm ý thức sanh diệt làm thật ngã, coi sự sự vật vật được ngũ quan và tâm ý-thức thừa nhận có tương quan, tương tác làm thật pháp, nên từ một lầm lẫn ban đầu mà kéo theo hàng loạt sai lầm có hệ thống, khiến thấy biết lẫn lộn, nghịch đảo, không phân biệt chủ khách, tự đánh mất chủ, tự lìa chủ, cùng khách trần bám víu nhau, nương tựa nhau, cùng trôi lăn theo vọng nghiệp nhơn quả, sanh diệt.

Còn chỗ thấy biết của các Thiền-sư là thấy biết bằng bổn tánh tự tại, sáng suốt, không lầm nhơn quả, thấy biết sau khi đã thức tỉnh (giác ngộ bổn tánh) và nói năng, hoạt dụng hoàn toàn trong trạng thái tỉnh thức, không lìa bổn tánh thanh tịnh.

Cho nên, câu nói chơn thật, minh bạch của ngài Duy-Nghiễm, "ta xem là chỉ để che mắt", thì trong trường hợp này nói riêng và Thiền-ngữ của các vị đắc pháp nói chung, sự nghĩ suy, hiểu biết của chúng ta về chúng thường không chính xác như các Ngài tự trong ấy "đang-là".  Nghĩa là đối với chúng ta, tuỳ cái tâm ý thức của từng người mà ai đó tự phán đoán và tin theo cách lý giải của mình để cho rằng Ngài đang che mắt như Ngài đã nói, thì cứ tạm coi như  Ngài thiệt đang che mắt, mà không chỗ dính dấp tới Ngài.  Còn như ai nghĩ Ngài đang xem kinh thật như vị học tăng kia đã thấy biết, thì cứ cho là Ngài đang xem kinh đi. Vì dù ai có nghĩ sao đi nữa thì những ý niệm này cũng không liên quan tới Ngài, bỡi sự suy non, đoán già ấy đều là chỗ dụng tri thức, không can hệ tới cái chỗ chơn thật "nhứt thiết pháp không" mà Ngài trong ấy "đang-là", không hai không khác. Cho nên, dù chúng ta có hiểu biết, có lý giải, biện bạch thế nọ thế kia về câu nói ấy, thì đối với riêng Ngài, chúng cũng đều trật lất vì không dính dấp, mặc dù chính Ngài có nói là chỉ để che mắt, nhưng phải hiểu đó cũng chỉ là một cách nói vượt thoát ngôn ngữ nhằm khai thị cho người căn cơ, có trực giác mạnh mẽ, mà nếu ai đó biết mượn cơ hội này tự nhìn vào trong khám phá chính mình, thì cũng có lúc tự đập vỡ được cái tâm ý thức nhầm lẫn cố hữu kia, khiến có cơ tự bừng sáng tánh biết bổn lai để cùng các Ngài đồng hội đồng thuyền .

Chữ (ở đây là nói chữ trong kinh) thì không khác, tức là những ký tự được con người đặt ra cốt để diễn tả tâm ý hay những gì muốn nói, nhưng chỗ nhìn, xem, thấy, biết của chúng ta và của các Thiền-sư đối với chữ nghĩa trong kinh thì lại hoàn toàn khác xa trời vực. Bỡi vì trong tận cùng chỗ sâu mầu, kín nhiệm, quả thực các Ngài xem mà không thấy, vì chỗ nói "xem" đó thật ra chỉ là cái sự nhìn vắng lặng, vô tâm, vô phân biệt, phi tác ý. Vạn pháp được diễn tả bằng chữ nghĩa, kể cả những ý tưởng, cứ trôi chảy truớc mắt các Ngài mà không chỗ dính dấp, cứ như mây bay mà không can hệ bầu trời. Và quả thật, các Ngài nhìn mà không thấy. Các Ngài thấy mà không biết.

Thế nào là nhìn mà không thấy? Không thấy ở đây là nói các Ngài không thấy bằng cái thấy trong một hạn cuộc hẹp hòi của nhục nhãn như thường tình thế gian, nghĩa là thấy bằng giác quan và tâm ý thức, bằng cái thấy chợt thấy là phân biệt, hệ luỵ vào khái niệm sanh diệt lên bất cứ một sự vật gì  được thấy do ý tưởng chấp ngã, chấp pháp ràng buộc cố hữu. Các ngài không thấy như chúng ta, mà thấy khác chúng ta. Các Ngài thấy bằng cái thấy thông lưu xuyên suốt, bao trùm, không có đối tượng để dừng lại, không một vật gì có thể ngăn ngại cái thấy thấu suốt của các Ngài, nghĩa là thấy bằng tánh thấy thanh tịnh, bất động, diệu mầu, như như, sáng suốt, vượt quá khái niệm sanh diệt, cái thấy vô sở trụ, rổng rang, vượt thoát nhơn quả, tạm ví như hư không đang lặng nhìn chúng ta. Mọi vật trước cái thấy của các Ngài đều dường như trong trẻo, có thể nhìn xuyên qua như nhìn một tấm gương trong, như như, không chỗ vướng mắc. Nên nói, nhìn mà không thấy, chứ chẳng phải không thấy vì con mắt có vấn đề hay bị đui chột.  

Có thể cho một ví dụ. "Một vị Quốc vương đến chùa thăm viếng một Thiền sư. Trong lúc hai người ngồi đàm đạo, Quốc vương có vẻ không bằng lòng hỏi:

- Sao Tôn-đức nói chuyện với Trẫm mà không nhìn Trẫm.

Vị Thiền sư hỏi lại: - Bệ hạ có thấy hư không trên kia chăng?

Đáp : - Thấy

Thế hư không nó có nhìn bệ hạ chăng?"

Tâm lòng thiền sư như hư không, rổng rang, vắng lặng, bao trùm, tự tại, khách chủ biện biệt phân minh, vạn pháp tự như trước mắt, cho nên dẫu có nhìn hay không nhìn cũng đều như nhau, không gì can hệ, vì toàn thể pháp giới đều là con mắt của Thiền-sư, là con mắt tuệ.   

Bỡi vậy, nói không thấy là nói không có đối tượng để cần thấy, không dính dấp, trói buộc tới cái được thấy vì tâm vô phân biệt. Cái thấy của các Ngài siêu vượt nhơn quả, sáng suốt, tự tại, thẳm sâu vô hạn lượng, không trụ vào bất cứ một sự vật nào, dù là một ý tưởng nhỏ nhoi.

Phải, cái thấy của các Thiền sư chẳng khác hư không trên cao lặng lẽ bất động nhìn ngắm muôn vật, trang trải, chan hoà, bình đẳng, chưa từng thiên vị, không chỗ vướng mắc, trói buộc.    

Thế nào là thấy mà không biết ? Thấy mà không biết ở đây là nói các Ngài thấy thì vẫn thấy (chứ có đui đâu)  nhưng không "biết" hay không "không biết" bằng cái biết hệ-luỵ với khái niệm lưỡng nguyên, tức chẳng phải biết hay chẳng phải không biết bằng cái tâm ý thức phân biệt vì chấp ngã chấp pháp, vọng niệm phân biệt trói buộc phàm tình, như biết sự vật gì, của ai, thế nào, tốt xấu, lành dữ, to nhỏ, hơn thua, cao thấp, phải trái ra sao vv và vv…. chứ chẳng phải là các Ngài không ngơ, không biết hay hôn trầm, mê muội mà không biết. Dùcác Ngài không khởi một niệm phân biệt nào, nhưng chẳng phải là các Ngài không biết sự sự vật vật lướt qua trước mắt, mà sự sự vật vật vẫn biện biệt rõ ràng; chỉ có điều bằng tánh biết biết như thật, tất thảy sự, vật trôi chảy trước mắt các Ngài đều như như, cũng có nghĩa là cái thấy biết rổng rang, vô ngã, vượt thoát hệ luỵ nhơn quả.  

Chữ trong kinh lướt qua trước mắt ngài Duy-Nghiễm. Ý kinh tương ưng, khế hợp tâm ý Ngài.

(Xin hiểu giùm, tâm ý không thật có, tức chẳng phải tâm ý, chỉ tạm gọi là tâm ý, cốt để bày tỏ cái chỗ muốn đề cập mà thôi) . Nghĩa là Ngài "đang là", tự "một" Phật tâm, để ngay đó, tự kiểm chứng sở học và đạo hạnh của hàng Bồ tát như Ngài, cũng đồng thời mượn những kinh nghiệm quí báu trong kinh làm phương tiện phát huy tuyệt học giải thoát của Thế tôn để cứu độ. 
 
Những câu chữ trong kinh lướt qua trước mắt Ngài, đối cùng tâm thể rổng rang, như như, không chỗ trói buộc, chẳng khác vị Quốc vương kia đối trước tâm thể như hư không của vị Thiền-sư ở trên, chẳng khác Thiện-Tài đồng tử hiu nhiên tự tại lướt đi khắp cùng pháp giới, vô ngã, vô trụ, vô đắc, viên mãn thanh tịnh. Nói luớt đi mà thật không chỗ lướt đi, chỉ tạm gọi là lướt đi, vì tánh biết tự tại, bình đẳng, bất động, bao trùm, xuyên suốt, đồng khắp pháp giới .     

Ngài Duy-Nghiễm tự đưa sự việc của chính mình ra làm phương tiện khai thị (chỉ là để che mắt, cũng là một cách nói đầy thách đố, khiến cho những người thượng căn, thượng trí không khỏi có chỗ nghi ngờ, trăn trở mà tự hỏi đi, hỏi lại chính mình, cũng là một cách tham thiền để tự khai ngộ),  vừa là lời cảnh báo bằng một hình ảnh hóm hỉnh, nhưng ý nghĩa chứa đựng lại không kém phần nghiêm khắc, pha lẫn chút miệt thị đối với những người nặng chấp kiến văn  (đại ý: -các ông mà xem thì vật dẫu dày như da trâu cũng thủng!).  Một câu nói ví bình dị, mộc mạc nhưng tác dụng lại thật tích cực, có ý nhắc nhở, cảnh giác rằng ngôn ngữ, văn tự, dù là lời của Tổ, Phật đi nữa, thì cũng chỉ là phương tiện tạm mượn để khai tâm mở trí, còn tự giác ngộ bổn tánh tự tại giải thoát mới là cứu cánh tối hậu. Thế nên, qua câu nói ví ở trên, ai dám bảo các Thiền sư khô khan, nghiêm nghị, không thích đùa?  Ngài Duy-Nghiễm đùa ngầm ấy chứ. Ngài đùa mà như thật. Vì suy cho cùng, trong cõi này cái gì là chẳng phải như thật, như đùa.

Nếu những ai đại duyên, đại phước-đức nhờ những câu nói như thật, như đùa ấy mà tự vượt thoát sự trói buộc của bản ngã, như con chim tự phá lồng tung cánh, tức tự bừng sáng tánh biết bổn lai, thì cứ tự nhiên nhảy cẫng hét to lên hay tủm tỉm cười thầm một mình thì cũng chẳng ai trách cứ, vì nếu đã như thế thì  có ai vào đây cùng mình dính dấp, can hệ.   

Cho nên, sở dĩ Ngài tự cho mình được phép xem kinh, mà không vội cho các đệ tử của mình xem, đó chẳng qua là vì, một đàng đã thức tỉnh, tức đã bừng tỉnh cơn mê và đang trong trạng thái hoàn toàn tỉnh thức, sáng suốt, tự tại, khách chủ phân minh, không gì hệ luỵ; còn một đàng thì đang ngủ mê, chấp cảnh mộng làm thật, lẫn lộn thiệt giả, khách chủ đảo ngược, trói buộc nhơn quả nên người tỉnh cần phải biết cảnh giác mọi tình huống để dẫn dắt người trong mộng ra khỏi cơn mê. Một khi đã chợt tỉnh, tức chỗ thấy biết cùng các Ngài không khác, thì lúc ấy dẫu muốn làm gì thì các Ngài cũng không ngăn cản. Cho nên, một người đang trong trạng thái tỉnh thức, sự sự vật vật đến đi, qua lại trước mắt đều không dính dấp tới người ấy, vì người ấy tự biết như thật ai là chủ, ai là khách, gì giả, gì chơn. Tự biết như thật mình là chủ, là tỉnh thức, là tự tại, sáng suốt, thì sự sự vật vật đến đi trong ta, xảy sanh trước mắt ta chẳng khác những khóm mây nổi trôi, tụ tán, biến hiện, mất còn mà không can hệ tới bầu trời, không làm cho bầu trời trong veo, bất biến, không một vật kia suy suyển một chút nào (phải hiểu giùm, dẫu nói đến từ "chơn thật" hay "không chơn" cũng chỉ là cách mượn từ tạm gọi, vì tánh biết tuyệt "một", không có "cái hai, cái khác" để so sánh, thì ai vào đây cùng nó đối đãi mà nói giả, nói chơn. Cho nên, nếu còn thấy có chỗ chơn, giả phân biệt là còn hệ luỵ nhơn quả, tức cái chơn kia vẫn còn là cái chơn "giả" được định danh định tính bằng khái niệm giả lập, chỗ tiến tới cái chơn thiệt trăm phần (nhứt như) thì còn trong trạng thái gãi ngứa ngoài giày, ngàn trùng xa cách, còn đủ bốn tướng sanh diệt. Tới được chỗ hoàn toàn chơn thiệt thì phi giả, phi chơn, bặt ngôn ngữ, tuyệt vô đối đãi, biết rõ ràng mà nói không thể tới).

Ví như bầu trời trong ngần, vô biên, vô hạn lượng kia, tuyệt một, vẫn luôn là vậy, vô thỉ chung, chưa từng sanh, chưa từng diệt, chưa từng thêm, chưa từng bớt, không sạch không nhơ, chơn thường vắng lặng, bất động, như như, chưa từng thốt lên một lời nào. Ngàn vạn máy bay dọc ngang gầm rú, xả khói phun hơi réo gọi ầm ầm, chợt đến chợt đi trong khoảnh khắc rồi thôi, không trung chẳng lưu dấu tích; ngàn vạn đại bác bắn vào không trung như khách viếng chủ, thoáng chốc rồi mất hút, tất cả cùng qua đi, trả lại sự thanh tịnh, vắng lặng cho bầu trời nguyên thuỷ. Bầu trời tạm ví như chủ, vạn sự vạn vật dưới gầm trời, trong không, từ trái đất tới mặt trời, mặt trăng, tinh tú, các loài trong các cõi, hiện đó rồi biến đó, sanh đó rồi diệt đó, thành đó rồi hoại đó, đến đi mất còn trong nó, tất thảy đều như là khách của không gian vô tận, mà với nó thì cứ tự như, không chỗ trói buộc.

Tâm thể chúng ta cũng tạm ví như thế. Nói tâm thể ta nhưng thật ra không có ta và tâm thể "phân biệt" trong đây, nghĩa là ta và nó (bản thể chơn thật) thiệt chẳng phải hai, chẳng phải khác, cũng không phải một, mà "nhứt như", thông lưu, xuyên suốt. Từng phút, từng sát na nó ra vào trên mặt mà chẳng chướng ngại với cái tướng huyễn sanh huyễn diệt này. Đó chính là chỗ linh diệu, huyền  mầu của tánh Phật chúng sanh, mà "ta" bằng xương bằng thịt ở đây là dụng của nó, là một pháp trong muôn vạn ức triệu pháp tuỳ duyên sanh diệt từ một pháp duy nhất bất biến chơn thường. "Ta"duyên sanh từ tánh diệu của bản thể chơn không, mất còn, biến hiện trong tánh diệu của bản thể chơn không. Tự tâm vắng lặng, không một niệm sanh, là lúc thể và dụng gần gũi, mà tự ta "trong ấy" biết như thật, nghĩa là cái biết của tri thức sanh diệt và tánh biết chơn thường thông lưu nhau, chỉ láy cái biết vượt trên thức biết một chút, cũng là trực giác mạnh mẽ, thì có thể trực ngộ chơn ngã, tức thức tỉnh, liền biết không lầm, vạn pháp là ta, biến hiện mất còn cũng chính trong ta mà không chỗ dính dấp tới "thật ta" bất biến, chơn thường hay sanh các pháp.  

Tới đây thì chắc ai trong chúng ta cũng đều có thể trả lời giùm câu hỏi của người bạn đạo ở trên, vì sao cái người đứng nhìn hoa kia, tu Thiền mà tay còn thường lần chuỗi như người niệm Lục tự Di-đà. Bỡi một lẽ dễ hiểu, cái kẻ cầm chuỗi kia, đạo học còn non kém, niệm mê còn nhiều hơn lúc tỉnh, nên anh ta mới phải nhờ tới cái phương tiện gần gũi nhất, đơn giản nhất là xâu chuỗi để tự nhắc nhở mình nên khéo tỉnh thức, cũng là cách tự canh chừng cái con khỉ thông minh, trí trá, năng động, tham lam, sân giận, không cho nó buông tuồng theo bản ngã, cũng tức là kéo dài tỉnh thức, không cho sự tỉnh thức gián đoạn. Nghĩa là, gìn giữ sự tỉnh thức, không lìa thực tại tuyệt đối, cũng là sống trọn trong chánh niệm như nhứt chơn không, vô ngã vô pháp, sáng suốt không lầm nhơn quả, cũng là không lìa tự tánh thanh tịnh, tức giải thoát tâm "đang-là", "một" đồng khắp pháp giới, bình đẳng, viên dung, an nhiên tự tại .
Pháp Phật cao sâu, nhiệm mầu, vi diệu.
 

 
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 1-2005
Down Load " Word Document" (WinZip File 326 KB)
   (Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số 409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS