THỨC
TỈNH VÀ TỈNH THỨC
Nhuận-Bảo
(Niềm
tri ân sâu thẳm vô bờ xin gởi về Bổn-Sư và Pháp-Sư kính
mến.)
Có
người bạn đạo, thỉnh thoảng lại đến nhà chơi. Một
hôm, anh ta tới thình lình, bắt gặp tôi đang đứng nhìn mấy
lọ hoa treo ngoài hàng hiên. Có lẽ trông thấy hai ngón tay
tôi vân vê, lướt chầm chậm trên từng hạt của xâu chuỗi
bồ-đề, anh lấy làm lạ hỏi : "Sao ông tu Thiền mà lại
lần chuỗi, chẳng khác những người niệm Lục-tự Hồng-danh
theo pháp môn Tịnh-độ vậy?".
Câu
hỏi của ông bạn làm tôi bật cười, như chợt thấy trước
mắt hình ảnh của hai thầy trò nhà kia đang chơi đuổi bắt,
trong cái không gian hư tĩnh, thanh thoát ở chốn Thiền đường
Dược-Sơn hồi thuở xa xưa. Người trò bị bịt mắt tìm
cách bắt thầy; người thầy đánh tiếng trêu ghẹo, ngầm
chỉ chỗ của mình, tạo thuận lợi cho người tìm nắm bắt,
nhưng trò lại không thính tai, quyết đoán thiếu nhạy bén,
lóng ngóng chậm chạp nên không sao chộp được thầy.
"Thiền-sư
Dược-Sơn Duy-Nghiễm tựa gối xem kinh. Một học tăng dưới
trướng bắt gặp, liền chất vấn :
-"Hòa-thượng
thường ngày không cho chúng con xem kinh, vì sao Ngài lại xem?
"
Duy-Nghiễm
đáp : "Ta xem chỉ là để che mắt thôi".
Vị
học tăng hỏi tiếp : "Chúng con cũng học làm theo như Hòa-thượng
được không? "
Duy-Nghiễm
đáp : "Các ông mà xem thì đến da trâu cũng thủng nữa là…"
Tại
sao Thiền-sư Duy-Nghiễm tự cho mình cái quyền được phép
xem kinh mà lại không cho các học-tăng dưới trướng xem, lại
còn hơn thế nữa, ngầm răn đe các ông ấy bằng một câu
nghe ra không dễ chịu chút nào, rằng nếu các ông mà xem thì
đến da trâu cũng thủng.
Mới
nghe qua, có lẽ không ai trong chúng ta không khỏi có chút nghi
ngờ ngài Duy-Nghiễm cũng như ấm ức giùm cho vị học tăng
kia. Bỡi kinh là những lời thuyết giáo độ sanh của đức
Phật mà ai ai cũng biết, thế thì nó có tội tình gì mà Ngài
không cho các đệ tử của mình tham khảo, nghiên cứu?
Thật
ra, chỉ bỡi một lẽ, ngài Duy-Nghiễm không đành lòng đứng
nhìn các đệ tử thuộc hàng căn cơ, trí tuệ dưới trướng,
vì một sự vô tình không đáng gì nhưng lại có thể làm
trì trệ sự tu chứng, khiến họ phải tự lìa con đường
tắt dấn bước sang con đường dài, nghĩa là đi lệch ra ngoài
Tông-chỉ của Tổ-sư "giáo ngoại biệt truyền, bất lập
văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật".
Con
đường tắt độc đáo mà Ngài đã kinh qua, cũng như trước
mắt, Ngài đang dẫn dắt các đệ tử "ruột" đã được lọc
lựa kỹ càng và ngầm khuyên họ khéo vững bước trên đó,
cứ thẳng một mạch mà đi, không nên nhìn ngang liếc dọc,
để nhanh chóng tới đích, như lấy lửa bằng cách mồi đèn
hay đánh diêm, mà không phải bằng dùi cây để có lửa. Cũng
là phương tiện để có được lửa mà một đàng nhanh chóng,
dứt khoát, hiệu lực tức thì, còn một đàng thì cần có
thời gian lâu dài hơn.
Với
con mắt tuệ thấu suốt lẽ thật các pháp, với lòng từ
bi bao dung quảng đại, ngài Duy-Nghiễm thầm mong các học trò
mình sớm thành tựu công đức hy hữu (kiến tánh) bằng con
đường ngắn nhất, nhưng phải thật đúng như pháp. Ngài
hiểu rằng, sự háo hức mong cầu hiểu thiền, hiểu đạo
rất dễ làm cho người học đạo tự xa lìa đạo, tự đánh
mất đạo, tự gây chướng ngại cho việc giác ngộ bổn tánh.
Đối với những học trò thân thương của mình, Ngài biết
họ tường tận hơn ai hết và e ngại rằng, tâm lý nôn nóng,
ham hiểu biết rất dễ khiến họ bị bản ngã ru ngủ và
đánh lừa, vô tình chấp phương tiện làm cứu cánh, trước
tướng văn tự kinh điển, tham lam tích góp kiến văn, cũng
là tự trói buộc với tri thức sanh diệt (tri kiến lập tri
tức vô minh), khiến con đường tự chứng giải thoát có thể
bị kéo dài, uổng phí thời gian cũng như công phu tham học
Không-Pháp bấy lâu.
Cho
nên, trong trường hợp này, ngài Duy-Nghiễm đã từ chối cho
các đệ tử của mình xem kinh là hoàn toàn chính đáng mà
những ai hiểu được Ngài đều không thể thắc mắc.
Vô
vàn các Thiền ngữ như mẫu vấn đáp vừa nêu, man mát trong
rừng Phật học nói chung và Thiền-học Trung-hoa nói riêng,
đã ngầm nói lên chỗ siêu việt của Tâm-tông, chỗ kỳ bí,
nhiệm mầu của pháp giải thoát hy hữu, vi diệu, độc đáo,
tức Chánh pháp Nhãn-tạng từ đức Phật, "Không pháp cũng
là một pháp - Vô pháp pháp diệc pháp".
*
Không
pháp trực tiếp "tâm truyền" giữa thầy và trò, giống như
mồi đèn, mà trong chỗ âm thầm, kín nhiệm giữa tâm và tâm,
sự khởi đầu và kết thúc của việc "truyền" và "thọ"
thường xảy ra một cách đột ngột, tức thì, như cái tim
đèn vốn sẵn chứa dầu, được mồi vào ngọn đèn đang
cháy, nó tức khắc bừng sáng, tức khắc "đang-là", chan hòa
chung cùng một tánh sáng, soi rọi sáng tỏ tất thảy. Với
Tâm-tông, trong chỗ lặng lẽ, ẩn mật, người thầy một
khi cảm thấy đã tới thời điểm thích hợp để có thể
khai thị cho đệ tử thì liền bất ngờ đánh thức trực
giác của người đối diện bằng phương tiện đặc biệt
của riêng mình, khiến trò hốt nhiên bừng tỉnh.
Nói
bừng tỉnh, tức ngay đó, bức tường kiên cố của tập nhiễm
vô minh, cũng là cái tâm ý-thức mê lầm, phân biệt trói buộc
theo khái niệm nhị nguyên vì chấp ngã chấp pháp bất chợt
vỡ vụn, tan biến, khiến người trò hốt nhiên khế hợp
diệu nghĩa Tâm-tông. Ngay trước mắt, "hiện" và "tại" thật
hữu chơn thường, nhứt như, phi thời phi không, viên dung,
tự tại, cũng là tự giác ngộ tánh biết bổn lai, cũng là
chơn tâm, Phật tâm hiển lộ, tự chủ, sáng suốt, không lầm
nhơn quả.
Chợt
sáng tỏ tánh biết, cũng là bất giác biết mình từ lâu biết
lầm, (thì tức khắc) cái chỗ lầm ấy liền mất, tức liền
biết như thật.
Một
sát na trước, do tập nhiễm vô minh che lấp tánh biết, khiến
trong mê mờ tăm tối lầm nhận cái thức biết hư vọng làm
thật ngã vì chấp, nên lẫn lộn thân phận chủ, khách, giả,
chơn. Đang từ địa vị chủ nhân phi sanh diệt, lại vọng
tưởng mình là khách, khiến tự thấy có nổi trôi, sống
chết theo vọng nghiệp nhơn quả (trong chính thể tánh thanh
tịnh, bất biến, tự tại mà vì một giấc mê mờ mình đã
tự lìa, tự đánh mất, tự quên).
Một
sát na sau thức tỉnh, cũng là hết mê, hết lầm, tức vô
minh tan biến, tánh biết "biết" như thật tự tánh bổn lai
chơn thiệt vô ngã, tuyệt đối, độc hữu diệu mầu, thanh
tịnh, tự tại, không đến đi, không thêm bớt, không sạch
nhơ, không còn mất, vô thỉ vô chung, cũng là chơn tâm, chơn
ngã.
Nói
chơn tâm, chơn ngã, cũng chỉ là một cách nhìn của ý niệm
và tạm mượn từ để phô diễn về cái chỗ muốn đề cập,
chứ thật ra không có một cái "chơn" nào mà miệng mồm, tri
thức có thể với tới trong đây cả; bỡi một khi chợt tới
chỗ hoàn toàn "chơn thiệt" như chính nó là, thì ngay ấy,
chính mình cùng nó "đang-là", "một", liền sáng suốt biết
như thật, tự ngã chơn thiệt vô ngã, cũng là tánh biết độc
diệu bừng sáng, biết rõ ràng chơn thiệt mà nói không thể
tới vì tuyệt vô đối đãi .
Nói
độc hữu là chỉ thể tánh chơn thật, tuyệt đối, phi năng
phi sở, chơn thường, tự tại.
Nói
diệu mầu là chỉ tánh linh diệu, trọn thanh tịnh, tự tại,
bất biến nhưng lại khéo sanh các pháp, mà từng mỗi mỗi
pháp tuỳ duyên sanh khởi vẫn không hề mất diệu tánh thanh
tịnh bổn lai.
Khi
mê lầm, tự thấy thân tâm này (cứ tạm ví dụ cho dễ hiểu,
như là một pháp trong muôn vạn ức pháp tuỳ duyên sanh
khởi từ một pháp duy nhất bất biến, chơn thường) có đối
đãi, ràng buộc, đến đi, sống chết trong nhơn quả, vì chấp
có thật ngã, thật pháp. Chợt tỉnh, hết lầm, tức
biết bằng tánh biết thanh tịnh, tự tại, thì liền
rõ như thật, vạn pháp trước mắt, kể cả cái thân tướng
huyễn giả mà mình đang đeo mang, cứ tự như, tuỳ duyên sanh
diệt, đến đi mà không chỗ hệ luỵ tới tánh biết chơn
thường, cũng là chơn tâm, Phật tâm. Chợt tỉnh, liền biết
như thật, các huyễn pháp được mất, hơn thua, có không,
nhơ sạch, cao thấp vv…. đều do vọng tâm sanh khởi vì chấp;
chúng biến hiện, mất còn trong thể tánh chơn thật,
tự tại, mà không chỗ trói buộc tới nó, như hoa đốm xảy
sanh trong không, như mây trên trời ùn ùn xuất hiện,
đủ hình đủ cảnh, hốt còn hốt mất mà không làm cho bầu
trời mất đi tánh trong sáng tự nhiên như nhiên, thanh tịnh,
bình đẳng, chưa từng suy suyển.
Do
chúng sanh mê lầm, tự chấp các pháp tướng huyễn giả trong
và ngoài thân làm thật có, như chấp những đám mây trên
trời làm "thật ngã, thật pháp" mà không hề biết rằng,
"thật ta" tự tại bất biến chẳng khác bầu trời trong trẻo,
bất động không một vật kia nhưng lại khéo sanh ra những
đám mây, khéo bao dung muôn vật. Vạn vật đến đi, thời
gian thay đổi, bốn mùa vần xoay nhưng bầu trời thì vẫn
vậy, chưa từng đổi thay, suy suyển. Vì lầm biết nên chúng
sanh tự thấy mình như có đến đi, còn mất, thấy như có
các pháp hơn thua, cao thấp, sang hèn, vinh nhục, đúng sai, phải
trái … nên mới trôi lăn theo vọng nghiệp nhơn quả luân
hồi.
Bừng
sáng tánh biết, chẳng khác chiêm bao chợt tỉnh. Chiêm bao
chợt tỉnh, liền tự rõ sự sự, vật vật xảy sanh trong
mộng trước đó là chẳng phải thật, không chỗ dính dấp,
trói buộc với thực tại đang tỉnh thức. Chợt sáng tánh
biết bổn lai, liền biết như thật, tức biết không lầm,
các pháp vui buồn, sướng khổ, cao thấp, hơn thua, lợi danh,
sống chết, kể cả cái thân tướng đang động tay động
chân, nghĩ suy, nói nín này đều là huyễn tướng, hư ảo,
giả tạm, vọng sanh vọng diệt, như bóng trăng chập chờn
trong nước, như mây biến hiện trên trời, còn tánh biết
thì thường hằng, tự tại, bất biến, cũng là chơn ngã,
thật ngã, ví như bầu trời trong trẻo tịch lặng kia.
Cái
giả như những bóng trăng trên biển nước, trăng trong những
hạt sương bám đầu ngọn cỏ; những bóng ấy có đó rồi
không đó, hiện đó rồi biến đó, tất thảy tuỳ duyên sanh
diệt, không phải thật có. Từng mỗi mỗi mặt trăng trong
nước đều là bóng của trăng thật, sẵn chứa tánh sáng
của trăng thật. Nếu từng mỗi bóng trăng (trong nước) tự
ngộ ra mình không phải một, chẳng phải hai cũng không phải
khác với tánh sáng (tự tại) của trăng thật, thì liền thấy
tự thâu nhiếp về một chỗ, không đến đi, không trôi nổi,
không mất còn mà bình đẳng, tịch lặng, sáng chiếu đồng
khắp. Đến đi, trôi nổi, mất còn rõ ràng chỉ là cái bóng
huyễn giả của ánh trăng tuỳ duyên chiếu soi trên sóng nước,
cũng là tướng sanh diệt, là dụng của tánh sáng kia duyên
sanh, đến lúc hết duyên thì diệt. Nói thâu nhiếp về một
chỗ, cũng là tạm gọi các huyễn pháp gồm thâu trở về
một pháp duy nhất, bất biến, thanh tịnh, tịch lặng, sáng
soi, bao trùm đồng khắp pháp giới; một pháp duy nhất cũng
là chủ, chơn thường, tự tại, không đến đi, không còn
mất, mà thường tuỳ duyên khéo sanh muôn pháp vậy.
*
Trở
lại câu chuyện của hai thầy trò ngài Duy-Nghiễm trốn bắt
trên kia. Có lẽ không ít người trong chúng ta cùng có chung
một thắc mắc, rằng tại sao ngài Duy-Nghiễm đang xem kinh,
bị người dưới trướng bắt gặp tại trận, ấy thế mà
Ngài lại nói rằng chỉ là để che mắt. Có phải Ngài che
mắt thiệt không?
Thật
ra chúng ta cũng không lạ gì những câu đáp đại loại như
trên của các Thiền-sư, vì đó là cách nói hoàn toàn chân
thật mà những ai đã thật sự hiểu được các Ngài, thì
đều biết rằng, nó chân thật đến tận đáy lòng, minh bạch
đến từng ngọn tóc chân tơ, vì chỗ mà các Ngài đề cập
(tất nhiên là các Ngài ngay trong ấy "đang-là"), tất thảy
đều được phơi bày, rõ ràng, trần trụi, hiển nhiên, không
gì che giấu. Thế nhưng đối với chúng ta, chỉ vì không cùng
các Ngài một chỗ "thấy biết", nên ý nghĩa câu nói lại
được hiểu như là một lời thách đố. Nghĩa là sao ?
Nghĩa là các Ngài như những người sáng mắt, nhìn thấy cảnh
vật như thật. Còn chúng ta thì như những người mù. Dẫu
những người sáng mắt kia có chỉ trỏ, nói năng, mô tả
các sự vật hoặc như thế này, hoặc như thế kia thì chúng
ta cũng chỉ biết chúng với không ít nghi ngờ, khó hiểu nhờ
cái biết mường tượng bằng khái niệm, phân biệt mà thôi.
Cho
nên, phải biết một điều rằng, cái nhìn xem, thấy biết
của các Ngài hoàn toàn khác xa với cái nhìn xem,thấy biết
của chúng ta.
Phàm
phu như chúng ta "thấy và biết" sự sự, vật vật xảy sanh
trong và ngoài thân bằng giác quan và cái tâm ý-thức, được
ước lệ định danh định tính giả lập theo khái niệm nhị
nguyên, trói buộc với thời, không, nhơn, quả, như lúc nào
sự "thấy biết" ấy cũng được đặt lên hai đầu đòn cân
để phân biệt thấp cao, lên xuống, nặng nhẹ, có không.
Còn các Ngài thì thấy biết vượt quá khái niệm nhơn quả,
thấy biết bao trùm, xuyên suốt, không dừng lại vào bất
cứ gì, siêu vượt cái "lúc nào, ở đâu, ra sao, thế nào….vv…",
nghĩa là thấy biết bằng tánh biết tự tại vô ngã, cũng
là bằng cái tâm rổng rang, vô hạn lượng, vô trụ, vô đắc,
vô phân biệt, như như không gì hệ luỵ.
Phải
nói một cách chính xác rằng, vì tâm của các Ngài đã vượt
thoát hệ luỵ nhơn quả, siêu vựơt bản ngã sanh diệt, nên
ngôn ngữ xuất sanh từ cái tâm rổng rang, thanh tịnh, tự
chúng cũng đã là lời giải thoát, tuông trào từ chỗ vô
biên không gốc gác, nơi đến là vô cùng tận, không dừng
lại vào bất cứ đâu, không vướng mắc vào bất cứ gì
(vô sở trụ, vô sở đắc) phi không, phi thời, thông lưu vô
ngại; lời của các Ngài tuông chảy bất tuyệt mà không lìa
diệu tánh nhứt như thanh tịnh, nói mà thật không chỗ nói,
làm mà thật không có chỗ làm vì không khởi ý trói buộc
nhị nguyên nhơn quả, khiến vọng tâm ý thức bằng khái niệm,
phân biệt của thế thường khó bề bắt nhịp, khó bề đồng
điệu vì không chỗ nương vin. Đối với tri thức phàm tình,
chỗ nói ấy cao xa quá, sâu thẳm quá, một chút để bám víu
cũng không có.
Thật
ra, từng mỗi lời nói, mỗi động tác của các Ngài, ở đâu
và lúc nào cũng đều chân thật và minh bạch như nhau vì nói,
làm mà không tác ý, không khởi duyên hệ luỵ nhơn quả; nghĩa
là các Ngài vẫn nói vẫn làm mà không rời lìa bổn tánh
thanh tịnh, tự tại, tức không một ý niệm sanh diệt vì
chấp ngã chấp pháp khởi sanh. Các Ngài tuỳ thuận nhơn duyên
mà nói, mà làm để cứu độ nhưng lại không trói buộc,
vướng mắc với bất cứ gì.
Còn
phàm phu chúng ta thì sao ? Từng lời nói, từng động thái
nhỏ nhất đều hệ lụy nhơn quả vì tác ý, phân biệt, trói
buộc. Bỡi thế, đối với chúng ta, những lời nói, những
hành động của các Thiền-sư đều khó hiểu, khó nuốt trôi,
đều có tính cách thách đố tri giác, nên chúng được gọi
là những công án Thiền. Tuỳ hoàn cảnh, phước đức, trí
tuệ của từng người mà các Ngài dùng cách nói thấp hay
cao, dễ hay khó để khai thị, mà diệu nghĩa trong từng lời
nói, từng hành động càng thâm sâu, bí hiểm bao nhiêu thì
chỗ đạt ngộ của người tham học càng cao viễn bấy nhiêu.
Thế
nên, không phải ai ai cũng có thể trực tiếp thâm nhập được
ngọn nguồn, mà chỉ những người phúc phận, hữu duyên với
pháp của các Ngài thì tự có cơ thông lưu, nhuần thấm, chan
hòa.
*
Thông
thường, nếu mắt không có vấn đề gì thì chúng ta chỉ
cần mở mắt là đã nhìn thấy rồi. Vừa chợt nhìn thấy,
chúng ta liền biết, tức biết cái được thấy ấy bằng
khái niệm theo một trật tự giả lập định sẵn của thế
gian, là gì, ra sao, tại sao, thế nào, của ai … vv…. cùng
với tự ngã tương quan, tương tác hay dính mắc ra sao. Chỉ
cần nhìn là chúng ta đã thấy và biết ngay vì cái tâm ý-thức
phân biệt, giống như một cái máy đo đa năng và nhạy bén
với sự vật, giống như nam châm hút sắt, luôn rình rập
để trói buộc lên sự vật được thấy, huống là chúng
ta xem, là hành động có sự chú mục, lưu tâm, nghĩa là trong
ý tưởng đã sẵn chực chờ có đối tượng để cho ta biết,
để cho ta phê phán, phân biệt, hệ luỵ với nó rồi.
Do
vô minh tập nhiễm lâu đời nên chúng sanh nhận lầm cái tâm
ý thức sanh diệt làm thật ngã, coi sự sự vật vật được
ngũ quan và tâm ý-thức thừa nhận có tương quan, tương tác
làm thật pháp, nên từ một lầm lẫn ban đầu mà kéo theo
hàng loạt sai lầm có hệ thống, khiến thấy biết lẫn lộn,
nghịch đảo, không phân biệt chủ khách, tự đánh mất chủ,
tự lìa chủ, cùng khách trần bám víu nhau, nương tựa nhau,
cùng trôi lăn theo vọng nghiệp nhơn quả, sanh diệt.
Còn
chỗ thấy biết của các Thiền-sư là thấy biết bằng bổn
tánh tự tại, sáng suốt, không lầm nhơn quả, thấy biết
sau khi đã thức tỉnh (giác ngộ bổn tánh) và nói năng, hoạt
dụng hoàn toàn trong trạng thái tỉnh thức, không lìa bổn
tánh thanh tịnh.
Cho
nên, câu nói chơn thật, minh bạch của ngài Duy-Nghiễm, "ta
xem là chỉ để che mắt", thì trong trường hợp này nói riêng
và Thiền-ngữ của các vị đắc pháp nói chung, sự nghĩ suy,
hiểu biết của chúng ta về chúng thường không chính xác
như các Ngài tự trong ấy "đang-là". Nghĩa là đối với
chúng ta, tuỳ cái tâm ý thức của từng người mà ai đó
tự phán đoán và tin theo cách lý giải của mình để cho rằng
Ngài đang che mắt như Ngài đã nói, thì cứ tạm coi như
Ngài thiệt đang che mắt, mà không chỗ dính dấp tới Ngài.
Còn như ai nghĩ Ngài đang xem kinh thật như vị học tăng kia
đã thấy biết, thì cứ cho là Ngài đang xem kinh đi. Vì dù
ai có nghĩ sao đi nữa thì những ý niệm này cũng không liên
quan tới Ngài, bỡi sự suy non, đoán già ấy đều là chỗ
dụng tri thức, không can hệ tới cái chỗ chơn thật "nhứt
thiết pháp không" mà Ngài trong ấy "đang-là", không hai không
khác. Cho nên, dù chúng ta có hiểu biết, có lý giải, biện
bạch thế nọ thế kia về câu nói ấy, thì đối với riêng
Ngài, chúng cũng đều trật lất vì không dính dấp, mặc dù
chính Ngài có nói là chỉ để che mắt, nhưng phải hiểu đó
cũng chỉ là một cách nói vượt thoát ngôn ngữ nhằm khai
thị cho người căn cơ, có trực giác mạnh mẽ, mà nếu ai
đó biết mượn cơ hội này tự nhìn vào trong khám phá chính
mình, thì cũng có lúc tự đập vỡ được cái tâm ý thức
nhầm lẫn cố hữu kia, khiến có cơ tự bừng sáng tánh biết
bổn lai để cùng các Ngài đồng hội đồng thuyền .
Chữ
(ở đây là nói chữ trong kinh) thì không khác, tức là những
ký tự được con người đặt ra cốt để diễn tả tâm ý
hay những gì muốn nói, nhưng chỗ nhìn, xem, thấy, biết của
chúng ta và của các Thiền-sư đối với chữ nghĩa trong kinh
thì lại hoàn toàn khác xa trời vực. Bỡi vì trong tận cùng
chỗ sâu mầu, kín nhiệm, quả thực các Ngài xem mà không
thấy, vì chỗ nói "xem" đó thật ra chỉ là cái sự nhìn vắng
lặng, vô tâm, vô phân biệt, phi tác ý. Vạn pháp được diễn
tả bằng chữ nghĩa, kể cả những ý tưởng, cứ trôi chảy
truớc mắt các Ngài mà không chỗ dính dấp, cứ như mây bay
mà không can hệ bầu trời. Và quả thật, các Ngài nhìn mà
không thấy. Các Ngài thấy mà không biết.
Thế
nào là nhìn mà không thấy? Không thấy ở đây là nói các
Ngài không thấy bằng cái thấy trong một hạn cuộc hẹp hòi
của nhục nhãn như thường tình thế gian, nghĩa là thấy bằng
giác quan và tâm ý thức, bằng cái thấy chợt thấy là phân
biệt, hệ luỵ vào khái niệm sanh diệt lên bất cứ một
sự vật gì được thấy do ý tưởng chấp ngã, chấp
pháp ràng buộc cố hữu. Các ngài không thấy như chúng ta,
mà thấy khác chúng ta. Các Ngài thấy bằng cái thấy thông
lưu xuyên suốt, bao trùm, không có đối tượng để dừng
lại, không một vật gì có thể ngăn ngại cái thấy thấu
suốt của các Ngài, nghĩa là thấy bằng tánh thấy thanh tịnh,
bất động, diệu mầu, như như, sáng suốt, vượt quá khái
niệm sanh diệt, cái thấy vô sở trụ, rổng rang, vượt thoát
nhơn quả, tạm ví như hư không đang lặng nhìn chúng ta. Mọi
vật trước cái thấy của các Ngài đều dường như trong
trẻo, có thể nhìn xuyên qua như nhìn một tấm gương trong,
như như, không chỗ vướng mắc. Nên nói, nhìn mà không thấy,
chứ chẳng phải không thấy vì con mắt có vấn đề hay bị
đui chột.
Có
thể cho một ví dụ. "Một vị Quốc vương đến chùa thăm
viếng một Thiền sư. Trong lúc hai người ngồi đàm đạo,
Quốc vương có vẻ không bằng lòng hỏi:
- Sao
Tôn-đức nói chuyện với Trẫm mà không nhìn Trẫm.
Vị
Thiền sư hỏi lại: - Bệ hạ có thấy hư không trên kia chăng?
Đáp
: - Thấy
Thế
hư không nó có nhìn bệ hạ chăng?"
Tâm
lòng thiền sư như hư không, rổng rang, vắng lặng, bao trùm,
tự tại, khách chủ biện biệt phân minh, vạn pháp tự như
trước mắt, cho nên dẫu có nhìn hay không nhìn cũng đều
như nhau, không gì can hệ, vì toàn thể pháp giới đều là
con mắt của Thiền-sư, là con mắt tuệ.
Bỡi
vậy, nói không thấy là nói không có đối tượng để cần
thấy, không dính dấp, trói buộc tới cái được thấy vì
tâm vô phân biệt. Cái thấy của các Ngài siêu vượt nhơn
quả, sáng suốt, tự tại, thẳm sâu vô hạn lượng, không
trụ vào bất cứ một sự vật nào, dù là một ý tưởng
nhỏ nhoi.
Phải,
cái thấy của các Thiền sư chẳng khác hư không trên cao lặng
lẽ bất động nhìn ngắm muôn vật, trang trải, chan hoà, bình
đẳng, chưa từng thiên vị, không chỗ vướng mắc, trói buộc.
Thế
nào là thấy mà không biết ? Thấy mà không biết ở đây
là nói các Ngài thấy thì vẫn thấy (chứ có đui đâu)
nhưng không "biết" hay không "không biết" bằng cái biết hệ-luỵ
với khái niệm lưỡng nguyên, tức chẳng phải biết hay chẳng
phải không biết bằng cái tâm ý thức phân biệt vì chấp
ngã chấp pháp, vọng niệm phân biệt trói buộc phàm tình,
như biết sự vật gì, của ai, thế nào, tốt xấu, lành dữ,
to nhỏ, hơn thua, cao thấp, phải trái ra sao vv và vv…. chứ
chẳng phải là các Ngài không ngơ, không biết hay hôn trầm,
mê muội mà không biết. Dùcác Ngài không khởi một niệm
phân biệt nào, nhưng chẳng phải là các Ngài không biết sự
sự vật vật lướt qua trước mắt, mà sự sự vật vật
vẫn biện biệt rõ ràng; chỉ có điều bằng tánh biết biết
như thật, tất thảy sự, vật trôi chảy trước mắt các
Ngài đều như như, cũng có nghĩa là cái thấy biết rổng
rang, vô ngã, vượt thoát hệ luỵ nhơn quả.
Chữ
trong kinh lướt qua trước mắt ngài Duy-Nghiễm. Ý kinh tương
ưng, khế hợp tâm ý Ngài.
(Xin
hiểu giùm, tâm ý không thật có, tức chẳng phải tâm ý,
chỉ tạm gọi là tâm ý, cốt để bày tỏ cái chỗ muốn
đề cập mà thôi) . Nghĩa là Ngài "đang là", tự "một" Phật
tâm, để ngay đó, tự kiểm chứng sở học và đạo hạnh
của hàng Bồ tát như Ngài, cũng đồng thời mượn những
kinh nghiệm quí báu trong kinh làm phương tiện phát huy tuyệt
học giải thoát của Thế tôn để cứu độ.
Những
câu chữ trong kinh lướt qua trước mắt Ngài, đối cùng tâm
thể rổng rang, như như, không chỗ trói buộc, chẳng khác
vị Quốc vương kia đối trước tâm thể như hư không của
vị Thiền-sư ở trên, chẳng khác Thiện-Tài đồng tử hiu
nhiên tự tại lướt đi khắp cùng pháp giới, vô ngã, vô
trụ, vô đắc, viên mãn thanh tịnh. Nói luớt đi mà thật
không chỗ lướt đi, chỉ tạm gọi là lướt đi, vì tánh
biết tự tại, bình đẳng, bất động, bao trùm, xuyên suốt,
đồng khắp pháp giới .
Ngài
Duy-Nghiễm tự đưa sự việc của chính mình ra làm phương
tiện khai thị (chỉ là để che mắt, cũng là một cách nói
đầy thách đố, khiến cho những người thượng căn, thượng
trí không khỏi có chỗ nghi ngờ, trăn trở mà tự hỏi đi,
hỏi lại chính mình, cũng là một cách tham thiền để tự
khai ngộ), vừa là lời cảnh báo bằng một hình ảnh
hóm hỉnh, nhưng ý nghĩa chứa đựng lại không kém phần nghiêm
khắc, pha lẫn chút miệt thị đối với những người nặng
chấp kiến văn (đại ý: -các ông mà xem thì vật dẫu
dày như da trâu cũng thủng!). Một câu nói ví bình dị,
mộc mạc nhưng tác dụng lại thật tích cực, có ý nhắc
nhở, cảnh giác rằng ngôn ngữ, văn tự, dù là lời của
Tổ, Phật đi nữa, thì cũng chỉ là phương tiện tạm mượn
để khai tâm mở trí, còn tự giác ngộ bổn tánh tự tại
giải thoát mới là cứu cánh tối hậu. Thế nên, qua câu nói
ví ở trên, ai dám bảo các Thiền sư khô khan, nghiêm nghị,
không thích đùa? Ngài Duy-Nghiễm đùa ngầm ấy chứ.
Ngài đùa mà như thật. Vì suy cho cùng, trong cõi này cái gì
là chẳng phải như thật, như đùa.
Nếu
những ai đại duyên, đại phước-đức nhờ những câu nói
như thật, như đùa ấy mà tự vượt thoát sự trói buộc
của bản ngã, như con chim tự phá lồng tung cánh, tức tự
bừng sáng tánh biết bổn lai, thì cứ tự nhiên nhảy cẫng
hét to lên hay tủm tỉm cười thầm một mình thì cũng chẳng
ai trách cứ, vì nếu đã như thế thì có ai vào đây
cùng mình dính dấp, can hệ.
Cho
nên, sở dĩ Ngài tự cho mình được phép xem kinh, mà không
vội cho các đệ tử của mình xem, đó chẳng qua là vì, một
đàng đã thức tỉnh, tức đã bừng tỉnh cơn mê và đang
trong trạng thái hoàn toàn tỉnh thức, sáng suốt, tự tại,
khách chủ phân minh, không gì hệ luỵ; còn một đàng thì
đang ngủ mê, chấp cảnh mộng làm thật, lẫn lộn thiệt
giả, khách chủ đảo ngược, trói buộc nhơn quả nên người
tỉnh cần phải biết cảnh giác mọi tình huống để dẫn
dắt người trong mộng ra khỏi cơn mê. Một khi đã chợt tỉnh,
tức chỗ thấy biết cùng các Ngài không khác, thì lúc ấy
dẫu muốn làm gì thì các Ngài cũng không ngăn cản. Cho nên,
một người đang trong trạng thái tỉnh thức, sự sự vật
vật đến đi, qua lại trước mắt đều không dính dấp tới
người ấy, vì người ấy tự biết như thật ai là chủ,
ai là khách, gì giả, gì chơn. Tự biết như thật mình là
chủ, là tỉnh thức, là tự tại, sáng suốt, thì sự sự
vật vật đến đi trong ta, xảy sanh trước mắt ta chẳng khác
những khóm mây nổi trôi, tụ tán, biến hiện, mất còn mà
không can hệ tới bầu trời, không làm cho bầu trời trong
veo, bất biến, không một vật kia suy suyển một chút nào
(phải hiểu giùm, dẫu nói đến từ "chơn thật" hay "không
chơn" cũng chỉ là cách mượn từ tạm gọi, vì tánh biết
tuyệt "một", không có "cái hai, cái khác" để so sánh, thì
ai vào đây cùng nó đối đãi mà nói giả, nói chơn. Cho nên,
nếu còn thấy có chỗ chơn, giả phân biệt là còn hệ luỵ
nhơn quả, tức cái chơn kia vẫn còn là cái chơn "giả" được
định danh định tính bằng khái niệm giả lập, chỗ tiến
tới cái chơn thiệt trăm phần (nhứt như) thì còn trong trạng
thái gãi ngứa ngoài giày, ngàn trùng xa cách, còn đủ bốn
tướng sanh diệt. Tới được chỗ hoàn toàn chơn thiệt thì
phi giả, phi chơn, bặt ngôn ngữ, tuyệt vô đối đãi, biết
rõ ràng mà nói không thể tới).
Ví
như bầu trời trong ngần, vô biên, vô hạn lượng kia, tuyệt
một, vẫn luôn là vậy, vô thỉ chung, chưa từng sanh, chưa
từng diệt, chưa từng thêm, chưa từng bớt, không sạch không
nhơ, chơn thường vắng lặng, bất động, như như, chưa từng
thốt lên một lời nào. Ngàn vạn máy bay dọc ngang gầm rú,
xả khói phun hơi réo gọi ầm ầm, chợt đến chợt đi trong
khoảnh khắc rồi thôi, không trung chẳng lưu dấu tích; ngàn
vạn đại bác bắn vào không trung như khách viếng chủ, thoáng
chốc rồi mất hút, tất cả cùng qua đi, trả lại sự thanh
tịnh, vắng lặng cho bầu trời nguyên thuỷ. Bầu trời tạm
ví như chủ, vạn sự vạn vật dưới gầm trời, trong không,
từ trái đất tới mặt trời, mặt trăng, tinh tú, các loài
trong các cõi, hiện đó rồi biến đó, sanh đó rồi diệt
đó, thành đó rồi hoại đó, đến đi mất còn trong nó, tất
thảy đều như là khách của không gian vô tận, mà với nó
thì cứ tự như, không chỗ trói buộc.
Tâm
thể chúng ta cũng tạm ví như thế. Nói tâm thể ta nhưng thật
ra không có ta và tâm thể "phân biệt" trong đây, nghĩa là
ta và nó (bản thể chơn thật) thiệt chẳng phải hai, chẳng
phải khác, cũng không phải một, mà "nhứt như", thông lưu,
xuyên suốt. Từng phút, từng sát na nó ra vào trên mặt mà
chẳng chướng ngại với cái tướng huyễn sanh huyễn diệt
này. Đó chính là chỗ linh diệu, huyền mầu của tánh
Phật chúng sanh, mà "ta" bằng xương bằng thịt ở đây là
dụng của nó, là một pháp trong muôn vạn ức triệu pháp
tuỳ duyên sanh diệt từ một pháp duy nhất bất biến chơn
thường. "Ta"duyên sanh từ tánh diệu của bản thể chơn không,
mất còn, biến hiện trong tánh diệu của bản thể chơn không.
Tự tâm vắng lặng, không một niệm sanh, là lúc thể và dụng
gần gũi, mà tự ta "trong ấy" biết như thật, nghĩa là cái
biết của tri thức sanh diệt và tánh biết chơn thường thông
lưu nhau, chỉ láy cái biết vượt trên thức biết một chút,
cũng là trực giác mạnh mẽ, thì có thể trực ngộ chơn ngã,
tức thức tỉnh, liền biết không lầm, vạn pháp là ta, biến
hiện mất còn cũng chính trong ta mà không chỗ dính dấp tới
"thật ta" bất biến, chơn thường hay sanh các pháp.
Tới
đây thì chắc ai trong chúng ta cũng đều có thể trả lời
giùm câu hỏi của người bạn đạo ở trên, vì sao cái người
đứng nhìn hoa kia, tu Thiền mà tay còn thường lần chuỗi
như người niệm Lục tự Di-đà. Bỡi một lẽ dễ hiểu,
cái kẻ cầm chuỗi kia, đạo học còn non kém, niệm mê còn
nhiều hơn lúc tỉnh, nên anh ta mới phải nhờ tới cái phương
tiện gần gũi nhất, đơn giản nhất là xâu chuỗi để tự
nhắc nhở mình nên khéo tỉnh thức, cũng là cách tự canh
chừng cái con khỉ thông minh, trí trá, năng động, tham lam,
sân giận, không cho nó buông tuồng theo bản ngã, cũng tức
là kéo dài tỉnh thức, không cho sự tỉnh thức gián đoạn.
Nghĩa là, gìn giữ sự tỉnh thức, không lìa thực tại tuyệt
đối, cũng là sống trọn trong chánh niệm như nhứt chơn không,
vô ngã vô pháp, sáng suốt không lầm nhơn quả, cũng là không
lìa tự tánh thanh tịnh, tức giải thoát tâm "đang-là", "một"
đồng khắp pháp giới, bình đẳng, viên dung, an nhiên tự
tại .
Pháp
Phật cao sâu, nhiệm mầu, vi diệu.